Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong các nền văn hóa, kết hôn là sự kiện xã hội và tâm lý quan trọng đối với đa số người trưởng thành. Việc xây dựng một đời sống hôn nhân hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của mỗi cá nhân. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định giá trị tích cực của mối quan hệ hôn nhân đối với sức khỏe thể chất (Rosen-Grandon, Myers, và Hattie, 2004) và sức khỏe tinh thần (Woods, Priest, Signs, và Maier, 2018; Lawrence, Rogers, Zajacova và Wadsworth, 2018). Hôn nhân hạnh phúc góp phần định hình nhận thức về ý nghĩa và bản sắc cá nhân (Rosen-Grandon và cộng sự, 2004). Mối quan hệ vợ chồng giữ vị trí trung tâm trong hệ thống gia đình, chi phối bầu không khí gia đình (Crosbie-Burnett, 1984), là nguồn lực tình cảm cho sự phát triển của con cái (Sweeney và Replogle, 2002) và tác động xuyên thế hệ đến chất lượng hôn nhân của thế hệ tương lai (Kerr và Bowen, 1988).

Tại Việt Nam, bối cảnh thực tế cho thấy hiện tượng ly hôn đang gia tăng. Số liệu sơ bộ từ Tổng cục Thống kê ghi nhận năm 2018 có 28.000 vụ ly hôn được xét xử (trung bình 77 vụ mỗi ngày), chưa tính các trường hợp đang ly thân, bất hòa hoặc nộp đơn ly hôn. Sự tan rã hôn nhân dẫn đến nhiều hệ lụy cho cá nhân, sự phát triển của trẻ em và sự ổn định của xã hội. Việc thúc đẩy đời sống hôn nhân hạnh phúc là giải pháp trực tiếp giúp giảm thiểu nguy cơ ly hôn.

Về mặt khoa học, những biến đổi kinh tế - xã hội hiện nay đã dẫn đến sự thay đổi rõ rệt trong vai trò thực hiện chức năng gia đình của người vợ và người chồng. Tuy nhiên, vấn đề này chủ yếu được tìm hiểu dưới góc độ xã hội học, kinh tế học, văn hóa học; các nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân tại Việt Nam còn ít. Do đó, luận án tiến hành hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo cứu thực tiễn nhằm làm rõ thực trạng cùng các yếu tố chi phối cảm nhận hạnh phúc hôn nhân của vợ chồng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, qua đó đề xuất một số kiến nghị giúp vợ và chồng chung sống hạnh phúc.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành ba nội dung:

  1. Nghiên cứu lý luận: Tổng quan các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng; xây dựng khung lý luận về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân và các yếu tố tác động.
  2. Nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng cảm nhận hạnh phúc hôn nhân; tìm hiểu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng.
  3. Kiến nghị: Đề xuất một số kiến nghị hướng đến việc xây dựng đời sống hôn nhân hạnh phúc hơn.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập 6 giả thuyết nghiên cứu chính và 6 giả thuyết cụ thể:

  • H1: Nhìn chung, mọi người có xu hướng cảm thấy khá hạnh phúc trong đời sống hôn nhân.
  • H2: Trải nghiệm hạnh phúc hay bất hạnh trong hôn nhân đều liên quan đến các sự kiện tinh thần.
  • H3: Các cảm xúc trải nghiệm trong đời sống hôn nhân là đa dạng, trong đó trải nghiệm cảm xúc dương tính nhiều hơn âm tính. Các cuộc hôn nhân hạnh phúc liên quan đến trải nghiệm cảm xúc dương tính, và những cuộc hôn nhân bất hạnh liên quan đến trải nghiệm cảm xúc âm tính.
  • H4: Cảm nhận hạnh phúc hôn nhân bị ảnh hưởng bởi cả 3 nhóm yếu tố, trong đó nhóm yếu tố tâm lý có vai trò quan trọng hơn đối với hạnh phúc hôn nhân.
  • H5: Từng yếu tố tâm lý (tình cảm, hài lòng tình dục, tương tác) có thể tác động đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân thông qua hai yếu tố còn lại:
    • H5.1: Tình cảm là biến số trung gian trong tác động của hài lòng tình dục đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
    • H5.2: Tình cảm là biến số trung gian trong tác động của tương tác đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
    • H5.3: Tương tác là biến số trung gian trong tác động của hài lòng tình dục đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
    • H5.4: Tương tác là biến số trung gian trong tác động của tình cảm đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
    • H5.5: Hài lòng tình dục là biến số trung gian trong tác động của tương tác đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
    • H5.6: Hài lòng tình dục là biến số trung gian trong tác động của tình cảm đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
  • H6: Mô hình cảm nhận hạnh phúc hôn nhân ở mỗi đối tượng khách thể (về giới tính, nhóm tuổi, điều kiện sống và độ dài hôn nhân) là đa dạng về khả năng tác động của các yếu tố. Tuy nhiên, yếu tố tâm lý luôn đóng vai trò nổi bật ở mỗi mô hình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mức độ cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tiếp cận hạnh phúc hôn nhân theo hướng chủ quan (từ đánh giá của chủ thể). Yếu tố ảnh hưởng được giới hạn trong 3 nhóm: (1) Nhóm đặc điểm nhân khẩu - xã hội cá nhân và đặc điểm cuộc hôn nhân (giới tính, tuổi, học vấn, tôn giáo, số lượng con, độ dài hôn nhân, mức sống gia đình, tương đồng thu nhập giữa vợ và chồng); (2) Nhóm yếu tố hoạt động chung của vợ chồng trong gia đình (phân công việc nhà, tham gia lao động kiếm sống, quyền ra quyết định, hoạt động giải trí chung, thời gian riêng cho nhau); (3) Nhóm yếu tố tâm lý (đời sống tình cảm, sự hài lòng tình dục, sự thể hiện tương tác).
  • Phạm vi khách thể và địa bàn: Khách thể nghiên cứu là cá nhân người vợ hoặc người chồng đang trong tình trạng hôn nhân (không khảo sát theo cặp đôi). Địa bàn nghiên cứu được thực hiện tại ba tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Nam Định và Đắk Lắk.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước trong y văn

