Luận án nghiên cứu suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết của bạn: { "ai_description": "Nghiên cứu nguyên nhân yếu tố nguy cơ và kết quả điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ

Trường đại học

Học viện Quân Y

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2018

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Bạch Mai

Suy hô hấp là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh. Tình trạng này xảy ra khi phổi không đáp ứng đủ nhu cầu oxy của cơ thể. Luận án tiến sĩ y học của Nguyễn Thành Nam tại Học viện Quân Y đã nghiên cứu vấn đề này tại khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu do PGS. Nguyễn Tiến Dũng và GS. Đồng Khắc Hưng hướng dẫn. Mục tiêu gồm ba phần chính. Thứ nhất, mô tả nguyên nhân gây suy hô hấp. Thứ hai, xác định yếu tố nguy cơ. Thứ ba, đánh giá kết quả điều trị. Trẻ sơ sinh có phổi chưa trưởng thành. Hệ thống hô hấp dễ tổn thương. Các bệnh lý như bệnh màng trong, viêm phổi, hít phân su thường gặp. Việc phát hiện sớm đóng vai trò quyết định. Kết quả điều trị phụ thuộc nhiều yếu tố. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng. Kết quả giúp cải thiện chất lượng hồi sức sơ sinh. Nghiên cứu góp phần giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ. Luận án được thực hiện theo quy trình khoa học nghiêm ngặt. Số liệu trung thực, khách quan và đã được xác nhận.

1.1. Khái niệm và phân loại suy hô hấp sơ sinh

Suy hô hấp sơ sinh là tình trạng rối loạn trao đổi khí. Biểu hiện gồm thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tím tái. Khí máu cho thấy PaO2 giảm và PaCO2 tăng. Điểm Apgar và thang điểm Silverman dùng để đánh giá mức độ. Suy hô hấp được phân loại theo nguyên nhân và thời điểm khởi phát. Nguyên nhân có thể từ phổi, đường thở, tim mạch hoặc thần kinh. Trẻ sinh non có nguy cơ cao do thiếu surfactant. Trẻ đủ tháng thường gặp viêm phổi hoặc hít phân su. Chẩn đoán sớm giúp can thiệp kịp thời.

1.2. Dịch tễ học và tầm quan trọng của vấn đề

Tỷ lệ suy hô hấp ở trẻ sơ sinh khá cao. Đây là nguyên nhân chính khiến trẻ phải nhập khoa hồi sức tích cực. Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai ghi nhận nhiều trường hợp nặng. Tử vong sơ sinh liên quan mật thiết với suy hô hấp. Bệnh màng trong chiếm tỷ lệ lớn ở trẻ sinh non. Các biến chứng như còn ống động mạch, nhiễm trùng làm tăng nặng. Thở máy là biện pháp điều trị phổ biến. Hiểu rõ dịch tễ học giúp xây dựng chiến lược can thiệp. Dữ liệu từ nghiên cứu đóng góp cho y học Việt Nam.

II. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Nguyên nhân suy hô hấp ở trẻ sơ sinh rất đa dạng. Nhóm bệnh lý hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất. Bệnh màng trong thường gặp ở trẻ non tháng. Hít phân su gặp ở trẻ đủ tháng hoặc già tháng. Thở nhanh thoáng qua thường tự khỏi sau vài ngày. Viêm phổi bẩm sinh do vi khuẩn như GBS gây nặng. Tăng áp lực động mạch phổi dai dẳng làm rối loạn trao đổi khí. Dị tật bẩm sinh như thoát vị hoành, tim bẩm sinh cũng gây suy hô hấp. Yếu tố nguy cơ đến từ mẹ và thai nhi. Sinh non làm giảm surfactant và trung tâm hô hấp chưa hoàn thiện. Cân nặng thấp liên quan chặt chẽ với nguy cơ bệnh. Ngạt lúc sinh gây tổn thương đa cơ quan. Bệnh lý mẹ như tiền sản giật, nhiễm độc thai nghén ảnh hưởng đến thai. Mổ đẻ chủ động làm tăng nguy cơ thở nhanh thoáng qua. Viêm ối, màng ối làm tăng nguy cơ viêm phổi sơ sinh. Phân tích các yếu tố này giúp dự phòng và can thiệp sớm.

