Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam sống tại Việt Nam và Ba Lan" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Mai Văn Hải dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Văn Hảo, thuộc chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9.01) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2021).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Định hướng giá trị là một khía cạnh cơ bản của nhân cách, chi phối nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân nhằm đạt được những điều được xem là quan trọng trong đời sống. Gia đình là một thiết chế văn hóa - xã hội thiêng liêng, lưu giữ bản sắc của dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và di cư quốc tế gia tăng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt khoảng 5,3 triệu người sinh sống tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ (số liệu thống kê từ Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, năm 2020). Khi sinh sống tại nước ngoài, người nhập cư đối mặt với sự giao thoa văn hóa, sự khác biệt thế hệ và quá trình tiếp biến văn hóa. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về người nhập cư gốc Việt, các nghiên cứu so sánh trực tiếp giữa nhóm người Việt trong nước và nhóm người Việt nhập cư ở nước ngoài về định hướng giá trị gia đình truyền thống thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản (cha mẹ - con và vợ - chồng) vẫn còn thiếu vắng. Do đó, luận án được thực hiện nhằm làm sáng tỏ thực trạng và xu hướng biến đổi trong định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam trong và ngoài nước.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu lý luận và thực trạng định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam ở Việt Nam và Ba Lan, từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm duy trì, phát huy bản sắc văn hóa và hoàn thiện chính sách phù hợp với người Việt Nam ở nước ngoài.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể thành 4 nhiệm vụ:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình trong và ngoài nước.
  2. Xây dựng cơ sở lý luận về định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam sống tại Việt Nam và tại Ba Lan.
  3. Nghiên cứu thực trạng định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam tại Việt Nam và tại Ba Lan qua các mối quan hệ cơ bản.
  4. Đề xuất một số kiến nghị góp phần xây dựng chính sách duy trì, phát huy bản sắc văn hóa và định hướng giá trị gia đình phù hợp với người Việt Nam nhập cư.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra giả thuyết: Hai nhóm khách thể nhập cư và không nhập cư có nhiều tương đồng trong định hướng giá trị gia đình (như sự thủy chung trong quan hệ vợ - chồng; cha mẹ chăm sóc con và con cái hiếu thảo với cha mẹ trong quan hệ cha mẹ - con). Đồng thời, quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng tạo ra những khác biệt nhất định giữa hai nhóm (cha mẹ nhập cư ít áp đặt con cái hơn, mối quan hệ vợ chồng bình đẳng hơn).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam ở Việt Nam và Ba Lan thông qua hai mối quan hệ cơ bản: cha mẹ - con và vợ - chồng.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào biểu hiện niềm tin và xu hướng hành vi định hướng giá trị gia đình của nhóm nhập cư và nhóm không nhập cư qua chức năng gia đình và hai mối quan hệ cơ bản (cha mẹ - con, vợ - chồng).
  • Phạm vi khách thể: Khảo sát 110 người Việt Nam sống tại Việt Nam, 106 người Việt Nam sinh sống/làm việc tại Ba Lan từ 03 năm trở lên, 17 người Việt Nam kết hôn với người Ba Lan từ 03 năm trở lên, và phân tích sâu chân dung tâm lý 03 trường hợp kết hôn với người Ba Lan.
  • Phạm vi không gian (địa bàn): Việt Nam và Ba Lan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Tác giả đã tiến hành tổng quan các công trình quốc tế liên quan đến giá trị gia đình và người nhập cư:

  • Quá trình thích nghi và tiếp biến văn hóa: Rosenthal và cộng sự (1996) nghiên cứu thanh thiếu niên gốc Việt tại Úc, chỉ ra thế hệ trẻ ít nhấn mạnh giá trị truyền thống hơn cha mẹ; Zhou và Bankston (1994, 2001) khẳng định văn hóa truyền thống là vốn xã hội (social capital) hỗ trợ học tập và phân tích biến đổi vai trò giới ở trẻ em gái gốc Việt; Caplan (1985) nghiên cứu thành tích học tập của trẻ em nhập cư; Hsin (2010, 2017) khảo sát khả năng đa ngôn ngữ qua các tương tác xuyên quốc gia; Vo-Thanh-Xuan và Rice (2000) phỏng vấn 36 người cao tuổi gốc Việt tại Úc về vai trò làm cầu nối văn hóa và giảm xung đột gia đình; Bankston (2004) cùng Dandy và Nettelbeck (2002) chỉ ra sự kỳ vọng của cha mẹ gốc Việt đối với thành tích học tập của con; Hoang (2016) nghiên cứu sự hy sinh (self-sacrifice) và chịu đựng (endurance) của phụ nữ Việt Nam tại Đài Loan; Kwak và Berry (2001) so sánh thái độ tiếp biến văn hóa giữa cha mẹ và thanh thiếu niên gốc Việt, Hàn Quốc, Ấn Độ, Châu Âu.
  • Biểu hiện tâm lý và hành vi cụ thể: Nasser (2012) khảo sát 3.511 người nhập cư gốc Á tại Mỹ về mức độ coi trọng gia đình; Xiong và cộng sự (2005) tìm hiểu định nghĩa cha mẹ tốt và con tốt qua thảo luận nhóm với 36 phụ huynh và 37 thanh thiếu niên Đông Nam Á; Phinney, Ong và Madden (2000) khảo sát 471 gia đình nhập cư (Việt Nam, Armenia, Mexico) và 230 gia đình bản xứ tại Mỹ về nghĩa vụ gia đình (obligation); Huyen Dam và cộng sự (2012) phỏng vấn về sự gắn bó với ngôi nhà của người Việt tại Hamilton (Canada); Bui và Morash (2007) phỏng vấn 62 phụ nữ gốc Việt bị xâm hại tình dục; Choi và cộng sự (2008) nghiên cứu bất đồng văn hóa liên thế hệ (intergenerational cultural dissonance - ICD) trên 327 cặp mẹ con; Bersola-Nguyen và Irene (1995) phân tích mâu thuẫn giữa tính độc lập và phụ thuộc; Nguyen và Williams (1989) nghiên cứu uy quyền phụ huynh; Killian và Hegtvedt (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi văn hóa cha mẹ lên 66 thanh niên tại Atlanta; Lee và cộng sự (2009) nghiên cứu áp lực tâm lý ở 17 thanh thiếu niên gốc Á; Ramos và cộng sự (2016) phát triển thang đo phỏng vấn trầm cảm cho người Việt (Vietnamese Depression Interview - VDI).
  • Về khái niệm và phương pháp so sánh: Costigan và cộng sự (2004) chia tiếp biến văn hóa thành định hướng văn hóa, bản sắc văn hóa và giá trị văn hóa; Dinh và cộng sự (2019) tổng kết đặc điểm gia đình phụ hệ Đông Nam Á chịu ảnh hưởng Nho, Phật, Lão; Jessie Bee Kim Koh và cộng sự (2009) áp dụng phương pháp nghiên cứu tiểu sử với 69 bài luận của sinh viên gốc Á; Williams và cộng sự (2014) so sánh người Nepal tại quê hương và tại vùng Vịnh; Updegraff và cộng sự (2012) nghiên cứu theo chiều dọc trẻ vị thành niên gốc Mexico; Gonzales và cộng sự (2008) sử dụng thang MACVS, YSR; Wilson và cộng sự (2006) phỏng vấn sâu 11 phụ nữ Mexico bằng kỹ thuật quả bóng tuyết.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu giá trị chung và giá trị gia đình truyền thống: Trần Đình Hượu (1996) phân tích tư tưởng Nho giáo trong "trị quốc" và "tề gia", chỉ ra 3 mối quan hệ rường cột (cha - con, vợ - chồng, anh - em); Phan Ngọc (1998) khẳng định đặc trưng gia đình Việt gắn liền với làng xã nông nghiệp lúa nước; Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc và Mạc Văn Trang (1995) xác định giá trị gia đình đứng thứ 7 trong số 20 giá trị nhân cách; Phạm Minh Hạc (2007) xếp gia đình vào nhóm các giá trị cốt lõi của người Việt; Trần Thị Minh Thi (2021) phân tích đặc tính "chuẩn mực kép" (kết hợp phong tục và pháp lý) của gia đình Việt Nam hiện đại.
  • Nghiên cứu giá trị thể hiện qua các mối quan hệ cụ thể: Nguyễn Lan Phương (1995) và Trần Thị Minh Thi (2019) nghiên cứu giá trị của con cái và mong muốn sinh con trai; Mai (2016) chỉ ra sự suy giảm của xu hướng chuộng con trai; Lê Ngọc Lân (2014) cùng Lê Văn Hảo và cộng sự (2018) nghiên cứu thái độ của giới trẻ đối với người cao tuổi, chỉ ra sự phân tách giữa giá trị kính trọng và giá trị vâng lời; Đào Thị Mai Ngọc (2014) khảo sát biến đổi trong quan hệ vợ chồng; Nguyễn Đỗ Hồng Nhung (2019) nghiên cứu định hướng giá trị của thanh niên về hôn nhân và đạo hiếu.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận giá trị gia đình ở từng khía cạnh đơn lẻ, so sánh giữa các thế hệ hoặc giữa các nhóm nhập cư khác nhau tại cùng một quốc gia sở tại mà chưa đặt trong sự so sánh trực tiếp, có hệ thống giữa nhóm người Việt Nam ở trong nước và nhóm người Việt Nam nhập cư ở nước ngoài. Đồng thời, đối tượng người Việt Nam kết hôn với người bản xứ tại nước ngoài chưa được làm rõ về mặt định hướng giá trị gia đình. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát đồng thời cả hai nhóm khách thể tại Việt Nam và Ba Lan dựa trên hệ thống chuẩn mực gia đình truyền thống thể hiện qua hai mối quan hệ cốt lõi: cha mẹ - con và vợ - chồng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên các khái niệm nền tảng của tâm lý học và xã hội học: giá trị, định hướng giá trị, gia đình, chức năng gia đình, và định hướng giá trị gia đình. Luận án vận dụng 3 lý thuyết giá trị văn hóa phổ quát:

  1. Lý thuyết chiều cạnh văn hóa của Geert Hofstede: Phân tích 6 chiều cạnh: Khoảng cách quyền lực (Power Distance), Tính cá nhân - Tính tập thể (Individualism - Collectivism), Nam tính - Nữ tính (Masculinity - Femininity), Né tránh bất định (Uncertainty Avoidance), Định hướng ngắn hạn - dài hạn (Long term - Short term Orientation), và Tuân thủ - Kháng cự / Đam mê - Kháng cự (Indulgence - Restraint).
  2. Lý thuyết giá trị của Shalom Schwartz: Mô hình 7 chiều cạnh văn hóa gồm Gắn bó (Embeddedness), Thứ bậc (Hierarchy), Thần bí/Làm chủ (Mastery), Tự chủ cảm xúc (Affective Autonomy), Tự chủ trí tuệ (Intellectual Autonomy), Bình đẳng (Egalitarianism), và Hòa hợp (Harmony).
  3. Lý thuyết giá trị thế giới của Ronald Inglehart: Khung phân tích dựa trên 2 trục: Giá trị truyền thống đối lập Giá trị duy lý/thế tục (Traditional vs. Secular-rational values) và Giá trị sinh tồn/sống sót đối lập Giá trị tự thể hiện (Survival vs. Self-expression values).

