Luận án tiến sĩ: Đặc điểm hình thái não và nồng độ serotonin ở bệnh nhân trầm cảm mức độ nặng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hình thái não và nồng độ serotonin ở bệnh nhân trầm cảm nặng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về bệnh lý này.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Khoa học thần kinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

174
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

Danh mục hình

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ TRẦM CẢM

1.2. Khái niệm về rối loạn trầm cảm và trầm cảm nặng

1.3. Dịch tễ học của rối loạn trầm cảm

1.4. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm

1.5. Tiến triển và tiên lượng bệnh nhân trầm cảm

1.6. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CẤU TRÚC NÃO Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TRẦM CẢM

1.7. NGHIÊN CỨU VỀ SEROTONIN VÀ CÁC YẾU TỐ SINH HỌC KHÁC Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NẶNG

1.8. Một số nghiên cứu về serotonin

1.9. Một số nghiên cứu về các yếu tố sinh học khác trong rối loạn trầm cảm

1.10. NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ SEROTONIN VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM

1.11. Các nghiên cứu chung

1.12. Nghiên cứu mối liên quan giữa serotonin với hành vi tự sát

1.13. Nghiên cứu mối liên quan giữa serotonin và hành vi bạo lực

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng

2.6. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.8. Thiết kế nghiên cứu

2.9. Công cụ nghiên cứu

2.10. Phương pháp nghiên cứu lâm sàng bệnh nhân trầm cảm mức độ nặng

2.11. Phương pháp nghiên cứu hình thái não

2.12. Phương pháp ELISA định lượng nộng độ serotonin huyết tương và dịch não tủy của đối tượng nghiên cứu

2.13. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.14. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.3. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI MỘT SỐ CẤU TRÚC NÃO Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NẶNG

3.4. NỒNG ĐỘ SEROTONIN HUYẾT TƯƠNG VÀ DỊCH NÃO TỦY Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NẶNG

3.5. MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ SEROTONIN HUYẾT TƯƠNG, DỊCH NÃO TỦY VÀ THỂ TÍCH MỘT SỐ CẤU TRÚC NÃO VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NẶNG

3.6. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương và dịch não tủy với một số triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân trầm cảm nặng

3.7. Mối liên quan giữa thể tích một số cấu trúc não với một số triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

4.2. Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.3. Giới của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.4. Trình độ học vấn của bệnh nhân nghiên cứu

4.5. Nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu

4.6. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

4.7. Số lần vào viện của đối tượng nghiên cứu

4.8. Thời gian mắc bệnh

4.9. Tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm mạn tính

4.10. Triệu chứng khởi phát bệnh của bệnh nhân nghiên cứu

4.11. Các triệu chứng chính và phổ biến của nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng

4.12. Các triệu chứng rối loạn cảm giác và tri giác

4.13. Các biểu hiện rối loạn hình thức tư duy

4.14. Các biểu hiện rối loạn nội dung tư duy

4.15. Các biểu hiện rối loạn lo âu

4.16. Các biểu hiện rối loạn chú ý và trí nhớ

4.17. Các biểu hiện triệu chứng cơ thể

4.18. Các biểu hiện rối loạn hoạt động, hành vi tác phong

4.19. Các phương thức tự sát

4.20. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI MỘT SỐ CẤU TRÚC NÃO Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NẶNG

4.21. Thể tích nội sọ ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4.22. Thể tích thùy trán ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4.23. Thể thích não thất ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4.24. Thể tích hồi hải mã ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4.25. Thể tích nhân đuôi ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4.26. Thể tích thể chai ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4.27. NỒNG ĐỘ SEROTONIN HUYẾT TƯƠNG VÀ DỊCH NÃO TỦY Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NẶNG

4.28. Nồng độ serotonin huyết tương và dịch não tủy ở các nhóm nghiên cứu

4.29. Giảm nồng độ Serotonin huyết tương và dịch não tủy ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng

4.30. Mức độ giảm serotonin dịch não tủy ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng

4.31. Nồng độ serotonin huyết tương và dịch não tủy theo giới ở các nhóm nghiên cứu

4.32. Nồng độ serotonin huyết tương và dịch não tủy theo nhóm tuổi ≥ 45 ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng

4.33. Tỷ lệ giảm nồng độ serotonin huyết tương, dịch não tủy ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng so với nhóm chứng

4.34. Tỷ lệ thay đổi nồng độ serotonin huyết tương, dịch não tủy có số lần vào viện ≥ 2

4.35. Tỷ lệ thay đổi nồng độ serotonin huyết tương, dịch não tủy theo thời gian mắc bệnh ≥ 2 năm

4.36. MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ SEROTONIN HUYẾT TƯƠNG, DỊCH NÃO TỦY VÀ THỂ TÍCH MỘT SỐ CẤU TRÚC NÃO VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NẶNG

4.37. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương và dịch não tủy với một số triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân trầm cảm nặng

4.38. Mối liên quan giữa thể tích một số cấu trúc não với một số triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân trầm cảm nặng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn trầm cảm là một trong những bệnh lý tâm thần phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và khả năng lao động của người bệnh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm nặng chiếm tỷ lệ cao trong số các rối loạn tâm thần, với nhiều triệu chứng lâm sàng đa dạng. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phân tích hình thái nãonồng độ serotonin ở bệnh nhân trầm cảm nặng, từ đó làm rõ mối liên hệ giữa chúng với các triệu chứng lâm sàng. Việc hiểu rõ về hormone serotonin và tác động của nó đến rối loạn tâm thần là rất cần thiết để cải thiện phương pháp chẩn đoán và điều trị.

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Rối loạn trầm cảm được định nghĩa là trạng thái buồn rầu kéo dài, kèm theo nhiều triệu chứng như mất hứng thú, giảm năng lượng và rối loạn giấc ngủ. Theo ICD-10 và DSM-5, trầm cảm nặng có thể chia thành hai loại: có loạn thần và không loạn thần. Nghiên cứu cho thấy nồng độ serotonin trong dịch não tủy của bệnh nhân trầm cảm nặng thường giảm đáng kể, có thể chỉ còn 30% so với người bình thường. Điều này cho thấy sự thiếu hụt serotonin có thể là nguyên nhân chính dẫn đến các triệu chứng trầm cảm. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sự thay đổi hình thái não có thể liên quan đến mức độ nghiêm trọng của bệnh.

III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng tại Bệnh viện Quân y 103. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân bao gồm các tiêu chí lâm sàng và sinh lý. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thiết kế nghiên cứu lâm sàng, phương pháp hình thái não và phương pháp ELISA để định lượng nồng độ serotonin trong huyết tương và dịch não tủy. Việc áp dụng các phương pháp này giúp xác định mối liên quan giữa hình thái nãonồng độ serotonin với các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân.

IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả cho thấy có sự giảm nồng độ serotonin trong huyết tương và dịch não tủy ở bệnh nhân trầm cảm nặng. Cụ thể, nồng độ serotonin huyết tương giảm xuống dưới 80 ng/ml, trong khi nồng độ dịch não tủy cũng giảm đáng kể. Các triệu chứng lâm sàng như lo âu, rối loạn cảm giác và hành vi tự sát có mối liên quan chặt chẽ với mức độ giảm serotonin. Điều này cho thấy rằng việc theo dõi nồng độ serotonin có thể giúp đánh giá tình trạng bệnh và hiệu quả điều trị ở bệnh nhân trầm cảm nặng.

V. BÀN LUẬN

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hình thái nãonồng độ serotonin có mối liên hệ mật thiết với các triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân trầm cảm nặng. Sự thay đổi trong cấu trúc não có thể là hậu quả của sự thiếu hụt serotonin, dẫn đến các triệu chứng như lo âu và rối loạn tư duy. Việc hiểu rõ mối liên hệ này không chỉ giúp cải thiện chẩn đoán mà còn mở ra hướng đi mới trong điều trị trầm cảm. Các liệu pháp điều trị có thể được điều chỉnh dựa trên nồng độ serotonin và hình thái não, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ TRẦM CẢM 1. Khái niệm về rối loạn trầm cảm và trầm cảm nặng Rối loạn trầm cảm (RLTC) được mô tả đặc trưng bởi trạng thái buồn rầu, đau khổ. Người bệnh cảm thấy tương lai ảm đạm, lời nói chậm chạp, liên tưởng khó khăn, cảm giác mệt mỏi, mất dần các thích thú, giảm sút lòng tự tin, ý nghĩ không xứng đáng, giảm khả năng chú ý, giảm vận động và có thể xuất hiện các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác.