Tác giả tổng quan y văn quốc tế và trong nước trên hai phương diện chính: cấu trúc hạnh phúc hôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng.

Về cấu trúc hạnh phúc hôn nhân, y văn chia thành hai xu hướng:

  • Hướng tiếp cận đa chiều cạnh: Coi hạnh phúc hôn nhân cấu thành từ nhiều khía cạnh cụ thể. Spanier (1976) đưa ra 4 thành phần: sự đồng thuận, sự hài lòng, sự gắn kết và sự thể hiện tình cảm. Hollingworth, Terman và Kelly (1939) đo lường qua lợi ích chung, bất đồng và giải quyết bất đồng, thái độ với hôn nhân và bạn đời, bất bình gia đình, cùng ước lượng chủ quan. Canel (2013) đề xuất 5 thành phần: hòa hợp hôn nhân, tức giận, hiểu biết kinh tế và nuôi dạy con cái. Abraham và Hildegarde (2001) xác định 10 khía cạnh bao gồm đặc điểm bạn đời, trách nhiệm vai trò, giao tiếp, giải quyết xung đột, tài chính, thời gian rảnh rỗi, tình dục, trách nhiệm làm cha mẹ, quan hệ gia đình/bạn bè và tôn giáo. Locke và Wallace (1959), Funk và Rogge (2007), Anderson, Van Ryzin và Doherty (2010), cùng Lê Thị Thanh Hương (2018 với 3 thành phần: hòa hợp, cam kết, thừa nhận) cũng phát triển các cấu trúc đa chiều cạnh tương tự.
  • Hướng tiếp cận một chiều cạnh: Đo lường qua đánh giá chung về mối quan hệ hoặc đánh giá trực tiếp mức độ hạnh phúc. Hướng này bao gồm đánh giá đa mục (Nazarinia, Schumm, và White, 2009; Chung, 2004) và đánh giá một mục (single-item) với câu hỏi trực tiếp (Glenn và Weaver, 1981; Schoen, Astone, Kim, Rothert và Standish, 2002; Waite, Luo và Lewin, 2009; Phan Thị Mai Hương, Đặng Thị Thu Trang, Đỗ Thị Lệ Hằng, Phạm Phương Thảo, 2018; Lê Thị Thanh Hương, 2018). Các tác giả Johnson (1995) và Waite và cs. (2009) chỉ ra rằng thang đo một mục có tương quan rất cao với thang đo đa chiều cạnh (hệ số r = 0,81) và thể hiện tính ổn định cao theo thời gian.

Về thực trạng cảm nhận hạnh phúc hôn nhân: Các công trình quốc tế của Kamo (1993) tại Mỹ và Nhật Bản, hay Sorokowski và cs. đều chỉ ra điểm trung bình hạnh phúc hôn nhân luôn nằm trên mức trung bình của thang đo. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Lưu Thị Lịch (2019), Nguyễn Thị Hoa (2017), Lê Việt Nga (2014) và Nguyễn Hà Đông (2015) cũng ghi nhận phần lớn người dân đánh giá mức độ hài lòng và hạnh phúc hôn nhân ở mức khá cao.