Dưới đây là bảng số liệu so sánh các chỉ số văn hóa giữa Việt Nam và Ba Lan theo dữ liệu lý thuyết của Hofstede được tác giả trích dẫn trong Chương 2:

Quốc gia Khoảng cách quyền lực Tính cá nhân – Tính tập thể Nam tính – Nữ tính Né tránh bất định Định hướng ngắn hạn - dài hạn Tuân thủ – Kháng cự
Việt Nam 22 19 13 8 40 23
Ba Lan 18 52 46 58 25 38

(Nguồn: Số liệu lý thuyết Geert Hofstede trích dẫn trong Bảng 2.2 của luận án)

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng:

  • Tiếp cận phương pháp luận: Tiếp cận hoạt động, tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử - xã hội, tiếp cận phát triển và tiếp cận liên ngành (lấy tâm lý học làm chủ đạo).
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Khai thác các công trình khoa học quốc tế qua cơ sở dữ liệu EBSCOweb theo tiêu chuẩn tổng quan hệ thống PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses).
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu về đánh giá giá trị phổ quát, giá trị phổ biến tại Việt Nam, niềm tin và xu hướng hành vi liên quan đến chức năng gia đình và các mối quan hệ gia đình.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu từ người Việt Nam kết hôn với người Ba Lan về các chủ đề nhạy cảm như nhu cầu sinh con trai, quan niệm về hôn nhân và sự chung thủy.
  • Phương pháp phân tích chân dung tâm lý: Phân tích sâu 3 trường hợp điển hình nhằm làm rõ sự thích nghi tâm lý và biến đổi giá trị.
  • Phương pháp xử lý thống kê toán học: Phân tích định lượng số liệu thu thập từ các nhóm khách thể.

Mẫu khảo sát và nguồn dữ liệu

  • Khách thể sống tại Việt Nam: 110 người.
  • Khách thể người Việt sống tại Ba Lan từ 03 năm trở lên: 106 người (chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện).
  • Khách thể người Việt kết hôn với người Ba Lan từ 03 năm trở lên: 17 người tham gia phỏng vấn sâu.
  • Khách thể phân tích chân dung tâm lý: 03 trường hợp (Khách thể L, Khách thể Q, Khách thể K).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình

Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các nghiên cứu quốc tế theo ba nhóm nội dung: quá trình thích nghi và tiếp biến văn hóa, giá trị gia đình thể hiện qua các biểu hiện tâm lý cụ thể, và giá trị gia đình thể hiện qua hành vi ứng xử liên thế hệ. Về nghiên cứu trong nước, tác giả điểm lại các nghiên cứu về hệ giá trị truyền thống dưới ảnh hưởng của Nho giáo, tính cộng đồng làng xã, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về sự biến đổi giá trị trong xã hội đương đại. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu so sánh định hướng giá trị gia đình giữa người Việt Nam trong nước và người Việt Nam nhập cư qua hệ thống niềm tin và xu hướng hành vi.

Chương 2. Cơ sở lý luận về định hướng giá trị gia đình

Chương 2 thiết lập khung khái niệm và nền tảng lý luận cho luận án. Tác giả trình bày các lý thuyết giá trị văn hóa phổ quát của Hofstede, Schwartz và Inglehart; phân tích các khái niệm giá trị, định hướng giá trị, gia đình và chức năng gia đình. Chương này phân tích hệ giá trị gia đình Việt Nam truyền thống (đề cao trật tự phụ hệ, lòng hiếu thảo, sự hòa thuận, vai trò của con trai và sự thủy chung vợ chồng) đặt cạnh bối cảnh định hướng giá trị gia đình hiện đại và đặc điểm văn hóa Ba Lan. Đồng thời, chương 2 xác định các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị gia đình gồm yếu tố khách quan (môi trường văn hóa, xã hội, kinh tế) và yếu tố cá nhân (tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, thời gian nhập cư).

Chương 3. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam sống tại Việt Nam và Ba Lan

Chương này trình bày quy trình triển khai nghiên cứu qua hai giai đoạn: nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn. Tác giả mô tả chi tiết quy trình xây dựng công cụ khảo sát, thao tác hóa khái niệm thành các chỉ báo niềm tin và hành vi trong bảng hỏi, quy trình phỏng vấn sâu và phương pháp phân tích chân dung tâm lý. Đồng thời, chương 3 giải trình đặc điểm của mẫu nghiên cứu (110 khách thể tại Việt Nam, 106 khách thể tại Ba Lan, 17 khách thể kết hôn hỗn hợp và 3 trường hợp chân dung tâm lý), cách thức chọn mẫu thuận tiện tại Ba Lan do khó khăn trong việc tiếp cận danh sách nhân khẩu từ Đại sứ quán, và các kỹ thuật thống kê toán học dùng để xử lý dữ liệu.