2.1. Các nguyên nhân gây suy hô hấp sau khi sinh

Nguyên nhân gây suy hô hấp sau sinh gồm nhiều nhóm bệnh. Bệnh màng trong do thiếu surfactant là nguyên nhân hàng đầu. Hội chứng hít phân su gây tắc nghẽn đường thở. Thở nhanh thoáng qua liên quan chậm tiêu dịch phổi. Viêm phổi sơ sinh do liên cầu khuẩn nhóm B thường nặng. Tăng áp lực động mạch phổi dai dẳng gây tím nặng. Dị tật bẩm sinh hiếm gặp nhưng nguy hiểm. Nghiên cứu phân loại nguyên nhân theo thời điểm sau sinh. Việc xác định đúng nguyên nhân quyết định phác đồ điều trị. Mỗi nguyên nhân có hướng xử trí riêng.

2.2. Yếu tố nguy cơ từ mẹ và thai nhi

Yếu tố nguy cơ từ mẹ gồm tiền sản giật, nhiễm độc thai nghén. Bệnh lý tim mạch, suy thận, đái tháo đường cũng quan trọng. Viêm ối làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh. Yếu tố từ thai nhi gồm sinh non, nhẹ cân. Trẻ non tháng thiếu surfactant, não chưa trưởng thành. Trương lực cơ giảm làm kém khả năng phát động nhịp thở. Hệ miễn dịch chưa hoàn thiện dễ nhiễm trùng. Hạ thân nhiệt làm tăng nguy cơ suy hô hấp. Hạ đường huyết cũng là yếu tố nguy cơ độc lập. Nhận diện yếu tố nguy cơ giúp tiên lượng và dự phòng.

III. Phương pháp nghiên cứu và kết quả điều trị suy hô hấp

Nghiên cứu sử dụng hai thiết kế chính. Mục tiêu một dùng phương pháp mô tả và bệnh chứng. Mục tiêu hai dùng phương pháp tiến cứu theo dõi dọc. Cỡ mẫu tính theo công thức chọn mẫu chuẩn. Dữ liệu thu thập từ trẻ sơ sinh tại khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả điều trị được chia thành hai nhóm. Nhóm thành công là bệnh nhi khỏi và ra viện. Nhóm thất bại là bệnh nhi tử vong. Thở máy là biện pháp can thiệp chủ đạo. Thời điểm chỉ định thở máy ảnh hưởng đến kết quả. Các chỉ số khí máu được đánh giá nhiều lần. OI và VI giúp tiên lượng mức độ nặng. Troponin T liên quan đến tổn thương cơ tim. Sử dụng surfactant và kháng sinh cải thiện hiệu quả. Thuốc vận mạch cần thiết ở trẻ sốc. Dinh dưỡng đường tiêu hóa sớm cải thiện tiên lượng. Nghiên cứu ghi nhận nhiều yếu tố ảnh hưởng độc lập. Kết quả cung cấp bằng chứng cho thực hành lâm sàng.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Thiết kế nghiên cứu gồm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu mô tả cắt ngang để xác định tỷ lệ và nguyên nhân. Phương pháp bệnh chứng dùng để tìm yếu tố nguy cơ. Giai đoạn sau tiến cứu theo dõi dọc kết quả điều trị. Cỡ mẫu tối thiểu tính theo công thức chuẩn. Đối tượng là trẻ sơ sinh nhập khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai. Tiêu chuẩn chọn mẫu rõ ràng, loại trừ chính xác. Số liệu được xác nhận và chấp thuận bởi cơ sở nghiên cứu. Các biến số gồm đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị.

