CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những vấn đề chung về nghiện rượu mạn tính 1. Khái niệm Uống rượu với số lượng lớn trong một thời gian dài sẽ dẫn đến nghiện rượu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện rượu là nhu cầu thèm muốn, đòi hỏi thường xuyên đồ uống có cồn, hình thành thói quen, gây rối loạn nhân cách, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe.
Có 7 triệu chứng chính của hội chứng nghiện rượu, đó là: - Cảm giác thôi thúc phải uống rượu: người nghiện rượu khi đã bắt đầu uống rượu thì không thể ngừng lại được. Nếu họ bỏ rượu, họ cảm thấy thèm mãnh liệt. - Thói quen uống rượu hàng ngày: người uống rượu uống hết ngày này sang ngày khác. Họ uống rượu sau các khoảng thời gian nhất định để tránh hoặc làm nhẹ hội chứng cai rượu.
- Uống rượu được ưu tiên hơn các hành vi khác: với người nghiện rượu, uống rượu là ưu tiên hàng đầu, hơn cả sức khỏe, gia đình, xã hội, nghề nghiệp. - Có hiện tượng dung nạp rượu: với một nồng độ rượu trong máu bình thường, người nghiện rượu không bị ảnh hưởng. Lượng rượu uống của bệnh nhân ngày càng tăng dần. Đến giai đoạn cuối của nghiện rượu, sự dung nạp rượu tụt xuống, bệnh nhân mất năng lực chỉ sau khi uống một lượng rượu nhỏ.
- Lặp đi, lặp lại hội chứng cai rượu: các triệu chứng của hội chứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ rượu trong máu tụt xuống. Vì vậy hội chứng cai rượu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm, sau một đêm không uống rượu. 4 - Uống rượu vào buổi sáng: người nghiện rượu phải uống rượu vào buổi sáng sớm, ngay sau khi thức giấc để chặn hội chứng cai rượu. Ở hầu hết các nền văn hóa, uống rượu buổi sáng được coi là nghiện rượu.
- Tái nghiện rượu: sau một thời gian cai rượu, người nghiện rượu dễ dàng tái nghiện chỉ sau vài ngày uống rượu. Ngày nay, hầu hết các tác giả đều sử dụng tiêu chuẩn sau để xác định nghiện rượu: - Uống rượu hàng ngày trong thời gian từ 10 năm trở lên. - Mỗi ngày uống tối thiểu 300ml rượu 40 độ cồn. Hấp thu và chuyển hóa của rượu - Sự hấp thu của rượu Rượu uống là rượu etylic, được bào chế từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau trong tự nhiên bằng phương pháp cổ truyền hoặc công nghiệp.
Nguồn nguyên liệu chính để sản xuất rượu là ngũ cốc và sản phẩm cuối cùng để chế ra rượu là glucoza. Đường glucoza qua nhiều giai đoạn lên men để được sản phẩm cuối cùng là etylic. Rượu sau khi uống, được hấp thu ở tất cả các đoạn của ống tiêu hóa, nhưng chủ yếu là ở tá tràng và hỗng tràng. Thời gian hấp thu của rượu phụ thuộc vào tình trạng thức ăn có trong dạ dày.
Nếu dạ dày đầy thức ăn thì rượu được hấp thu chậm do thức ăn mất nhiều thời gian nằm trong dạ dày hơn là khi dạ dày rỗng. Các thức ăn chứa nhiều mỡ sẽ làm rượu chậm hấp thu so với thức ăn chứa nhiều bột. Rượu sau khi được hấp thụ sẽ dễ dàng đi qua màng tế bào, tốc độ hấp thu phụ thuộc vào 3 yếu tố: + Sự chênh lệch về nồng độ. + Tính thấm của màng tế bào.
+ Tốc độ lưu chuyển của máu. Nồng độ của rượu cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu của rượu. Rượu được hấp thu nhanh nhất khi nồng độ của rượu là 10 đến 30 độ cồn. Rượu đến 5 các cơ quan trong cơ thể qua đường máu, sau đó khuếch tán đến các mô qua các màng sinh học.
Tốc độ khuếch tán của rượu vào các mô có sự khác nhau phụ thuộc vào sự tưới máu của các mô đó. Rượu tập trung rất nhanh ở tim, phổi và não, nhưng chậm ở xương. Rượu khuếch tán vào phế nang với hệ số trao đổi cao. Khoảng 5% lượng rượu được thải trừ nguyên vẹn qua nước tiểu, mồ hôi và khí thở ra.