Về các yếu tố ảnh hưởng, tác giả tổng hợp ba nhóm:

  • Nhóm nhân khẩu - xã hội và đặc điểm hôn nhân: Giới tính ghi nhận kết quả trái chiều giữa các tác giả tìm thấy sự khác biệt như Amato và cs. (2007), Shen (2002), Whiteman, McHale và Crouter (2007) so với các tác giả không tìm thấy khác biệt như Broman (2005), Gilford và Bengtson (1979), Gager và Sanchez (2003), và phân tích meta của Jackson, Miller, Oka và Henry (2014). Về học vấn, tồn tại quan điểm học vấn cao làm tăng nguy cơ ly hôn (Houseknecht và Spanier, 1980; Kalmijn, 1999) đối lập với quan điểm học vấn cao giúp giảm ly hôn và gắn kết hơn (Heaton, 2002; Jose và Alfons, 2007), hoặc không có tương quan (Alder, 2010; Glenn và Weaver, 1978). Về tôn giáo, đa số nghiên cứu khẳng định tác động tích cực (Ellison, 1991; Frad, Shahabi, và Zardkhaneh, 2013; Mahoney, Pargament và Jewell, 1999; Kenna, 1961), dù Booth, Johnson, Branahan và Sica (1995) ghi nhận rất ít liên hệ. Về thời gian hôn nhân, có xu hướng ổn định (Johnson và Talitman, 1997; Ghoroghi, Hassan, và Baba, 2015), suy giảm theo thời gian (Kamp Dush, Taylor và Kroeger, 2008; Jansen, Troost, Molenberghs, Vermulst, và Gerris, 2006; Umberson, Williams, Powers, Chen, và Campbell, 2005; Đỗ Ngọc Khanh và Weiss, 2017), hoặc biến đổi phi tuyến hình chữ U (Gorchoff, John, và Helson, 2008; Kapinus và Johnson, 2003; Peleg, 2008). Về số con, các nghiên cứu chỉ ra tác động tiêu cực do áp lực và xung đột vai trò (Doss, Rhoades, Stanley, và Markman, 2009; Ghahremani, Doulabi, Eslami, và Foumani, 2017; Lavee và Sharlin, 1996; Twenge, Campbell, và Foster, 2003), nhưng trong văn hóa phi phương Tây lại có tác động tích cực hoặc ổn định hôn nhân (Onyishi, Sorokowski, Sorokowska, và Pipitone, 2012; Xu, Yu, và Qiu, 2015). Về điều kiện sống, thu nhập thấp đe dọa sự ổn định nhưng thu nhập quá cao không đồng nghĩa với hạnh phúc cao hơn (Lichter và Carmalt, 2009; Lacy, 1998; Mott và Moor, 1977).
  • Nhóm hoạt động chung của vợ chồng: Sự công bằng trong phân chia việc nhà tác động thuận chiều đến sự hài lòng, đặc biệt ở người vợ (Coltrane, 2000; Grote và Clarke, 2001; Stevens, Kiger, và Mannon, 2005; Dillaway và Broman, 2001; Oshio, Nozaki và Kobayashi, 2013; Nguyễn Minh Hà, 2017). Tác động từ thu nhập của người vợ ghi nhận kết quả không ảnh hưởng (Rogers, 1999), tiêu cực (Kalmijn, Loeve và Manting, 2007; Rogers, 2004; Furdyna, Tucker, và James, 2008), hoặc tích cực (Rogers và Deboer, 2001; Sayer và Bianchi, 2000; Voydanoff, 1990; Zhang và Tsang, 2013).
  • Nhóm yếu tố tâm lý: Đời sống tình cảm đồng nhất mang lại tác động tích cực đến sự bền vững hôn nhân (Carstensen, Gottman, và Levenson, 1995; Plechaty, Courturiers, Cote và Roy, 1996; Smith, Vivian và O'Leary, 1990; Pasch và Bradbury, 1998; Adigeb và Mbua, 2015; Rosen-Grandon và cs., 2004; Wilmoth, Blaney và Smith, 2015; Waters, 2014; Waldinger, Schulz, Hauser, Allen và Crowell, 2004; Schoenfeld, Loving, Pope, Huston, và Štulhofer, 2016; Johnson và cs., 2005; Mondor, McDuff, Lussier, và Wright, 2011; Kim, 2013; Đỗ Thị Lệ Hằng, Phan Thị Mai Hương, Đặng Thị Thu Trang và Phạm Phương Thảo, 2018; Lê Việt Nga, 2014). Tương tác tích cực, giao tiếp chia sẻ và giải quyết xung đột hợp tác giúp tăng hạnh phúc hôn nhân (Robinson và Blanton, 1993; Donnelly, 1993; Miller, 1976; Markman, 1981; Gottman và Krokoff, 1989; Armenta-Hurtarte, Sánchez-Aragón, 2014; Schmitt, Kliegel và Shapiro, 2007; Greeff và De Bruyne, 2000; Cramer, 1999; Đặng Thị Thu Trang, Phan Thị Mai Hương, Đỗ Thị Lệ Hằng và Phạm Phương Thảo, 2018; Lê Thị Thanh Hương, 2018). Đời sống tình dục thỏa mãn tương quan thuận chặt chẽ với hạnh phúc hôn nhân (McNulty, Wenner, và Fisher, 2016; Rahmani, Khoei và Gholi, 2009; Ziaei và cộng sự, 2014; Nezhad và Goodarzi, 2011; Kim, 2013; Cao, Zhou, Fine, Li, và Fang, 2019).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