3.2. Kết quả điều trị thở máy và yếu tố ảnh hưởng

Kết quả điều trị thở máy gồm hai nhóm thành công và thất bại. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả. Điểm Apgar thấp tại phút thứ năm làm tăng nguy cơ tử vong. Cân nặng lúc sinh thấp là yếu tố tiên lượng xấu. Thời điểm chỉ định thở máy quyết định hiệu quả. Thời gian thở máy kéo dài tăng biến chứng. Nồng độ Troponin T cao liên quan tổn thương tim. Khí máu sau thở máy 12 đến 48 giờ có giá trị tiên lượng. OI và VI phản ánh mức độ rối loạn oxy hóa. Sử dụng sớm surfactant cải thiện kết quả. Kháng sinh và thuốc vận mạch hỗ trợ điều trị. Dinh dưỡng sớm giảm nguy cơ biến chứng.

IV. Kết luận và ứng dụng lâm sàng trong điều trị suy hô hấp sơ sinh

Nghiên cứu mang lại nhiều kết luận quan trọng. Suy hô hấp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sơ sinh. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ đa dạng, phức tạp. Sinh non và nhẹ cân là yếu tố nguy cơ chính. Bệnh lý mẹ làm tăng nguy cơ đáng kể. Phát hiện sớm và điều trị kịp thời cải thiện kết quả. Thở máy đúng thời điểm giảm biến chứng nặng. Surfactant và kháng sinh nâng cao hiệu quả điều trị. Các chỉ số OI, VI giúp tiên lượng chính xác. Kết quả ứng dụng trực tiếp trong lâm sàng. Nhân viên y tế nhận diện sớm trẻ nguy cơ cao. Hồi sức sơ sinh cần chuẩn hóa theo phác đồ. Corticoid dự phòng trước sinh cho mẹ giảm nguy cơ. Kiểm soát thân nhiệt và đường huyết cho trẻ. Dinh dưỡng sớm tăng cường sức đề kháng. Nghiên cứu định hướng chiến lược giảm tử vong. Dữ liệu là tài liệu tham khảo có giá trị. Luận án đóng góp thiết thực cho y học Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án cung cấp bức tranh đầy đủ về suy hô hấp sơ sinh. Dữ liệu nguyên nhân và yếu tố nguy cơ cập nhật. Kết quả điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai được phân tích sâu. Ý nghĩa khoa học nằm ở thiết kế nghiên cứu chặt chẽ. Phương pháp mô tả kết hợp bệnh chứng phù hợp. Theo dõi dọc giúp đánh giá chính xác kết quả. Ý nghĩa thực tiễn giúp bác sĩ nhận diện trẻ nguy cơ cao. Nghiên cứu đề xuất can thiệp kịp thời. Các yếu tố tiên lượng như OI, VI, Troponin T được khẳng định giá trị. Kết quả giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh. Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho đào tạo.

4.2. Khuyến nghị cho công tác hồi sức sơ sinh

Khuyến nghị đầu tiên là tăng cường chăm sóc trước sinh. Theo dõi thai kỳ giúp phát hiện bệnh lý mẹ sớm. Dùng corticoid dự phòng cho mẹ sinh non. Chuẩn bị đội ngũ hồi sức sơ sinh tại phòng đẻ. Nhận diện trẻ nguy cơ cao ngay sau sinh. Chỉ định thở máy kịp thời khi có suy hô hấp. Kiểm soát chặt thân nhiệt và đường huyết. Dinh dưỡng sớm bằng đường tiêu hóa được khuyến khích. Theo dõi khí máu và các chỉ số oxy hóa định kỳ. Đào tạo liên tục cho nhân viên y tế. Áp dụng phác đồ điều trị thống nhất. Giảm tỷ lệ mổ đẻ không cần thiết. Các giải pháp này giảm tử vong sơ sinh hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu nguyên nhân yếu tố nguy cơ và kết quả điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại khoa nhi bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ CHẨN ĐOÁN HÔ HẤP TRẺ SƠ SINH 1. Một số đặc điểm sinh lý cơ quan hô hấp trẻ sơ sinh 1. Những thay đổi sinh lý quan trọng ở phổi Đối với trẻ mới sinh, một hệ quả tất yếu xảy ra ngay sau khi b ắt đầu sống trong điều kiện mới ở ngoài bụng mẹ là mất liên lạc với cơ thể mẹ qua rau thai và mất trao đổi chất qua rau.