Chương 4. Kết quả nghiên cứu thực tiễn định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam sống tại Việt Nam và Ba Lan

Chương này công bố và phân tích các kết quả định lượng và định tính:

  • Định hướng giá trị nói chung: Khảo sát đánh giá của hai nhóm về 10 giá trị phổ quát theo Schwartz và các giá trị phổ biến ở Việt Nam, xác định các giá trị được coi là quan trọng nhất và ý nghĩ đầu tiên khi nghĩ về gia đình của người nhập cư cùng lý do thúc đẩy họ ra nước ngoài.
  • Chức năng gia đình: Phân tích niềm tin, xu hướng hành vi và mối quan hệ giữa niềm tin và hành vi thể hiện chức năng gia đình ở hai nhóm khách thể.
  • Mối quan hệ cha mẹ - con: Đánh giá niềm tin và xu hướng hành vi của cha mẹ đối với con cái; tương quan giữa niềm tin và hành vi; phân tích vấn đề mong muốn có con trai (niềm tin, hành vi và mối quan hệ giữa chúng).
  • Mối quan hệ vợ - chồng: Đánh giá niềm tin, xu hướng hành vi, mối tương quan giữa niềm tin và hành vi về sự thủy chung, bình đẳng và vấn đề tình dục.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Đánh giá tác động của thời gian nhập cư, nghề nghiệp, giới tính và độ tuổi đến định hướng giá trị gia đình; so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm nhập cư.
  • Phân tích chân dung tâm lý: Trình bày dữ liệu định tính chi tiết của 03 trường hợp kết hôn với người Ba Lan (Khách thể L, Khách thể Q, Khách thể K) để minh họa cho quá trình tiếp biến văn hóa trong đời sống hôn nhân đa quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án tiến hành tổng quan hệ thống các nghiên cứu quốc tế về giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình của người nhập cư theo quy chuẩn PRISMA.
  2. Xây dựng cơ sở lý luận chuyên biệt về giá trị, định hướng giá trị và định hướng giá trị gia đình áp dụng cho việc so sánh giữa nhóm người Việt Nam trong nước và nhóm người Việt Nam nhập cư ở nước ngoài.
  3. Đóng góp dữ liệu và góc nhìn cho chuyên ngành tâm lý học gia đình và tâm lý học xuyên văn hóa trong bối cảnh giao lưu, tiếp biến văn hóa quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng về định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam tại Việt Nam và Ba Lan thông qua hai cấp độ: niềm tin và xu hướng hành vi.
  2. Làm rõ mức độ gìn giữ các giá trị truyền thống (lòng thủy chung vợ chồng, đạo hiếu, sự chăm sóc của cha mẹ) cùng những biến đổi thích nghi mới (giảm áp đặt lên con cái, bình đẳng giới gia tăng, thay đổi quan niệm về con trai) ở nhóm người nhập cư.
  3. Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc hoạch định chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài nhằm hỗ trợ duy trì, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Xây dựng các chính sách văn hóa và hỗ trợ cộng đồng phù hợp với người Việt Nam ở nước ngoài nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho việc gắn kết giữa cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa và giáo dục ngôn ngữ dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan gặp khó khăn trong việc tiếp cận dữ liệu nhân khẩu chính thức từ Đại sứ quán và tâm lý e ngại tiếp xúc của một bộ phận người nhập cư, nhóm khách thể tại Ba Lan được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, quy mô mẫu dừng lại ở mức 106 người nhập cư và 17 người kết hôn với người bản địa.
  • Phạm vi nghiên cứu mới tập trung chủ yếu vào hai mối quan hệ cơ bản (cha mẹ - con và vợ - chồng) mà chưa mở rộng toàn diện ra các mối quan hệ gia đình mở rộng khác (như quan hệ dòng họ, anh chị em, ông bà - cháu).