  1. Các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc hôn nhân trên mẫu khách thể Việt Nam còn hạn chế; phần lớn công trình trước đây tập trung vào từng khía cạnh riêng lẻ mà chưa khảo cứu toàn diện tác động đồng thời của 3 hệ thống yếu tố: tâm lý, hoạt động chung trong gia đình, và đặc điểm nhân khẩu - hôn nhân.
  2. Chưa có công trình nào kiểm tra vai trò trung gian tương hỗ giữa các biến số tâm lý (tình cảm, tình dục, tương tác) trong cơ chế tác động đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
  3. Phần lớn tài liệu y văn xuất phát từ các nước phương Tây; việc kiểm chứng trên mẫu khách thể Việt Nam giải quyết khoảng trống dữ liệu thực nghiệm tại một nền văn hóa mang tính cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

Về khái niệm hạnh phúc, luận án phân tích hai trường phái lý thuyết chính theo hệ thống hóa của Haybron (2008, 2011):

  • Tiếp cận chủ quan (hedonic well-being): Nhìn nhận hạnh phúc là trạng thái tâm trí, biểu hiện qua sự hiện diện của cảm xúc dễ chịu, thái độ tích cực và sự hài lòng với cuộc sống (Diener, 1984; Diener, Emmons, Larsen và Griffin, 1985; Diener, Scollon và Lucas, 2009; Tov và Diener, 2009). Tiêu chuẩn hạnh phúc do chính cá nhân đặt ra và so sánh với trải nghiệm thực tế.
  • Tiếp cận khách quan (eudaimonic well-being): Nhìn nhận hạnh phúc là quá trình sống có giá trị, lành mạnh và thực hiện tốt các chức năng tâm lý tích cực. Đại diện tiêu biểu là Ryff (1989, 2014; Ryff và Singer, 2006) với mô hình hạnh phúc tâm lý gồm 6 thành phần: tự chủ, mối quan hệ tích cực, làm chủ môi trường sống, tự chấp nhận, sống có mục đích và phát triển cá nhân. Deci và Ryan (2008), Ryan và Deci (2001, 2002), Ryan, Huta và Deci (2008) tiếp cận theo Thuyết tự quyết (Self-Determination Theory - SDT) gồm 4 thành phần hành vi và thỏa mãn nhu cầu nội tại.
  • Tiếp cận tích hợp: Keyes (2002) đưa ra khái niệm thịnh vượng (Flourishing), và Seligman phát triển mô hình PERMA (dẫn theo Van Zyl, 2013).

Tác giả luận án lựa chọn hướng tiếp cận chủ quan dựa trên ba luận điểm:

  1. Mối liên hệ thực nghiệm: Hạnh phúc chủ quan và hạnh phúc khách quan có mối tương quan rất cao về mặt dữ liệu thống kê (Waterman, Schwartz và Conti, 2008; Gallagher, Lopez, và Preacher, 2009; Linley, Maltby, Wood, Osborne và Hurling, 2009; Disabato, Goodman, Kashdan, Short và Jarden, 2016).
  2. Tính thống nhất khái niệm: Tiếp cận chủ quan có sự thống nhất cao về bản chất nhận thức - cảm xúc, trong khi tiếp cận khách quan thiếu thống nhất về số lượng và nội hàm các thành tố cấu thành.
  3. Vị trí biến số trong mô hình nghiên cứu: Các khía cạnh của tiếp cận khách quan (mối quan hệ, sự tự chủ, tiềm năng) được nhìn nhận là điều kiện tiền đề, tức các biến số độc lập dự báo cho cảm nhận hạnh phúc chủ quan (Kashdan và cộng sự, 2008; Ryan và Deci, 2001).

Về khái niệm hôn nhân và cảm nhận hạnh phúc hôn nhân:

  • Hôn nhân: Dựa trên Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam (2014) và quan điểm Tâm lý học Gia đình của Ngô Công Hoàn (1993), hôn nhân là sự liên kết bình đẳng, tự nguyện giữa hai người khác giới nhằm thực hiện các chức năng gia đình và đáp ứng nhu cầu tình cảm, tính dục. Đời sống hôn nhân chỉ tập trung phản ánh quan hệ tương tác trực tiếp giữa vợ và chồng.
  • Cảm nhận hạnh phúc hôn nhân: Dựa trên trường phái "Feeling" (Glenn, 1990; Hicks và Platt, 1970; Fincham, 2009; Roach, Frazier, và Bowden, 1981; Gilford và Bengtson, 1979; Burr, Leigh, Day và Constantine, 1979; Burgess, Harvey và Mary, 1963; Lively, 1969; Norton, 1983; Schoen và cs., 2002; VanLaningham và cs., 2001; Fashiya, 2017), luận án xác định: Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân là sự đánh giá, định lượng chủ quan của người vợ hoặc người chồng về toàn bộ cuộc hôn nhân mà họ đang trải nghiệm.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Nguyên tắc phương pháp luận: Nghiên cứu tuân thủ Nguyên tắc hoạt động (hiện tượng tâm lý nảy sinh trong quá trình hoạt động chung và thực hiện các chức năng gia đình) và Nguyên tắc hệ thống (cảm nhận hạnh phúc được đặt trong hệ thống tương tác qua lại giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài cuộc hôn nhân).