95% lượng rượu còn lại được chuyển hóa ở gan. Sau khi đạt nồng độ đỉnh trong máu thì nồng độ rượu giảm dần phụ thuộc vào tốc độ chuyển hóa ở gan và bài tiết của rượu [12]. - Chuyển hóa rượu tại gan Rượu được oxy hóa tại các ty lạp thể ở các tế bào gan làm giảm lượng pyruvat và tăng lượng lactat. Lactat dễ dàng ngấm vào máu, gây tăng nồng độ lactat trong máu.
Sự tăng lactat máu dẫn đến co cơ và tăng urê máu, có thể làm bùng phát các cơn goutte của bệnh nhân. Sự tăng lactat máu còn thúc đẩy quá trình tăng tạo sợi collagen, gây ra xơ gan. Chu trình Krebs bị ức chế do rượu làm rối loạn hô hấp tế bào ở gan. Sự ức chế này làm giảm lượng CO2 thải ra, nhưng không làm giảm lượng tiêu thụ oxy.
Ngoài ra, rượu còn gây rối loạn chuyển hóa các chất glucid, lipid và protid, tạo ra chứng gan nhiễm mỡ ở bệnh nhân nghiện rượu mạn tính. Chuyển hóa rượu tại gan tạo ra năng lượng, nhưng năng lượng này không dự trữ được mà phải dùng ngay. Chính vì thế mà người nghiện rượu có thể chỉ uống rượu mà không cần ăn gì [20]. Cơ chế bệnh sinh của nghiện rượu Phần lớn rượu chuyển hóa trong gan thành 2 giai đoạn: - Alcool chuyển hóa thành acetaldehyd dưới xúc tác của enzym alcool degydrogenase (ADH).
- Acetaldehyd chuyển hóa thành acetat. 6 Chất acetaldehyd liên kết với các monoamin trong não để chuyển thành tetraisoquinolin. Chất này có tác dụng như một morphin nội sinh, gắn với các thụ cảm thể morphin ở não, gây ra sảng khoái khi uống rượu. Mặt khác, rượu tác động lên phospholipid ở màng tế bào.
Khi nghiện rượu mạn tính, màng tế bào trở lên kém linh hoạt hơn, gây ra “màng cứng”. Nghiện rượu mạn tính gây giảm lượng GABA trong não và tăng số lượng thụ cảm thể GABA. Người sảng rượu có số lượng GABA thấp hơn hẳn so với người bình thường. Khi cai rượu, sự kích thích lên các thụ cảm thể GABA bị đình chỉ đột ngột gây ra suy giảm đột ngột chức năng hệ GABAnergic, kết quả là mất ức chế trung ương và là nguồn gốc của nhiều triệu chứng cai rượu như tăng tiết mồ hôi, tăng huyết áp, mạch nhanh, run tay, cơn co giật kiểu động kinh… Ngoài ra, khi cai rượu, trục dưới đồi-tiền yên-thượng thận cũng bị tác động làm tăng tiết corticoid, gây ra các triệu chứng mệt mỏi, cảm giác kiệt sức, cơn co giật kiểu động kinh, lú lẫn [12].
Loạn thần do rượu Theo Sadock B. Hội chứng cai rượu Nguyên nhân của hội chứng cai rượu Theo Myrick H và CS ( 2015), hội chứng cai rượu xuất hiện ở người nghiện rượu nhưng đã ngừng uống đột ngột hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống hàng ngày [21]. và CS (2011) cho rằng uống rượu quá mức kích thích hệ thống thần kinh. Nếu bệnh nhân uống hàng ngày, theo thời gian cơ thể của bệnh nhân trở nên phụ thuộc vào rượu.