Như vậy đối với trẻ vừa mới đẻ, điều quan trọng nhất là phải thích nghi được với đời sống mới ở ngoài bụng mẹ và bắt đầu hô hấp bằng phổi. Ngay sau sinh, trẻ sơ sinh không còn được liên kết với rau thai nữa và sẽ phụ thuộc vào phổi như là nguồn cung cấp oxy duy nhất. Do đó chỉ trong vài giây, dịch trong phổi phải được hấp thu khỏi phế nang, hai phổi phải được chứa đầy khí trời (oxy, CO2 …), các mạch phổi phải dãn để tăng dòng máu đến phế nang giúp oxy được hấp thu và vận chuyển đi khắp cơ thể [13], [19]. 14 Nhịp thở đầu tiên ngay sau sinh của trẻ đưa khí trời vào phế nang và đẩy dịch phế nang ra ngoài.

Nồng độ catecholamine, vasopressin tăng lên trong máu. Prolactin và glucocorticoid đảm bảo phổi đào thải hết dịch trong lòng phế nang, thể tích cặn được hình thành, điều đó giúp việc trao đổi khí dễ dàng và tạo cơ sở cho những nhịp thở tiếp theo [20], [21]. Tuy nhiên nếu trẻ ngừng thở hoặc vận động cơ hô hấp yếu sau sinh sẽ khó khăn trong việc đẩy dịch ra khỏi phế nang. Trường hợp này hay gặp ở những trẻ ngạt, sinh non, sang chấn trước và trong quá trình sinh, đẻ nhanh, mổ đẻ chưa có chuyển dạ hoặc trẻ có mẹ bị các bệnh nội khoa, mẹ có sử dụng thuốc gây nghiện hoặc gây mê.

Thích nghi của trẻ sơ sinh từ cuộc sống trong tử cung ra ngoài  Hoạt động hô hấp Ngay từ trong bào thai đã có những hoạt động hô hấp. Ngay sau sinh, một trong những yếu tố quan trọng nhất kích thích nhịp thở của trẻ là nhiệt độ thấp hơn so với trong tử cung; ngoài ra còn có các tác động khác như động chạm trẻ, áp lực không khí, âm thanh tiếng động… cũng tác động kích thích thần kinh trung ương có những nhịp thở tiếp theo. Sự đáp ứng của cơ quan nhận cảm hóa học trung ương rất quan trọng với tình trạng thiếu oxy máu, tăng CO2 máu và giảm pH cũng kích thích hoạt động hô hấp [20],[21],[22]. Sự thích nghi của phổi: nhịp thở đầu tiên đã tạo được áp lực khoảng ­40 đến ­100 cmH2O do đó không khí vào được khoảng 20­80 ml.

Trong khoảng 3 phút đầu trẻ thường chỉ có động tác thở vào ( thở nấc), sau đó muốn có nhịp thở đều, ổn định phổi phải thắng được một sức cản là sức căng bề mặt (đó là áp lực màng trên bề mặt các tế bào biểu mô phế nang làm các phế nang không dính vào nhau cuối thì thở ra) thì mới tạo được 15 dung tích cặn chức năng. Nhờ có dung tích cặn chức năng mà sự trao đổi khí giữa các phế nang và mao mạch được liên tục đảm bảo cho các lần thở sau được dễ dàng, ổn định. Điều này không khó khăn với trẻ đủ tháng khỏe mạnh, nhưng có nhiều trở ngại với trẻ đẻ non, ngạt, hạ đường huyết … vì những trẻ này sau khi cắt rốn nồng độ CO2 trong máu quá cao gây ức chế hô hấp nên trẻ thở yếu không đủ tạo dung tích cặn chức năng dẫn đến xẹp phổi [21], [22]. Muốn tạo dung tích cặn chức năng phải có chất surfactant.