  • Thao tác hóa đo lường: Hạnh phúc hôn nhân được nhìn nhận theo cấu trúc đơn thành phần, đo lường bằng thang đo một mục (single-item) với 11 bậc (từ điểm 0 = hoàn toàn không hạnh phúc đến điểm 10 = rất hạnh phúc). Thang đo đa mục cũng được sử dụng song song để kiểm chứng độ tin cậy và so sánh đối chiếu.

  • Các phương pháp cụ thể:

    1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các nguồn lý luận và y văn.
    2. Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các chuyên gia tâm lý học để định hình khung lý luận và hoàn thiện công cụ đo lường.
    3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu định tính nhằm làm rõ các trải nghiệm và minh chứng cho số liệu định lượng.
    4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu định lượng qua các câu hỏi đóng và dữ liệu định tính qua câu hỏi mở; trong đó số liệu định lượng giữ vai trò nòng cốt.
    5. Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu định lượng được phân tích thống kê trên phần mềm SPSS phiên bản 23 (thống kê mô tả, kiểm định khác biệt t-test và ANOVA, phân tích tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính đa biến, phân tích vai trò biến trung gian). Dữ liệu định tính từ câu hỏi mở và phỏng vấn sâu được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm Excel.
  • Nguồn dữ liệu và mẫu khảo sát: Dữ liệu được thu thập từ mẫu khách thể là các cá nhân người vợ hoặc người chồng tại ba địa bàn nghiên cứu: Đà Nẵng, Nam Định và Đắk Lắk.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân

Chương 1 hệ thống hóa các hướng tiếp cận nghiên cứu về hạnh phúc hôn nhân trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt cấu trúc, tác giả chỉ rõ sự tồn tại của hai khuynh hướng: đa chiều cạnh (tập trung vào các lĩnh vực cụ thể như tài chính, tình dục, nuôi dạy con, giải quyết xung đột) và một chiều cạnh (tập trung vào cảm nhận tổng thể của cá nhân thông qua thang đo đa mục hoặc đơn mục). Phân tích y văn chứng minh thang đo đơn mục có tính giá trị tương đương thang đa mục nhưng tối ưu hóa được nguồn lực điều tra. Về mặt thực trạng, đa số các công trình quốc tế và trong nước ghi nhận mức độ hạnh phúc/hài lòng hôn nhân ở mức khá cao. Về các yếu tố ảnh hưởng, chương phân loại và phân tích chi tiết tác động của ba nhóm: nhóm nhân khẩu - xã hội và đặc điểm hôn nhân, nhóm hoạt động chung giữa vợ chồng, và nhóm yếu tố tâm lý (tình cảm, tương tác, tình dục). Tác giả kết luận rằng các yếu tố nhân khẩu và hoạt động chung cho kết quả biến thiên tùy thuộc vào mẫu và bối cảnh văn hóa, trong khi nhóm yếu tố tâm lý thể hiện ảnh hưởng ổn định và trực tiếp nhất đến hạnh phúc hôn nhân.

Chương 2: Cơ sở lý luận về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ đề tài. Tác giả đi sâu phân tích hai trường phái tiếp cận hạnh phúc: chủ quan (hedonic) và khách quan (eudaimonic), đồng thời phân tích tính tích hợp qua các mô hình thịnh vượng. Thông qua ba luận điểm về tính tương quan số liệu, tính thống nhất về định nghĩa và vị trí biến số dự báo, tác giả lựa chọn hướng tiếp cận chủ quan để thao tác hóa khái niệm. Luận án định nghĩa hôn nhân dưới góc độ Tâm lý học Gia đình là mối quan hệ tương tác trực tiếp giữa hai cá nhân vợ và chồng nhằm đáp ứng các nhu cầu tình cảm, tình dục và chức năng xã hội. Cảm nhận hạnh phúc hôn nhân được định nghĩa là sự đánh giá chủ quan của mỗi cá nhân đối với toàn bộ đời sống hôn nhân của chính họ. Chương 2 cũng xây dựng khung lý thuyết luận giải cơ chế tác động của ba nhóm yếu tố (nhân khẩu - hôn nhân, hoạt động chung của vợ chồng, và đời sống tâm lý vợ chồng) đến mức độ cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình thiết kế nghiên cứu, tổ chức khảo sát và các công cụ đo lường. Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính trên khách thể là người vợ hoặc người chồng tại ba địa bàn đại diện: Đà Nẵng, Nam Định và Đắk Lắk. Các thang đo trong bảng hỏi được kiểm định độ hiệu lực cấu trúc và độ tin cậy Cronbach's Alpha. Thang đo cảm nhận hạnh phúc hôn nhân chính là thang đo một mục 11 bậc (0 đến 10), đối chiếu với thang đo đa mục. Quy trình xử lý dữ liệu được thiết lập chặt chẽ trên phần mềm SPSS 23 với các kỹ thuật thống kê mô tả, kiểm định khác biệt trung bình, hồi quy tuyến tính từng bước và phân tích kiểm định vai trò biến trung gian.