RLTC nặng thường kèm theo rối loạn trầm trọng các chức năng sinh học như mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn. Khi bệnh nặng bệnh nhân (BN) có thể từ chối ăn dẫn đến tình trạng suy kiệt do rối loạn nước và điện giải [8], [16], [17]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 1992, biểu hiện lâm sàng của trầm cảm không chỉ bằng các triệu chứng đặc trưng về khí sắc mà thường kèm theo nhiều triệu chứng về cơ thể như của hệ tiêu hoá, tim mạch, hệ thần kinh, nội tiết,. Đặc biệt RLTC nặng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nguy cơ tự sát [18], [19].

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD-10 giai đoạn trầm cảm cần kéo dài ít nhất 2 tuần, trong đó phải có ít nhất là một trong hai triệu chứng chủ yếu là khí sắc giảm hoặc là mất hứng thú và sở thích cho hầu hết các hoạt động. Đồng thời, BN cần biểu hiện ít nhất 4 triệu chứng trong các triệu chứng sau: thay đổi cảm giác ngon miệng hoặc khối lượng cơ thể, rối loạn giấc ngủ và hoạt động tâm thần vận động, giảm sút năng lượng, cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi, khó suy nghĩ, tập trung hoặc ra quyết định, ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc ý nghĩ, kế hoạch và hành vi tự sát [18]. Để xác định một giai đoạn trầm cảm chủ yếu, Hội Tâm thần học Hoa Kỳ năm 2013 (DSM-5) yêu cầu phải có một triệu chứng cần được biểu hiện luan an 4 gần đây một cách rõ ràng khi so sánh với trạng thái trước khi bị bệnh của BN. Các triệu chứng cần xuất hiện phần lớn thời gian trong ngày, gần như hàng ngày trong thời gian ít nhất là 2 tuần liên tiếp.

Giai đoạn trầm cảm phối hợp với biểu hiện lâm sàng rõ ràng trong lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác. Ở một số BN có các giai đoạn nhẹ, chức năng còn ở phạm vi bình thường, nhưng cần một sự cố gắng đáng kể [20]. Theo 2 hệ thống phân loại bệnh tâm thần phổ biến hiện nay là bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD-10) và DSM-5 trầm cảm được chia ra làm 3 mức độ: nhẹ, vừa và nặng. Trầm cảm nặng được chia ra làm hai loại là trầm cảm nặng có loạn thần và trầm cảm nặng không loạn thần.

Các triệu chứng loạn thần trong trầm cảm bao gồm các hoang tưởng và ảo giác. Tuy nhiên, theo Kaplan H. và cs (1994) triệu chứng hay gặp hơn cả là hoang tưởng (chiếm tới 90%), vì vậy trầm cảm có loạn thần còn được gọi là trầm cảm hoang tưởng. Theo ICD-10 trong giai đoạn trầm cảm nặng, người bệnh thường khó tiếp tục được công việc xã hội và nghề nghiệp hoặc công việc gia đình.

Theo DSM-5 BN trầm cảm nặng mất hoàn toàn khả năng lao động của mình [18], [20], [21]. Dịch tễ học của rối loạn trầm cảm Trầm cảm là bệnh lý phổ biến trên thế giới và tỷ lệ mắc ngày càng gia tăng. Các nghiên cứu về rối loạn trầm cảm đã cho thấy nguy cơ bị bệnh này trong toàn bộ cuộc đời là 10%-25% ở nữ giới và 5%-12% ở nam giới [5]. Theo DSM-5 tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm trong 12 tháng ở Mỹ là 7% dân số và 1,5% dân số Mỹ có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán cho trầm cảm mạn tính.

