MỞ ĐẦU. Lý do chọn ca lâm sàng. Nhiệm vụ nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN RỐI LOẠN TRẦM CẢM VÀ TRÌ HOÃN.
Tổng quan về rối loạn trầm cảm và trì hoãn. Tổng quan về trầm cảm. Tổng quan về hành vi trì hoãn. Các nghiên cứu về mối tương quan giữa trầm cảm và trì hoãn.
Lý luận về rối loạn trầm cảm và trì hoãn. Rối loạn trầm cảm. Trì hoãn và một số đặc điểm tâm lý của người có hành vi trì hoãn. Liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT) trong can thiệp rối loạn trầm cảm và hành vi trì hoãn.
Các phƣơng pháp đánh giá và can thiệp rối loạn trầm cảm và trì hoãn. Các phương pháp đánh giá. Các kỹ thuật can thiệp chính. Một số đặc điểm của hình thức trị liệu trực tuyến .24 TIỂU KẾT CHƢƠNG MỘT.
CAN THIỆP TÂM LÝ CHO MỘT TRƢỜNG HỢP CÓ CÁC TRIỆU CHỨNG TRẦM CẢM DẪN ĐẾN HÀNH VI TRÌ HOÃN. Thông tin chung về thân chủ. Các vấn đề đạo đức. Đạo đức trong tiếp nhận ca.
Đạo đức trong đánh giá. Đạo đức trong can thiệp tâm lý. Mô tả ca. Kết quả đánh giá.
Định hình trường hợp. Lập kế hoạch can thiệp. Mục tiêu đầu ra. Mục tiêu quá trình.
Thực hiện can thiệp. Giai đoạn 1: Thiết lập mối quan hệ lâm sàng, thu thập và đánh giá vấn đề của thân chủ. Can thiệp tâm lý nhằm giảm nhẹ các triệu chứng trầm cảm, giảm hành vi trì hoãn và xây dựng các kỹ năng nâng cao năng lực thích ứng. Giai đoạn 3: Đánh giá sau can thiệp, củng cố kỹ năng ứng phó và kết thúc can thiệp.
Đánh giá hiệu quả can thiệp. Lựa chọn cách thức, công cụ đánh giá. Kết quả đánh giá. Kết thúc ca và kế hoạch theo dõi sau can thiệp.
Tự đánh giá về chất lƣợng can thiệp .91 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .93 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 2 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DSM-5 Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) – Phiên bản thứ 5 N.N Tên thân chủ đƣợc viết tắt để bảo mật thông tin K.N Tên thân chủ đƣợc viết tắt để bảo mật thông tin CBT Liệu pháp nhận thức - hành vi DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: Đối chiếu các triệu chứng của thân chủ với DMS-5 (bản lƣợc dịch) .32 Bảng 2: Mục tiêu quá trình .40 Bảng 3: Theo dõi suy nghĩ tự động của thân chủ .62 Bảng 4: Các niềm tin của thân chủ .66 Bảng 5: Phân tích chi phí lợi – ích của hành vi mong muốn giảm trì hoãn .73 Bảng 6: Mục tiêu SMART của thân chủ .76 Bảng 7: Tình huống giả định – kỹ thuật đóng vai .81 Bảng 8: Kịch bản tình huống giả định – kỹ thuật đóng vai .82 Bảng 9: Đánh giá hiệu quả can thiệp dựa trên thang đo.90 DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Mối liên hệ giữa các yếu tố: Suy nghĩ/niềm tin, cảm xúc, hành vi, cơ thể .60 Sơ đồ 2: Nhiệt kế cảm xúc của thân chủ .90 DANH MỤC HÌNH Hình 1: Bài tập dòng sông cuộc đời của thân chủ .48 Hình 2 : Vòng tròn kiểm soát của thân chủ .84 Hình 3: Đánh giá của thân chủ về mức độ hạnh phúc sau tiến trình trị liệu. Lý do chọn ca lâm sàng Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy trầm cảm là rối loạn thƣờng gặp và phổ biến ở mọi vùng dân cƣ, lứa tuổi, giới tính, tần suất trầm cảm thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ nghề nghiệp, trình độ, mức số, văn hóa, giới tính và lứa tuổi. Trầm cảm là một thách thức sức khỏe toàn cầu, đƣợc đánh giá là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng khuyết tật và ảnh hƣởng đến hơn 300 triệu ngƣời trên toàn thế giới vào năm 2015 (Friedrich, 2017). Trầm cảm có đặc trƣng cơ bản nhƣ sự buồn chán, mất hứng thú hoặc niềm vui, cảm giác mệt mỏi, kém tập trung, có xu hƣớng thu mình không muốn giao tiếp với mọi ngƣời.
