CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRAM CẢM 1. Tổng quan nghiên cứu về rối loạn trầm cảm 1. Các nghiên cứu dịch tễ về tram cảm Trầm cảm đã được các nhà tâm thần học mô tả một cách cụ thể vào những năm 80 của thế kỷ XX với những đặc trưng như là: cảm xúc, hành vi và tư duy đều bị ức chế. Theo như nghiên cứu của Merikangas và cộng sự cho thấy có khoảng 11% trẻ vị thành niên có trải nghiệm tram cam ở tuổi 18 (Merikangas va cộng sự, 2010).
Trầm cảm gây ra các vấn đề như khó khăn trong mỗi quan hệ, nhận thức, chức năng học tập (Fletcher,2010) hay cũng làm tăng những rối loạn lo âu, hút thuốc, lo âu, nghiện rượu và tự tử (Sihvola và cộng sự,2007). Ngoài ra thì giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là giai đoạn có nhiều áp lực cuộc sống: học tập căng thang, thất nghiệp, áp lực công việc, áp lực đồng trang lứa, đời sống không được đảm bảo. Bên cạnh đó thì đặc điểm tâm lý ở giai đoạn này cũng có nhiều biến động nên đây là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong rồi loạn trầm cảm ở thanh niên độ tuôi này. Rushton và cộng sự (2002) đã chỉ ra rang có 1,5% — 8 % thanh niên mắc rối loạn trầm cảm và khoảng 1% - 2 % thanh niên mắc trầm cảm nặng.
Tỉ lệ này có xu hướng tăng theo thời gian đặc biệt là ở thanh niên và phụ nữ, tỉ lệ căng thang và tram cảm cao hon han so với các nhóm còn lại. Diễn biến tram cảm diễn ra theo các giai đoạn, một giai đoạn trầm cảm trên lâm sàng thường kéo đài trung bình từ 7 đến 9 tháng, nhưng có thể ngắn hơn trong những cộng đồng chưa được nghiên cứu. Nhìn chung, giai đoạn trầm cảm có khả năng tự thuyên giảm. Ngoài ra, tỷ lệ tái phát trong vòng 2 năm khoảng 40%.
Tỷ lệ tái phát cao ngay cả sau khi điều trị. Ví dụ, nghiên cứu theo dõi các bệnh nhân điều tri tram cảm ở tuôi vi thành niên trong vòng 5 năm cho thay mặc dù đại đa số các bệnh nhân (96%) đã hồi phục, sau năm năm gần một nửa (46%) bệnh nhân đã tái phát (Curry và cộng sự, 2010). Ở tuổi trưởng thành, khả năng xuất hiện thêm các giai đoạn lên tới 60% (Birmaher va cộng sự, 1996). Vi vậy, tram cảm nên được xác định là một tình trạng mãn tính với sự thuyên giảm và tái phát.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý, không chỉ giảm bớt thời gian giai đoạn trầm cảm hiện tại va hậu quả của nó mà còn hỗ trợ phòng ngừa tái phát. Các yếu tố nguy co tái phát bao gồm đáp ứng kém với điều trị, mức độ nghiêm trọng, tình trạng mãn tính, các giai đoạn trước đó, bệnh lý đồng thời, tuyệt vọng, nhận thức tiêu cực, các vấn đề về gia đình, tình trạng kinh tế xã hội thấp và bị lạm dụng hoặc xung đột gia đình (Curry và cộng sự, 2010). Có nhiều các báo cáo nghiên cứu ca lâm sàng về sự khác biệt về văn hoá đối với biểu hiện của trầm cảm. Ví dụ như triệu chứng trầm cảm ở Afghanistan thì tương tự với các quốc gia khác nhưng phần lớn các bệnh nhân bị trầm cảm có ý nghĩ tự sát thụ động nhiều hơn so với ý nghĩ tự sát chủ động (InalEmiroglu và Diler ,2009).