Bảng dưới đây tổng hợp cấu trúc tổ chức dữ liệu và các phân tích thực nghiệm trong nghiên cứu:

Nhóm nội dung Danh mục bảng dữ liệu trong luận án Nội dung chỉ báo và kỹ thuật phân tích
Mẫu và công cụ đo lường (Chương 3) Bảng 3.1 - Bảng 3.6 Phân bố khách thể theo địa bàn (Đà Nẵng, Nam Định, Đắk Lắk), đặc điểm tôn giáo, đặc điểm nhân khẩu; độ hiệu lực cấu trúc, độ tin cậy Cronbach's Alpha và thông số thống kê của các thang đo.
Thực trạng cảm nhận hạnh phúc (Chương 4) Bảng 4.1 - Bảng 4.7 Thông số thống kê thang đo một mục và đa mục; tần suất các sự kiện hạnh phúc và phiền lòng; khác biệt cảm nhận hạnh phúc theo trải nghiệm cảm xúc âm tính và dương tính.
Tác động của nhân khẩu và đặc điểm hôn nhân (Chương 4) Bảng 4.8 - Bảng 4.10 Khác biệt hạnh phúc theo giới tính, tuổi, học vấn, tôn giáo, số con, độ dài hôn nhân; mô hình hồi quy tuyến tính các biến số nhân khẩu và đặc điểm cuộc hôn nhân.
Tác động của hoạt động chung (Chương 4) Bảng 4.11 - Bảng 4.13 Khác biệt hạnh phúc theo sự tương đồng thực hiện chức năng gia đình, hoạt động giải trí chung; mô hình hồi quy tuyến tính hoạt động chung dự báo hạnh phúc hôn nhân.
Tác động của yếu tố tâm lý (Chương 4) Bảng 4.14 - Bảng 4.15 Khác biệt giữa nhóm hạnh phúc và không hạnh phúc về đời sống tâm lý; mô hình hồi quy tuyến tính của nhóm yếu tố tâm lý (tình cảm, tương tác, tình dục) dự báo hạnh phúc.
Mô hình dự báo tổng hợp (Chương 4) Bảng 4.16 - Bảng 4.18 Mô hình hồi quy tuyến tính của cả ba nhóm yếu tố; mô hình có khả năng dự báo tốt nhất cho hạnh phúc hôn nhân; tổng hợp các yếu tố xây dựng hôn nhân hạnh phúc.
Kiểm định vai trò biến trung gian (Chương 4) Bảng 4.19 - Bảng 4.24 Hệ số tác động của 6 mô hình biến trung gian: vai trò trung gian của tình cảm, tình dục và tương tác trong các mối quan hệ tác động chéo đến hạnh phúc hôn nhân.
Mô hình hóa theo nhóm đối tượng (Chương 4) Bảng 4.25 - Bảng 4.28 So sánh mô hình hồi quy dự báo hạnh phúc hôn nhân phân theo giới tính (nam/nữ), độ tuổi, điều kiện sống gia đình và độ dài hôn nhân.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được từ quá trình khảo sát:

  • Thực trạng: Phân tích phân bố điểm của thang đo một mục và đa mục cho thấy mức độ cảm nhận hạnh phúc của khách thể nghiên cứu ở mức khá cao, ủng hộ giả thuyết H1. Trải nghiệm sự kiện tinh thần giữ vai trò chủ đạo trong việc đem lại cảm giác hạnh phúc hoặc gây phiền lòng (ủng hộ giả thuyết H2). Tần suất xuất hiện cảm xúc dương tính cao hơn cảm xúc âm tính; nhóm hạnh phúc có mức độ trải nghiệm cảm xúc dương tính vượt trội, trong khi nhóm không hạnh phúc gắn liền với cảm xúc âm tính (ủng hộ giả thuyết H3).
  • Ảnh hưởng của các nhóm yếu tố: Kết quả phân tích hồi quy đơn lẻ từng nhóm chứng minh cả ba nhóm biến số đều có khả năng dự báo cảm nhận hạnh phúc hôn nhân. Khi đưa đồng thời cả ba nhóm vào mô hình hồi quy chung, nhóm yếu tố tâm lý (tình cảm, tương tác, tình dục) thể hiện sức mạnh dự báo vượt trội so với nhóm hoạt động chung và nhóm nhân khẩu (ủng hộ giả thuyết H4).
  • Phân tích vai trò trung gian: Các mô hình kiểm định biến trung gian từ Bảng 4.19 đến Bảng 4.24 xác nhận sự tồn tại của cơ chế tác động gián tiếp giữa ba thành tố tâm lý. Cụ thể, yếu tố tình cảm đóng vai trò trung gian trong tác động của tình dục và tương tác đến hạnh phúc hôn nhân; ngược lại, tình dục và tương tác cũng giữ vai trò trung gian đối với các thành tố còn lại (ủng hộ các giả thuyết từ H5.1 đến H5.6).
  • Mô hình theo đối tượng: Phân tích hồi quy trên các phân nhóm (giới tính, độ tuổi, điều kiện sống, độ dài hôn nhân) chỉ ra các mô hình dự báo có sự biến thiên về tỷ trọng đóng góp của các biến số thành phần, nhưng yếu tố tâm lý luôn duy trì vai trò nổi bật ở mọi phân nhóm khách thể (ủng hộ giả thuyết H6).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án hệ thống hóa toàn diện các quan điểm lý luận về hạnh phúc và hạnh phúc hôn nhân trong tâm lý học và các khoa học liên ngành.
  2. Làm sáng rõ hai trường phái tiếp cận chủ quan và khách quan; lập luận và chứng minh tính hợp lý của việc sử dụng tiếp cận chủ quan đơn thành phần trong nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc hôn nhân.
  3. Xác lập khung lý luận giải thích mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp giữa ba hệ thống yếu tố (nhân khẩu - hôn nhân, hoạt động chung, tâm lý) đến cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp dữ liệu thực nghiệm có tính hệ thống về thực trạng cảm nhận hạnh phúc hôn nhân, trải nghiệm cảm xúc và các sự kiện chi phối đời sống vợ chồng tại Việt Nam.
  2. Thích ứng và bước đầu chuẩn hóa bộ công cụ đo lường gồm thang đo đơn mục 11 bậc và các thang đo tâm lý hôn nhân, chứng minh độ hiệu lực cấu trúc và độ tin cậy phù hợp với khách thể người Việt Nam.
  3. Chứng minh thực nghiệm vai trò quyết định của nhóm yếu tố tâm lý (tình cảm, tương tác, tình dục) so với nhóm hoạt động chung và nhóm nhân khẩu - xã hội trong việc dự báo hạnh phúc hôn nhân.
  4. Phát hiện và kiểm chứng thực nghiệm cơ chế tác động trung gian đa chiều giữa ba biến số tâm lý: tình cảm, tương tác và tình dục trong mô hình dự báo hạnh phúc hôn nhân.
  5. Xây dựng các mô hình dự báo cảm nhận hạnh phúc hôn nhân đặc thù theo từng nhóm khách thể về giới tính, độ tuổi, điều kiện sống và độ dài hôn nhân.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ứng dụng trong tham vấn và tư vấn tâm lý: Sử dụng kết quả nghiên cứu và bộ công cụ đo lường làm cơ sở đánh giá chất lượng hôn nhân trong các trung tâm tham vấn tâm lý cặp đôi.
  • Xây dựng nội dung can thiệp: Hướng dẫn các cặp vợ chồng chú trọng nuôi dưỡng đời sống tình cảm, rèn luyện kỹ năng tương tác tích cực, chia sẻ và nâng cao chất lượng đời sống tình dục thay vì chỉ tập trung vào các khía cạnh kinh tế hay phân công công việc thuần túy.
  • Định hướng giáo dục tiền hôn nhân: Đưa các phát hiện về sự biến đổi hạnh phúc theo độ dài hôn nhân và các sự kiện tinh thần vào chương trình giáo dục tiền hôn nhân cho thanh niên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  1. Khách thể nghiên cứu được tiếp cận dưới dạng cá nhân người vợ hoặc người chồng riêng lẻ, chưa thực hiện thu thập dữ liệu đồng thời trên các cặp đôi (cả vợ và chồng trong cùng một cuộc hôn nhân) để so sánh chéo góc nhìn.
  2. Phạm vi địa bàn khảo sát được giới hạn tại ba tỉnh, thành phố (Đà Nẵng, Nam Định, Đắk Lắk), chưa bao quát toàn bộ các vùng miền văn hóa khác trên cả nước.
  3. Nghiên cứu thực hiện theo thiết kế cắt ngang tại một thời điểm, chưa theo dõi theo chiều dọc để đánh giá sự biến đổi của cảm nhận hạnh phúc theo tiến trình thời gian thực của các cuộc hôn nhân.

Hướng nghiên cứu tiếp

  1. Mở rộng thiết kế nghiên cứu theo hướng tiếp cận cặp đôi (dyadic data analysis) nhằm đánh giá mức độ tương đồng và khác biệt trong cảm nhận hạnh phúc giữa hai vợ chồng trong cùng một bối cảnh gia đình.
  2. Thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal studies) để theo dõi quỹ đạo thay đổi của cảm nhận hạnh phúc hôn nhân qua các giai đoạn chuyển đổi của gia đình (như giai đoạn mới cưới, sinh con đầu lòng, con cái trưởng thành tách khỏi gia đình).
  3. Mở rộng địa bàn khảo sát sang các khu vực miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long và các nhóm xã hội đặc thù khác để kiểm tra tính đại diện văn hóa.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Tâm lý học, Xã hội học gia đình, Công tác xã hội và Giới học.
  • Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Tâm lý học gia đình, Phương pháp nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm.
  • Các chuyên gia tham vấn, trị liệu tâm lý hôn nhân và gia đình.
  • Các cơ quan hoạch định chính sách dân số, gia đình và Hội Liên hiệp Phụ nữ.