Tỷ lệ loạn khí sắc ở Mỹ là 0,5% dân số [20]. Theo một nghiên cứu trên đối tượng phụ nữ tuổi 45-65, có tỷ lệ mắc trầm cảm là 25%, nghĩa là cứ 4 người ở độ tuổi này thì có 1 người đang bị trầm cảm [5]. luan an 5 Trầm cảm khác nhau ở nhiều đặc điểm, khác nhau theo giới tính, theo lứa tuổi, theo trình độ văn hoá, theo nghề nghiệp, khác nhau theo nền kinh tế và khu vực địa lý [8], [19]. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm Biểu hiện lâm sàng của RLTC nói chung và đặc biệt là RLTC ở mức độ nặng nói riêng rất đa dạng và phong phú, biểu hiện rối loạn ở hầu hết các chức năng thần kinh cấp cao của con người như cảm xúc, tri giác, tư duy, trí nhớ, chú ý, hành vi.

Cả 2 hệ thống phân loại bệnh tâm thần phổ biến nhất hiện nay là ICD-10 và DSM-5 đều có sự tương đối thống nhất về các triệu chứng lâm sàng của RLTC [18], [20]. Khí sắc giảm Khí sắc giảm biểu hiện nét mặt của BN đơn điệu, luôn buồn bã, các nếp nhăn giảm nhiều. Tuy nhiên, triệu chứng này không hoàn toàn giống nhau ở các nhóm BN khác nhau về độ tuổi [5], [21]. Bàn luận về vai trò của triệu chứng này trong bệnh cảnh lâm sàng của các rối loạn trầm cảm, Dan J.

và cs (2006) cho rằng đây là triệu chứng quan trọng nhất của bệnh trầm cảm. Các tác giả còn cho rằng hầu hết BN trầm cảm đều có triệu chứng này [23]. Mất hứng thú và sở thích Mất hứng thú hoặc sở thích hầu như luôn xuất hiện. Cùng với triệu chứng giảm khí sắc, mất hứng thú và sở thích là triệu chứng chính trong trầm cảm trong cả hai hệ thống phân loại bệnh ICD-10 và DSM-5.

luan an 6 Người bệnh giảm hoặc mất hoàn toàn các hứng thú và sở thích mà BN đã có trước đây [5], [24], [25]. Tầm quan trọng của triệu chứng mất hứng thú và sở thích trong trầm cảm được các tác giả đánh giá rất cao. Đa số BN cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có, các sở thích trước đây bị ảnh hưởng nặng nề, kể cả ham muốn tình dục [19], [24], [25]. Trong ICD- 10F và DSM-5 mất hứng thú và sở thích được cho là triệu chứng chính và rất có giá trị trong chẩn đoán rối loạn trầm cảm [18], [20].

Cảm giác mệt mỏi và mất năng lượng Đây là triệu chứng rất phổ biến trong RLTC. Người bệnh biểu hiện trạng thái ức chế tâm lý vận động, giảm hoạt động, cảm giác mệt mỏi, dễ mệt mỏi dù chỉ sau một cố gắng rất nhỏ. BN nằm, ngồi một chỗ, không muốn và không thích tham gia bất kể công việc gì, ngồi hoặc nằm lâu ở một tư thế, đầu cúi gằm, vai thõng,… Đa số BN than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân nào, thậm chí chỉ với một cố gắng tối thiểu rất dễ làm cho họ có cảm giác kiệt sức [19], [25]. và cs (2007) cảm giác mệt mỏi thường tăng lên vào buổi sáng và giảm đi một chút vào buổi chiều.

Tuy nhiên, một số BN lại có triệu chứng mệt mỏi về buổi chiều. Buổi sáng, họ cảm thấy rất thỏa mái, dễ chịu, nhưng về chiều tối thì họ lại than phiền mệt mỏi và có cảm giác mất năng lượng. Triệu chứng mệt mỏi về buổi chiều hay đi kèm với triệu chứng ngủ nhiều và ăn nhiều [1]. Một số trường hợp (thường lứa tuổi thanh thiếu niên) có biểu hiện kích động tâm thần vận động, thể hiện bằng cơn cáu gắt, xung động kích động vô cớ hoặc bồn chồn đi lại, đứng ngồi không yên một chỗ [5], [26].