Alice Boyes (2019) cho rằng trầm cảm khiến cá nhân mất hứng thú với những hoạt động mà họ thƣờng yêu thích. Điều này có thể dẫn đến hành vi trì hoãn ngay cả đối với các hoạt động. Ngay cả khi ngƣời đó nghĩ rằng họ có thể muốn tham dự một sự kiện, họ vẫn có thể do dự về việc cam kết vì sợ rằng họ sẽ không cảm thấy đủ khả năng khi thời gian trôi qua. Theo Antonio Ragusa và cs (2023), có bằng chứng cho thấy rằng trầm cảm có thể dẫn đến hành vi trì hoãn.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trầm cảm, cùng với lo âu, có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ trì hoãn cao hơn. Mối quan hệ này thƣờng do thiếu động lực, giảm năng lƣợng và các mẫu suy nghĩ tiêu cực liên quan đến trầm cảm, gây cản trở khả năng bắt đầu hoặc hoàn thành công việc. Việc giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần này có thể giúp giảm thiểu xu hƣớng trì hoãn bằng cách cải thiện sự điều tiết cảm xúc và động lực cá nhân. Ngƣợc lại, rối loạn trầm cảm ở ngƣời trì hoãn làm tăng sự dai dẳng của các triệu chứng lâm sàng.
Đối với ngƣời trì hoãn, các triệu chứng trầm cảm nhƣ chán nản, giảm hứng thú, rút lui khỏi các kết nối, khó bắt tay vào công việc,… làm họ không thực hiện đƣợc nhiệm vụ học tập kịp thời (Kınık và Odacı, 2020). Trong bài: “Tại sao trầm cảm và trì hoãn có mối liên hệ với nhau - Trì hoãn là một khía cạnh rất phổ biến của bệnh trầm cảm”, đăng trên psychology Today (2019), tiến sĩ tâm lý học Alice Boyes cho rằng: Trì hoãn là một khía cạnh rất phổ biến của bệnh trầm cảm. Có nhiều nghiên cứu cho thấy trầm cảm có thể dẫn đến trì hoãn. Trầm cảm thƣờng đi kèm với mất hứng thú, năng lƣợng giảm sút và suy nghĩ 4 tiêu cực, gây khó khăn trong việc bắt đầu hoặc hoàn thành công việc.
Các yếu tố này dẫn đến việc trì hoãn, khi ngƣời bị trầm cảm cảm thấy quá tải với nhiệm vụ hoặc thiếu động lực để thực hiện chúng. Ngoài ra, sự rút lui xã hội và mất tự tin thƣờng thấy trong trầm cảm cũng góp phần làm gia tăng tình trạng trì hoãn. Nghiên cứu cho thấy trầm cảm và trì hoãn có mối tƣơng quan thuận với những ngƣời trầm cảm, chƣa rõ mối tƣơng quan của chúng đối với mẫu có trì hoãn nhƣng không có rối loạn trầm cảm (Batool và c. Có thể nói: Ngƣời trì hoãn bị trầm cảm ảnh hƣởng đến chức năng nhận thức, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch và thực hiện nhiệm vụ, dẫn đến cảm giác choáng ngợp ngay cả với những hoạt động đơn giản.
