MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn ca lâm sàng Tuổi vị thành niên là độ tuổi vô cùng quan trọng, đây là độ tuổi có nhiều sự thay đổi thú vị nhưng cũng đi kèm nhiều thách thức như trở nên độc lập hơn, xác định bản sắc cá nhân, sự tự ý thức, xây dựng các mối quan hệ mới (Rutter và Rutter, 1993). Điều này khiến đời sống tâm lý hay chính là sức khỏe tâm thần của vị thành niên gặp nhiều vấn đề hơn những giai đoạn khác. Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO) (WHO, 2021) cũng công bố số liệu cứ bảy người thì có một người (tương đương 15%) ở độ tuổi 10 - 19 gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần.
Tuy nhiên, tình trạng này phần lớn chưa được nhận biết và điều trị kịp thời. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2022), một cuộc khảo sát điều tra sức khỏe tâm thần vị thành niên đã diễn ra với kết quả phỏng vấn 5.996 cặp cha mẹ - vị thành niên, kéo dài từ tháng 9/2021 đến tháng 12/2021, với sự tham gia của 127 điều tra viên thực hiện việc thu thập dữ liệu ở 38 tỉnh, thành phố. Báo cáo chỉ ra trong 12 tháng thực hiện khảo sát, 21,7% trẻ vị thành niên Việt Nam có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó 3,3% đáp ứng các tiêu chí đối với một rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, chỉ 8,4% vị thành niên đã tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tâm lý và 50,8% chỉ tiếp cận một lần.
Đặc biệt, chỉ 5,1% cha mẹ xác định rằng vị thành niên của họ cần được giúp đỡ đối với các vấn đề về cảm xúc và hành vi. Qua các nghiên cứu trong nước và thế giới, có thể thấy vị thành niên đang gặp rất nhiều vấn đề tâm lý mà có thể các vấn đề này chưa đủ để đáp ứng chẩn đoán về một rối loạn tâm thần cụ thể, nhưng chúng vẫn gây ảnh hưởng nhiều đến đời sống của vị thành niên. Các vấn đề tâm lý nếu không được giải quyết sớm có thể sẽ phát triển thành một rối loạn tâm lý phức tạp hơn, làm gia tăng đau khổ cho trẻ vị thành niên và gia đình nói riêng cũng như để lại những gánh nặng cho xã hội nói chung (Boul và cộng sự, 2019). Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này cùng với mong muốn tăng cường vai trò của hoạt động trợ giúp tâm lý đối với các khó khăn tâm lý của vị thành niên, học viên quyết định chọn đề tài ―Hỗ trợ tâm lý cho một trường hợp vị thành niên có các khó khăn tâm lý‖ làm đề án tốt nghiệp.
Đề án cũng xuất phát một phần từ mong muốn được trau dồi kỹ năng thực hành nghề của học viên và trợ giúp thân chủ cải thiện các vấn đề thân chủ đang gặp. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan cơ sở lý luận về các khó khăn tâm lý của vị thành niên. - Thực hiện đánh giá, định hình trường hợp, lập kế hoạch và can thiệp cho một trường hợp vị thành niên có các khó khăn tâm lý. - Đánh giá tiến trình thực hiện, hiệu quả can thiệp để từ đó đưa ra kết luận và khuyến nghị cho các trường hợp vị thành niên có các biểu hiện khó khăn tâm lý.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KHÓ KHĂN TÂM LÝ Ở VỊ THÀNH NIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu về các khó khăn tâm lý ở vị thành niên 1. Các nghiên cứu dịch tễ về khó khăn tâm lý ở vị thành niên Các vấn đề tâm lý ở vị thành niên đang là mối quan tâm đặc biệt của xã hội thế kỷ 21. Nhiều vị thành niên đang phải vật lộn với các vấn đề về cảm xúc, hành vi, niềm tin,… mà không biết phải ứng phó hoặc tìm kiếm các hỗ trợ phù hợp cho mình (William và cộng sự, 2014).
Theo số liệu thu được từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, trong 10 năm trước đại dịch, cảm giác buồn bã, tuyệt vọng dai dẳng, ý nghĩ và hành vi tự tử đã tăng khoảng 40% ở những người trẻ tuổi (APA, 2023). Một khảo sát dịch tễ học năm 2014 trên mẫu đại diện quốc gia của 10 tỉnh/thành tại Việt Nam đã cho thấy có khoảng 12% vị thành niên có các vấn đề sức khỏe tâm thần, tương đương hơn 3 triệu trẻ cần sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần (Weiss và cộng sự, 2014). Tỷ lệ tự tử ở vị thành niên tại Việt Nam được báo cáo là thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở vị thành niên Việt Nam vẫn ở mức dao động từ 8% đến 29% - một con số đáng suy ngẫm (UNICEF, 2018).
Kết quả thống kê cho thấy, từ năm 2009 đến 2019, tỷ lệ học sinh trung học có cảm giác buồn bã hoặc tuyệt vọng dai dẳng đã tăng từ 26% lên 37%. Trong báo cáo tình trạng sức khỏe tâm thần vị thành niên Việt Nam năm 2019, có hơn 15% học sinh tham gia khảo sát đã thực sự nghĩ đến việc tự tử trong 12 tháng qua, kết quả này thấp hơn một chút khi so với tỷ lệ tương tự ở 84 quốc gia khác (16,5%). Mặc dù vậy, vẫn có khoảng 3,07% học sinh đã từng cố tự tử ít nhất 1 lần trong vòng 1 năm trước khi tham gia khảo sát mà hậu quả của những hành vi này là một số chấn thương nghiêm trọng, ngộ độc hoặc sốc thuốc. Đặc biệt, sức khỏe tâm thần của vị thành niên đã giảm sút đáng kể sau đại dịch Covid.