Tại một số nước ở Châu A — Thái Bình Dương thì tỷ lệ mắc tram cảm trong vòng 1 tháng từ 1,3% đến 5,5%, trong vòng một năm là từ 1,7% đến 6,7% và tỷ lệ mắc tram cảm trong vòng cả cuộc đời có trung bình là 3,7%, so với nhiều khu vực trên thế giới thì ở mức thấp hơn. Trong hơn một thập kỷ gần đây thì vấn đề sức khỏe tâm thần, đặc biệt là tram cảm được đề cập đến nhiều hơn, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và cũng có nhiều các công trình nghiên cứu về trầm cảm ở các góc cạnh khác nhau. Trong một nghiên cứu về đặc điểm nhân cách và trầm cảm ở sinh viên được nhóm nghiên cứu Trần Thơ Nhị và cộng sự năm 2016-2017 thực hiện trên 492 sinh viên tại Trường Đại học Y Hà Nội. Bằng cách sử dụng thang đo sàng lọc có san được xây dựng dựa trên thang đánh giá tram cảm thanh thiếu niên RADS ( Thang đánh giá trầm cảm ở thanh thiếu niên) và Bảng kiểm kê nhân cách của Hans Eyesenck đã cho thấy rằng tỷ lệ sinh viên có kiểu nhân cách hướng nội cao nhất (61,99%), kiểu nhân cách không ổn định và 68,90% và còn lại là các kiểu khí chất khác.
Từ kết quả nghiên cứu ta thấy được nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ trầm cảm chung của sinh viên năm hai thuộc hệ Bác sỹ tại Trường Đại học Y Hà Nội là 28,46% trong đó tỷ lệ sinh viên mắc tram cảm nặng là 3,46%, tram cảm vừa và nhẹ lần lượt là 4,88% và 20,12%. Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra trong số sinh viên trầm cảm thì kiểu khí chất ưu tư, kiểu nhân cách hướng nội và nhân cách thần kinh không ổn định có số sinh viên mắc trầm cảm cao hơn hắn so với các yếu tố còn lại. Theo Trần Văn Cường va cộng sự (2002), tram cảm điển hình chiếm 2,8% trong quá trình điều tra dich té học lâm sảng một số bệnh tâm thần thường gặp ở các vùng kinh tế- xã hội khác nhau. Các nghiên cứu về can thiệp tâm lý cho người bị tram cảm Trong nghiên cứu của Kaloyan Kamevov cùng cộng sự (2017), khi phỏng vấn các bác sĩ lâm sàng và những người có vấn đề về tâm lý, họ cho rằng trị liệu tâm lý và trị liệu dược lý cải thiện ở các lĩnh vực khác nhau.
Phương pháp trị liệu dược lý cải thiện các lĩnh vực về triệu chứng, ví dụ: các van đề về giấc ngủ, cảm xúc,. Ở phương pháp can thiệp tâm ly cải thiện mối quan hệ giữa các cá nhân, các hoạt động tự chăm sóc bản thân và các vấn đề trong giao tiếp, kĩ năng,. Theo một nghiên cứu của Ernst T.Bohlmeijer va cộng sự (2011) việc can thiệp dựa trên liệu pháp chấp nhận và cam kết (ACT) đối với trị liệu trầm cảm đạt được những kết quả tích cực. Sự can thiệp băng ACT có mục đích tăng cường chấp nhận những suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực và sống một cuộc sống có ý thức và dựa trên những giá trị.
Nghiên cứu được thực hiện trên 93 người lớn có dấu hiệu tram cảm từ nhẹ đến trung bình, phần lớn là nữ gốc Hà Lan. Sau 3 tháng can thiệp và 3 tháng theo dõi thì kết quả thấy can thiệp bằng ACT dẫn đến giảm đáng ké về các triệu chứng tram cảm. Hơn thé nữa, phân tích trung gian cho thay rằng sự cải thiện về chấp nhận trong quá trình can thiệp làm trung gian tác động của can thiệp bằng ACT với các triệu chứng trầm cảm. Phổ biến nhất trong các phương pháp can thiệp đối với tram cảm là Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT).