Các phần đáng tham khảo

  • Phần tổng quan lý luận (Chương 2): Cung cấp hệ thống tài liệu làm rõ ranh giới lý luận giữa trường phái tiếp cận chủ quan và khách quan trong nghiên cứu hạnh phúc.
  • Bộ công cụ đo lường (Chương 3): Thang đo một mục 11 bậc đã được kiểm chứng độ ổn định và các thang đo đánh giá tương tác, tình cảm, tình dục trong đời sống vợ chồng.
  • Phân tích thực nghiệm (Chương 4): Quy trình kiểm định hồi quy đa biến và kiểm định vai trò biến trung gian (mediation analysis) trên phần mềm SPSS 23.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa và đo lường cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo hướng tiếp cận nào?

Luận án tiếp cận hạnh phúc hôn nhân từ góc độ chủ quan (thuộc trường phái "Feeling"). Cảm nhận hạnh phúc hôn nhân được định nghĩa là sự đánh giá, định lượng chủ quan của người vợ hoặc người chồng về toàn bộ cuộc hôn nhân mà họ trải nghiệm. Thao tác đo lường chính được thực hiện thông qua thang đo một mục (single-item) với 11 bậc (từ 0 = hoàn toàn không hạnh phúc đến 10 = rất hạnh phúc), đồng thời được đối chiếu kiểm chứng qua thang đo đa mục.

2. Ba nhóm yếu tố nào được tác giả xác định có ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân?

Ba nhóm yếu tố được khảo sát bao gồm:

  • Nhóm đặc điểm nhân khẩu - xã hội cá nhân và đặc điểm cuộc hôn nhân: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo, số lượng con, độ dài hôn nhân, mức sống gia đình và sự tương đồng thu nhập.
  • Nhóm hoạt động chung của vợ chồng trong gia đình: phân công lao động việc nhà, tham gia lao động kiếm sống, quyền ra quyết định trong gia đình, hoạt động giải trí cùng nhau và thời gian dành riêng cho nhau.
  • Nhóm yếu tố tâm lý: đời sống tình cảm, sự hài lòng tình dục và sự thể hiện tương tác giữa vợ và chồng.

3. Cơ chế biến trung gian giữa các yếu tố tâm lý (giả thuyết H5) được thiết lập như thế nào?

Luận án giả thuyết và kiểm định 6 mô hình tác động qua lại giữa ba biến số tâm lý:

  • Tình cảm đóng vai trò trung gian trong tác động của tình dục đến hạnh phúc hôn nhân (H5.1) và trong tác động của tương tác đến hạnh phúc hôn nhân (H5.2).
  • Tương tác đóng vai trò trung gian trong tác động của tình dục đến hạnh phúc hôn nhân (H5.3) và trong tác động của tình cảm đến hạnh phúc hôn nhân (H5.4).
  • Hài lòng tình dục đóng vai trò trung gian trong tác động của tương tác đến hạnh phúc hôn nhân (H5.5) và trong tác động của tình cảm đến hạnh phúc hôn nhân (H5.6).

4. Mẫu khảo sát và địa bàn nghiên cứu thực tiễn của đề tài được lựa chọn ra sao?

Khảo sát thực tiễn được tiến hành trên khách thể là các cá nhân người vợ hoặc người chồng đang trong tình trạng hôn nhân hợp pháp (không khảo sát theo cặp đôi). Địa bàn nghiên cứu được phân bổ tại ba tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng địa lý và đặc điểm nhân khẩu đa dạng gồm: Đà Nẵng, Nam Định và Đắk Lắk.

5. Tại sao tác giả ưu tiên thang đo đơn mục (single-item) thay vì thang đo đa chiều cạnh?

Tác giả dựa trên bằng chứng y văn quốc tế chứng minh rằng thang đo đơn mục có tính nhất quán cao, mức độ tương quan rất chặt chẽ với thang đo đa chiều cạnh (r = 0,81 theo Waite và cs., 2009), đồng thời hệ số dự báo của các biến số độc lập lên hai dạng thang đo này là tương đương nhau. Việc sử dụng thang đo một mục giúp quy trình đo lường diễn ra ngắn gọn, ổn định và dành nguồn lực khảo sát sâu các yếu tố tác động.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Cảm nhận hạnh phúc của vợ chồng trong đời sống hôn nhân" của tác giả Đặng Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Tâm lý học. Bằng việc kết hợp phương pháp định lượng và định tính trên địa bàn ba tỉnh thành phố, luận án đã làm sáng tỏ thực trạng và cơ chế tác động của hệ thống các yếu tố đến cảm nhận hạnh phúc hôn nhân theo hướng tiếp cận chủ quan. Kết quả nghiên cứu xác nhận vai trò trọng tâm của nhóm yếu tố tâm lý và mối quan hệ trung gian giữa tình cảm, tương tác và tình dục. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm có giá trị cho nghiên cứu học thuật và công tác tham vấn hôn nhân - gia đình tại Việt Nam.