Giảm sự tập trung và chú ý Đây là triệu chứng thường gặp khiến BN rất khó chịu và phải đi khám bệnh. BN than phiền khó suy nghĩ, khó tập trung chú ý vào một việc gì đó. Ở mức độ nhẹ, chúng có thể xuất hiện dưới dạng phân tán chú ý nhẹ hoặc khó nhớ, BN than phiền không thể đọc xong một bài báo ngắn, không thể nghe hết một bài hát, không thể xem hết một chương trình ti vi mà BN trước đây vẫn quan tâm [19], [27]. và cs (2007) triệu chứng khó tập trung chú ý dẫn tới khả năng ghi nhớ của BN giảm sút rất nhiều.

Điều này lý giải tại sao BN trầm cảm lại có biểu hiện giảm sút trí nhớ gần [1]. Theo Bùi Quang Huy (2008) triệu chứng giảm khả năng tập trung chú ý biểu hiện rất rõ ở nhóm BN là học sinh, sinh viên. Các BN này có kết quả học tập rất kém do họ không có khả năng chú ý và ghi nhớ [19]. Rối loạn trí nhớ: giai đoạn trầm cảm người bệnh thường là giảm trí nhớ gần, người bệnh có thể quên mình vừa làm gì, trong khi đó trí nhớ xa thì vẫn còn duy trì tương đối tốt trong một thời gian dài.

Trẻ em thường giảm sút sự tập trung chú ý, còn ở người cao tuổi khó nhớ có thể là than phiền chính, làm dễ nhầm với mất trí. Khi trầm cảm được điều trị thành công thì vấn đề trí nhớ được giải quyết hoàn toàn [26]. Giảm khả năng tập trung chú ý ở BN trầm cảm là triệu chứng xuất hiện sớm và cũng mất đi muộn nhất so với các triệu chứng khác. Rối loạn chú ý là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng rối loạn trí nhớ ở BN trầm cảm.

BN trầm cảm thường biểu hiện rối loạn trí nhớ gần và đãng trí, các rối loạn trí nhớ cũng thường kéo dài dai dẳng và mất đi muộn hơn các triệu chứng khác [28], [29]. Mất tự tin, cảm thấy vô dụng hoặc tội lỗi BN thường có biểu hiện giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin, nghĩ mình thất bại trong mọi công việc, hay lưỡng lự, khó khăn hoặc mất khả năng ra luan an 8 quyết định dù chỉ là việc đơn giản [21]. Họ luôn cho mình là kẻ vô dụng, không làm được việc gì, họ luôn nghĩ mình đã làm hỏng mọi việc và đã trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và cho xã hội. BN mặc cảm tội lỗi liên quan đến các sai lầm nhỏ của mình trước đây, nhiều BN giải thích một cách sai lầm các hiện tượng thông thường hàng ngày như là một khiếm khuyết của bản thân họ [24], [30].

Các tác giả khác như Sadock B. và cs (2007); Dan J. và cs (2006) khẳng định có mối liên quan giữa triệu chứng cảm thấy vô dụng, tội lỗi với ý tưởng và hành vi tự sát. Các tác giả này cho rằng cảm giác vô dụng tội lỗi của BN càng nhiều thì ý định tự sát càng mãnh liệt [1], [23].

Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi có thể mạnh lên thành hoang tưởng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đặc điểm hình thái não và nồng độ serotonin ở bệnh nhân trầm cảm mức độ nặng" của tác giả Đỗ Xuân Tĩnh, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Cao Tiến Đức và GS.TS Nguyễn Lĩnh Toàn, được thực hiện tại Học viện Quân y vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích mối liên hệ giữa hình thái não và nồng độ serotonin ở những bệnh nhân mắc trầm cảm nặng, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế sinh học của bệnh lý này. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về trầm cảm mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc điều trị và can thiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và các nghiên cứu trong lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, nơi nghiên cứu về các rối loạn tâm thần có thể liên quan đến nồng độ serotonin. Bên cạnh đó, Nồng độ Serp5, RBP4 và IL18 trong huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cũng là một nghiên cứu đáng chú ý, liên quan đến các chỉ số sinh học có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về huyết động và chức năng tâm thu thất trái trong sốc nhiễm khuẩn sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố sinh lý có thể tác động đến tình trạng tâm thần của bệnh nhân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và sinh lý học.