Điều này khiến cho họ trì hoãn các nhiệm vụ, công việc, hoạt động hàng ngày vì việc lập kế hoạch và tổ chức có thể làm họ cảm thấy quá khó khăn trong giai đoạn trầm cảm. Trầm cảm và trì hoãn thƣờng đi kèm với nhau, nên việc can thiệp giảm một trong hai có thể có tác động tích cực lên vấn đề còn lại, ví dụ nhƣ cải thiện khả năng quản lý thời gian và động lực thông qua can thiệp tâm lý có thể giúp giảm trầm cảm bằng cách tăng cƣờng cảm giá kiểm soát và giảm lo âu (Flett và c. Ngƣời có triệu chứng của trầm cảm dẫn tới hành vi trì hoãn giống nhƣ mắc vào chiếc vòng luẩn quẩn khó thoát ra đƣợc, trầm cảm làm tăng nặng trì hoãn, trì hoãn lâu có nguy cơ làm tăng mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng trầm cảm, hệ quả tăng trầm cảm có thể làm tăng trì hoãn,… Do vậy, việc can thiệp tâm lý cho ngƣời trì hoãn có triệu chứng của trầm cảm cần chú ý can thiệp giảm cả triệu chứng trầm cảm lẫn trì hoãn. Từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài của mình là: "Can thiệp tâm lý cho một trƣờng hợp có các triệu chứng trầm cảm dẫn đến hành vi trì hoãn".
Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan tài liệu về rối loạn trầm cảm và hành vi trì hoãn, đánh giá, chẩn đoán và can thiệp tâm lý cho trƣờng hợp có triệu chứng trầm cảm liên quan đến hành vi trì hoãn. - Đánh giá, chẩn đoán và thực hiện can thiệp, sau đó đánh giá hiệu quả can thiệp cho trƣờng hợp có triệu chứng trầm cảm dẫn đến hành vi trì hoãn. - Đƣa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sàng. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN RỐI LOẠN TRẦM CẢM VÀ TRÌ HOÃN 1.
Tổng quan về rối loạn trầm cảm và trì hoãn 1. Tổng quan về trầm cảm 1. Số liệu dịch tễ về trầm cảm Rối loạn trầm cảm ngày càng trở nên phổ biến trên và đƣợc nghiên cứu trên toàn thế giới. Theo WHO, ƣớc tính đến năm 2030, trầm cảm sẽ là nguyên nhân lớn nhất gây ra tình trạng khuyết tật cho y tế toàn cầu.
Theo Bệnh viện tâm thần trƣơng ƣơng Việt Nam (2023), kết quả điều tra dịch tễ học một số bệnh tâm thần thƣờng gặp của chƣơng trình Quốc gia chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng, tỷ lệ trầm cảm chiếm khoảng 3,8% dân số; rối loạn trầm cảm gặp ở nữ nhiều hơn nam giới, tỷ lệ nữ/nam là khoảng 2/1; lứa tuổi thƣờng gặp rối loạn trầm cảm với tỷ lệ cao hơn là từ 25 - 44 tuổi. Về giới tính: Nhiều nghiên cứu dịch tễ cho thấy rối loạn trầm cảm có xu hƣớng xuất hiện ở nữ nhiều gấp đôi nam trong nhiều bối cảnh văn hóa khác nhau, lý do dẫn đến sự khác nhau có thể do yếu tố di truyền, nội tiết tố, tâm lý và xã hội (Kuehner, 2003). Ở Bắc Mỹ, sắc xuất xuất hiện giai đoạn trầm cảm trong bất kỳ khoảng thời gian nào trong năm là 3% - 5% đối với nam giới và 8 - 10 % đối với nữ giới (Kessler và c. Về tuổi: Rối loạn trầm cảm có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, từ vị thành niên đến ngƣời già, nhƣng trầm cảm hay gặp nhất là độ tuổi 40.
Khoảng 50% số bệnh nhân trầm cảm khởi phát ở độ tuổi 20 đến 50 (Bùi Quang Huy, 2022). Một đánh giá về dịch tễ học bệnh trầm cảm ở Hàn Quốc cũng cho thấy độ tuổi có tỷ lệ xuất hiện triệu chứng trầm cao nhất là 15 - 18 với 46,8%, thấp nhất là nhóm 40 - 49 tuổi với tỷ lệ 7,6% (Park và Kim, 2011). Về mức sống: Một nghiên cứu tại Trung Quốc tỉ lệ mắc rối loạn trầm cảm ở ngƣời trƣởng thành trong suốt cuộc đời là 1,8%, tỷ lệ này ở nông thông là 2%, thành thị 1,7 (Zhao và c.