Có hơn 33% học sinh trung học có sức khỏe tâm thần kém trong đại dịch và gần 50% học sinh thường xuyên cảm thấy buồn bã hoặc tuyệt vọng (CDC, 2023). Ở Việt Nam, có khoảng 12,59% học sinh đã cho rằng mình luôn thường trực cảm xúc cô đơn và 16,81% học sinh cảm thấy khó tập trung vào làm bài tập về nhà (WHO, 2021). Dữ liệu từ Khảo sát hành vi và trải nghiệm của thanh thiếu niên năm 2021 chỉ ra rằng 37,1% học sinh trung học ở Hoa Kỳ báo cáo rằng sức khỏe tâm thần của họ kém trong đại dịch COVID-19, với 19,9% cân nhắc và 9,0% cố gắng tự tử trong năm trước (Jones và cộng 9 sự, 2022). Trên thế giới hiện có khoảng hơn 13% vị thành niên mắc rối loạn tâm thần và có khoảng 45.800 vị thành niên tử vong do tự tử mỗi năm (UNICEF, 2021).
Nghiên cứu về các hệ quả của các khó khăn tâm lý ở vị thành niên Tình trạng sức khỏe tâm thần đã được chứng minh là có mối tương quan đáng kể với chất lượng cuộc sống và tình trạng sức khỏe ở cả người lớn và vị thành niên. Các nghiên cứu đã chỉ ra vị thành niên gặp các vấn đề về tâm lý có chất lượng cuộc sống kém hơn những vị thành niên gặp các vấn đề về thể chất (Sawyer, 2002). Những học sinh gặp các khó khăn tâm lý có xu hướng kém thích nghi ở trường học, giảm khả năng tập trung, có thành tích học tập thấp, thường gặp vấn đề với các mối quan hệ liên cá nhân ở trường học như mối quan hệ tích cực với thầy cô, sự chấp nhận của bạn bè (Suldo và cộng sự, 2014; Farina và cộng sự, 2021). Ngoài ra, vị thành niên có các khó khăn tâm lý cũng cho thấy có xu hướng thực hiện những hành vi nguy cơ sức khỏe cao hơn như sử dụng chất gây nghiện, tự hại, bỏ học và bị đuổi học (Valdez và cộng sự, 2011).
Tương tự như vậy, các vấn đề tâm lý ở vị thành niên cũng được chứng minh là gây trở ngại đáng kể không chỉ đến cuộc sống hàng ngày của chúng mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của cha mẹ và gia đình. Trên thực tế, tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp đặc biệt căng thẳng của gia đình, trong đó số lượng xung đột giữa cha mẹ và vị thành niên có xu hướng gia tăng để sắp xếp lại trách nhiệm và hướng tới một mối quan hệ bình đẳng hơn (Branje, 2018). Những thách thức này thường sẽ diễn ra ngắn hạn và được coi là bình thường trong tiến trình phát triển của vị thành niên. Tuy nhiên, ở những gia đình có vị thành niên có các khó khăn tâm lý - những người phải đối mặt với cả những khó khăn liên quan đến quá trình chuyển đổi và những khó khăn liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần, các xung đột này dường như kéo dài, căng thẳng và để lại nhiều hậu quả đáng tiếc hơn (VanderValk và cộng sự, 2007; Gross và cộng sự, 2008).
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa sức khỏe tâm thần của cha mẹ và con cái, những đứa trẻ có cha mẹ có các vấn đề sức khỏe tâm thần gặp nguy cơ cao mắc các rối loạn tâm thần và ngược lại, những cha mẹ có con gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần cũng sẽ căng thẳng hơn những cha mẹ có con cái phát triển khỏe mạnh. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của vị thành niên Sau khi tiến hành tổng hợp các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới đời sống tâm lý của vị thành niên, học viên chia các yếu tố này thành 3 nhóm chính: (a) Các yếu tố cá nhân; (b) Các yếu tố gia đình; (c) Các yếu tố trường học. Các yếu tố cá nhân 10 Giới tính: Mức độ khó khăn chung ở tuổi vị thành niên được các trẻ gái báo cáo cao hơn đáng kể so với các trẻ trai về một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần. Các cuộc khảo sát dân số gần đây ở vị thành niên cũng nhấn mạnh rằng tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần và các loại rối loạn tương đối khác nhau giữa các giới tính, trong đó các trẻ gái vị thành niên dễ mắc các rối loạn hướng nội như trầm cảm hoặc lo âu và các trẻ trai có nhiều khả năng gặp các vấn đề hướng ngoại hơn (Campbell và cộng sự, 2022).
Các trẻ gái bước vào giai đoạn dậy thì trước các trẻ trai và do đó trải qua những thay đổi liên quan về thể chất và nội tiết tố sớm hơn. Áp lực ngày càng tăng đối với các trẻ gái và trẻ trai trong việc tuân thủ các vai trò giới tính chuẩn mực trong thời niên thiếu khi bắt đầu dậy thì cũng khiến các vấn đề tâm lý xuất hiện sự khác biệt giữa hai nhóm giới tính này.