Surfactant được tổng hợp từ tuần thứ 24 trở đi được dự trữ dưới dạng thể vùi các lá mỏng và càng về giai đoạn cuối thai kỳ lượng surfactant càng được sản xuất nhiều, thành phần của chúng có nhiều dipalmitoyl phosphatidyl choline và phosphatidyl glycerol. Chất này có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt, tăng độ giãn và thể tích phổi, hình thành dung tích cặn chức năng, cân bằng luồng khí tới các phế nang và giảm công năng hô hấp. Hơn 90% surfactant sau khi sử dụng sẽ được tái tổ hợp trong vòng 10 giờ, đây chính là cơ sở để duy trì lượng surfactant trên bề mặt phế nang, đảm bảo phế nang không bị xẹp và cũng là cơ sở để điều trị sớm thiếu hụt surfactant ngay sau sinh. Những yếu tố ảnh hưởng đến giảm sản xuất surfactant là đẻ non, thiếu oxy chu sinh, vỡ ối kéo dài, viêm ối màng ối, mẹ bị đái tháo đường phụ thuộc insulin, trẻ trai, thuốc cao huyết áp beta­adrenergic, thiếu hocmon tuyến giáp (T4) … Glucocorticoid có vai trò tăng cường sản xuất surfactant trong thời kỳ bào thai [21], [22], đây chính là cơ sở của việc sử dụng Betamethasone, Dexamethasone cho những bà mẹ có nguy cơ sinh non từ sau tuần 24 giúp cải thiện chức năng phổi ở trẻ sinh non.

 Hoạt động tuần hoàn 16 Khi trẻ ra đời, lượng máu qua phổi gấp 10 lần thời kỳ bào thai do sau khi cắt rốn áp lực máu trong tĩnh mạch chủ dưới và nhĩ phải giảm làm đóng lỗ Botal. Ống Botal dần không hoạt động nên lượng máu lên phổi tăng. Để bảo vệ tổ chức phổi, sức cản các mao mạch phổi giảm, hình thành áp lực âm trong lồng ngực. Do vậy áp lực ở động mạch phổi giảm hơn so với động mạch chủ, dòng máu trong ống động mạch đổi chiều, từ động mạch chủ sang động mạch phổi; ống động mạch sẽ đóng lại sau 3­7 ngày [21], [22].

Ở những trẻ bị ngạt, tổn thương chức năng cơ tim do vậy sẽ giảm cung lượng tim đi nuôi dưỡng cơ thể nên hậu quả thứ phát sẽ dẫn đến tổn thương các cơ quan khác trong cơ thể đặc biệt là não.  Hoạt động thần kinh Sau khi sinh, trung tâm hô hấp ở hành tủy bị kích thích gây ra nhịp thở, lúc đầu chỉ có động tác hít vào ngắt quãng sau đó nồng độ oxy máu tăng dần kích thích trung tâm điều hòa nhịp thở ở vỏ não làm nhịp thở đều và sâu hơn [21], [22]. Như vậy, để tránh tình trạng ngạt sau đẻ phải có sự chuẩn bị ngay từ trước cuộc đẻ và ngay sau sinh trong đó việc hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều trị và chăm sóc trẻ sau này. Đặc điểm sinh lý trẻ sơ sinh non tháng  Định nghĩa sơ sinh non tháng + Sơ sinh đẻ non: tuổi thai < 37 tuần hoặc dưới 259 ngày [23], [24] + Trẻ có khả năng sống được là trẻ được sinh ra sống từ 22 tuần tuổi hoặc cân nặng ít nhất là 500g + Phân loại trẻ non tháng [23], [25]: ­ Trẻ 24 ­ < 28 tuần: Trẻ cực non 17 ­ Trẻ 28 ­ < 32 tuần: Trẻ rất non ­ Trẻ 32 ­ < 37 tuần: Non tháng ­ Trẻ 37 – 42 tuần: đủ tháng ­ Trẻ > 42 tuần: già tháng + Phân loại trẻ nhẹ cân [23], [26]: ­ Cân nặng thấp: cân nặng 1.500 g ­ Cân nặng rất thấp: cân nặng 1.500g ­ Cân nặng quá thấp: cân nặng < 1.000g  Đặc điểm sinh lý­bệnh lý trẻ sơ sinh non tháng Sơ sinh đẻ non, các hệ cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện, là những đối tượng rất dễ mắc các bệnh và biến chứng nguy hiểm với tỷ lệ tử vong rất cao như là: suy hô hấp, loạn sản phế quản phổi, tổn thương ruột, chức năng hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, các rối loạn huyết động của hệ thống tim mạch.