Theo Para (2008), CBT có thê tạo ra kết quả vượt trội so với các biện pháp can thiệp khác đối với trầm cảm ở thanh niên vì nó cho kết quả vượt trội hơn về cả thời gian và mức độ giảm triệu chứng tram cảm. Ở một số nghiên cứu đối chứng giữa một nhóm lớn bệnh nhân ngẫu nhiên sử dụng kết hop CBT và thuốc với một nhóm chi sử dụng thuốc dé điều trị trầm cảm thì các nhà nghiên cứu nhận thấy răng việc kết hợp CBT và sử dụng thuốc có hiệu quả hơn han so với việc chỉ điều trị bằng thuốc (Iftene, 2015). Một kết quả trong nghiên cứu của Oud và cộng sự (2018) đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự cải thiện về triệu chứng tram cảm và sự kết hợp các thành phần kích hoạt hành vi, tái cầu trúc nhận thức ở thanh niên tram cảm. Kết qua này đã cho thấy việc kích hoạt hành vi và tái cấu trúc nhận thức là một chiến lược có thê đạt được hiệu quả cao trong can thiệp tram cảm vi sự tái tram cảm ở đối tượng trẻ tuôi khá cao.
Theo Ellen Driessen va Steven D.Hollon (2010), trị liệu nhận thức hành vi khi được thực hiện đầy đủ có hiệu quả với cả những người mac tram cảm nặng. Tri liệu nhận thức hành vi lam giảm tỷ lệ tai phat, ở một mức độ tương đương với người mắc rối loạn khi uống thuốc đều đặn. Những người thất nghiệp, có những trải nghiệm tiêu cực trong cuộc sống đáp ứng trị liệu nhận thức hành vi tốt hơn so với sử dụng thuốc. Một nghiên cứu khác của Embling (2002), thực hiện tại trung tâm điều trị và đánh giá tâm thần cấp tính tại cộng đồng.
Sau khi được các bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm phỏng vấn và chân đoán bằng Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và van đề sức khỏe liên quan (ICD) , các đối tượng nghiên cứu mac rối loạn tram cảm sẽ được trị liệu 12 buổi, mỗi buổi kéo dai 60-90 phút và được chia làm bốn nhóm. Các phiên trị liệu tập trung cho lên kế hoạch hoạt động, đánh giá hành vi, xác định và kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực, tái cấu trúc bằng bảng theo dõi suy nghĩ. Kết quả qua thang do tram cảm Beck cho thấy điểm của các đối tượng nghiên cứu giảm sau 12 buổi trị liệu. Bên cạnh những nghiên cứu về trị liệu trầm cảm ở nước ngoài, ở Việt Nam cũng có rất nhiều các nghiên cứu liên quan đến trị liệu trầm cảm băng các phương pháp khác nhau.
Nghiên cứu “Thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân tram cảm tại Viện Sức khỏe Tâm than quốc gia- Bệnh viện Bạch Mai: đã chi ra rỗi loạn tram cảm tao ra gánh nặng bệnh tật cho bệnh nhân. Nghiên cứu này thực hiện trên 65 bệnh nhân tram cảm nhằm đánh giá tình trạng sử dụng thuốc, những biến có bat lợi và hiệu quả điều trị. Kết quả cho thấy rằng Sertraline là thuốc được sử dụng nhiều nhất ( 39%), sau đó là mirtazapine ( 38,3%). Một nghiên cứu của Đàm Thị Kim Nga (2018) trên 60 người bệnh trầm cảm được điều trị bằng liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý va sử dụng thuốc amitriptylin cho kết quả việc kết hợp liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý với thuốc chống tram cảm trong điều trị cho người bệnh bị tram cảm có hiệu quả hơn khi điều trị bằng thuốc chống trầm cảm đơn thuần trên chứng trầm cảm, biéu hiện lo âu, hành vi và đặc biệt là suy nghĩ của người bệnh.