Khi điều này xảy ra, hệ thống thần kinh trung ương của bệnh nhân không dễ dàng thích ứng với sự thiếu rượu 7 [22]. Nhiều tác giả cho rằng nếu bệnh nhân đột nhiên ngừng uống, hoặc giảm đáng kể số lượng rượu uống, nó có thể gây ra một số triệu chứng của hội chứng cai rượu như lo âu, mất ngủ, thay đổi nhịp tim, tăng huyết áp và sảng [23], [24]. Các tác giả khác cũng cùng quan điểm và cho rằng, các triệu chứng của hội chứng cai rượu bao gồm run, kích động, buồn nôn, ra mồ hôi, nôn, ảo giác, mất ngủ, tim đập nhanh, tăng huyết áp, sảng rượu và cơn co giật kiểu động kinh [26], [27], [28]. và CS (2014), các triệu chứng của hội chứng cai rượu ở các mức độ từ nhẹ đến sảng rượu.
Triệu chứng run, ảo giác và co giật thường xảy ra trong vòng 48 giờ sau khi cai rượu [29]. Lý do ngừng uống rượu - Bệnh nội khoa: chiếm 75% các lý do gây ngừng uống rượu ở bệnh nhân nghiện rượu. Các bệnh hay gặp là nhiễm trùng, cao huyết áp, loét dạ dày, tá tràng, viêm gan, xơ gan, viêm cầu thận mạn. - Bệnh ngoại khoa: chiếm 20% số trường hợp cai rượu.
Đó là các chấn thương, các bệnh đòi hỏi phải vào viện phẫu thuật như viêm ruột thừa, viêm tụy cấp. - Tự cai: chỉ chiếm 5% số trường hợp cai rượu. Triệu chứng của hội chứng cai rượu - Thèm rượu mãnh liệt: đây là triệu chứng bắt buộc có ở tất cả các bệnh nhân cai rượu. Bệnh nhân thèm rượu đến mức mọi suy nghĩ và hành động chỉ tập trung vào việc sao cho có rượu uống để giảm bớt cơn thèm rượu.
- Run tay, chân: triệu chứng này xuất hiện rất sớm sau khi ngừng uống rượu khoảng 2-3 giờ. Bệnh nhân run tay biên độ nhỏ, đi đứng loạng choạng. Họ không làm được các nghiệm pháp giữ thăng bằng. Run có thể xuất hiện ở miệng, ở mặt của bệnh nhân.
8 - Ăn ít, nôn, buồn nôn: bệnh nhân luôn trong tình trạng chán ăn, thậm chí không ăn gì. Bệnh nhân có cảm giác buồn nôn, nôn khan hoặc nôn hết thức ăn vừa ăn được [27], [30]. - Mất ngủ: đây là triệu chứng rất hay gặp trong cai rượu. Mất ngủ xuất hiện vào tối đầu tiên sau khi cai rượu.
Bệnh nhân rất khó vào giấc ngủ, ngủ không sâu và nhiều ác mộng. Giấc ngủ của bệnh nhân rất ngắn, hay thức giấc giữa chừng và cảm thấy rất mệt mỏi sau khi thức dậy. Mất ngủ tăng dần và đạt đến đỉnh vào ngày thứ 3 đến thứ 5 sau cai rượu, khi đó bệnh nhân có thể mất ngủ hoàn toàn [22]. và CS (2015) đã nghiên cứu rối loạn giấc ngủ trong cai nicotine, caffeine, rượu, cocaine, opioid và sử dụng cần sa.
Tác giả nhận thấy cai rượu gây mất ngủ giống như cai các chất nói trên [31]. Các tác giả cho rằng, cai rượu sau một thời gian dài nghiện rượu thường gây ra chứng mất ngủ trầm trọng. Do vậy, người nghiện rượu thường tái uống rượu để ngủ được. Tác giả cho rằng để điều trị mất ngủ do cai rượu, cần sử dụng thuốc chống co giật và thuốc chống trầm cảm kết hợp với liệu pháp nhận thức hành vi [31], [32].
- Rối loạn thần kinh thực vật: bệnh nhân có mạch nhanh trên 100 lần/phút. Mồ hôi của bệnh nhân ra như tắm mặc dù thời tiết không nóng. Kèm theo, bệnh nhân có huyết áp cao và huyết áp tối đa có thể đạt tới 180-200 mm Hg. Tuy nhiên, huyết áp không cao thường xuyên mà giao động, lúc cao, lúc về bình thường.
Thân nhiệt của bệnh nhân có thể tăng tới 38-39 độ C do run cơ gây ra tình trạng mất nước, mất điện giải [33]. - Lo lắng quá mức: bệnh nhân lo lắng nhiều vào ngày thứ 2 của cai rượu.