Các biến chứng này đều bắt nguồn từ các cơ quan bộ phận chưa hoàn chỉnh của sơ sinh, do đó tỷ lệ tử vong sơ sinh rất cao trên những trường hợp đẻ non, kể cả tỷ lệ tử vong trong năm đầu tiên của cuộc đời. Sau khi sinh trẻ chuyển từ cuộc sống trong môi trường nước sang môi trường cạn. Nhịp thở đầu tiên bằng tiếng khóc giúp bắt đầu hoạt động hô hấp giúp trẻ bắt đầu làm quen với cuộc sống ngoài tử cung. Tuy nhiên hô hấp của trẻ bị ảnh hưởng bởi thiếu oxy máu, toan hóa, hạ nhiệt độ ­ là những thành phần kích thích hoạt động hô hấp [20].

Trẻ đẻ non thường thở không đều, có cơn ngừng thở dài hơn trẻ đủ tháng. Hiện tượng rối loạn nhịp thở này có thể kéo dài tới 2­3 tuần sau đẻ hoặc lâu hơn tùy tuổi thai. 18 Trẻ đẻ non dễ bị suy hô hấp hơn trẻ đủ tháng do phổi chưa trưởng thành, phế nang khó giãn nở, cách xa các mao mạch nên sự trao đổi oxy khó khăn hơn, nước ối tiêu chậm, các mao mạch tăng tính thấm dễ sung huyết. Lồng ngực hẹp, xương sườn, cơ liên sườn chưa phát triển làm hạn chế di động lồng ngực.

Ngừng thở: Là một biến chứng rất thường gặp ở sơ sinh non tháng. Được định nghĩa là khoảng thời gian trẻ không thở kéo dài trên 20 giây, và có thể kèm theo hiện tượng chậm nhịp tim, nguyên nhân do chưa trưởng thành trung tâm điều khiển hô hấp và đôi khi do tắc nghẽn đường hô hấp cũng gây ra hiện tượng ngừng thở. Thông thường sau sinh, sau những nhịp thở đầu tiên trẻ xuất hiện ngừng thở tiên phát, kích thích sẽ thở trở lại. Tuy nhiên nếu vẫn tiếp tục thiếu hụt oxy trong giai đoạn ngừng thở tiên phát trẻ có thể thở nấc vài nhịp rồi sẽ ngừng thở thứ phát dẫn đến suy hô hấp nếu không được hỗ trợ hô hấp kịp thời [13].

Diễn biến này dễ xảy ra ở trẻ đẻ non do chức năng, phản xạ hô hấp chưa hoàn thiện. Tổ chức não nhiều nước, hồi não chưa hình thành, không rõ các đường rãnh, nếp nhăn, vỏ não chưa hoạt động nên trẻ ít hoặc không cử động, thở nông, khóc yếu, phản xạ sơ sinh yếu hoặc chưa có tùy thuộc mức độ đẻ non. Suy hô hấp sơ sinh 1. Đặc điểm suy hô hấp sơ sinh Suy hô hấp là tình trạng rối loạn chức năng hô hấp, gây rối loạn trong quá trình trao đổi khí, không đủ khả năng cung cấp oxy dẫn đến thiếu oxy và không thải trừ carbonic gây tăng carbonic máu [11], [27], [28].

Suy hô hấp sơ sinh là bệnh lý thường gặp, gặp ở giai đoạn sớm của thời kỳ sơ sinh lên tới 7% số trẻ sinh ra đủ tháng [6]. 19 Suy hô hấp sơ sinh được xác định bởi một hay các dấu hiệu thở gắng sức như là thở nhanh, phập phồng cánh mũi, co rút lồng ngực, thở rên [7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