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng quy mô khảo sát với các mẫu ngẫu nhiên đại diện hơn tại nhiều quốc gia có người Việt sinh sống.
  • Đi sâu nghiên cứu sự biến đổi định hướng giá trị ở thế hệ người Việt thứ hai, thứ ba sinh ra và lớn lên tại nước ngoài.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên ngành Tâm lý học, Xã hội học, Văn hóa học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu xuyên văn hóa, khung lý thuyết giá trị (Hofstede, Schwartz, Inglehart) và kỹ thuật tổng quan tài liệu theo chuẩn PRISMA.
  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (như Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, các cơ quan ngoại giao): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về tâm lý, nguyện vọng và định hướng giá trị gia đình của kiều bào để xây dựng chính sách văn hóa, kết nối cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu khách thể và tại các địa bàn nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 110 người Việt Nam sinh sống tại Việt Nam và 106 người Việt Nam sinh sống, làm việc tại Ba Lan từ 03 năm trở lên. Ngoài ra, có 17 người Việt Nam kết hôn với người Ba Lan tham gia phỏng vấn sâu và 03 trường hợp kết hôn với người Ba Lan được phân tích chân dung tâm lý.

2. Giả thuyết nghiên cứu chính của luận án là gì?

Giả thuyết của luận án cho rằng hai nhóm khách thể tại Việt Nam và Ba Lan có nhiều điểm tương đồng trong định hướng giá trị gia đình truyền thống (thủy chung vợ chồng, cha mẹ chăm lo cho con cái, con cái hiếu thảo với cha mẹ), nhưng đồng thời có sự khác biệt do quá trình tiếp biến văn hóa (nhóm nhập cư ít áp đặt con cái hơn và có quan hệ vợ chồng bình đẳng hơn).

3. Tác giả sử dụng các lý thuyết giá trị phổ quát nào để làm khung phân tích?

Tác giả sử dụng 3 lý thuyết giá trị văn hóa phổ quát: Lý thuyết 6 chiều cạnh văn hóa của Geert Hofstede, Lý thuyết 7 chiều cạnh văn hóa của Shalom Schwartz, và Lý thuyết 2 trục giá trị thế giới của Ronald Inglehart.

4. Định hướng giá trị gia đình được luận án đo lường qua những mối quan hệ cơ bản nào?

Luận án tập trung đo lường định hướng giá trị gia đình qua hai mối quan hệ cơ bản nhất trong gia đình: mối quan hệ cha mẹ - con (bao gồm niềm tin chăm sóc con, đạo hiếu, mong muốn có con trai) và mối quan hệ vợ - chồng (bao gồm lòng chung thủy, sự bình đẳng và quan niệm về tình dục).

5. Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nào được kết hợp trong luận án?

Luận án kết hợp nghiên cứu tài liệu hệ thống (PRISMA qua cơ sở dữ liệu EBSCOweb), khảo sát định lượng bằng bảng hỏi (xử lý thống kê toán học), phỏng vấn sâu bán cấu trúc và phương pháp phân tích chân dung tâm lý với 3 trường hợp điển hình.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Tâm lý học của Mai Văn Hải (2021) đã thực hiện nghiên cứu so sánh định hướng giá trị gia đình giữa người Việt Nam sống tại Việt Nam và Ba Lan dựa trên khung lý thuyết giá trị văn hóa và tâm lý học gia đình. Kết quả nghiên cứu làm rõ bức tranh thực trạng về sự tương đồng trong việc duy trì các giá trị cốt lõi truyền thống cũng như sự biến đổi thích nghi trong niềm tin và hành vi của người nhập cư dưới tác động của tiếp biến văn hóa. Công trình đóng góp cơ sở lý luận cho tâm lý học xuyên văn hóa và cung cấp dữ liệu thực tiễn phục vụ công tác xây dựng chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.