CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu về trầm cảm ở người trưởng thành. Tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành Tác giả Trần Quỳnh Anh (2018) đã tiến hành khám sàng lọc 3675 người trưởng thành với tỷ lệ nam là 53% và nữ là 47%; Trong đó có 46,7% ở độ tuổi từ 18 — 39. Sau khám sang lọc, phát hiện 452 người nghi ngờ mắc tram cảm. Kết qua cho thấy con số người trải qua trầm cảm ở nữ cao hơn nam, tập trung trong nhóm tuổi từ 50-59 tuổi.
Tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm chủ yếu trong đời ở phụ nữ (21,3%) cao gần gấp đôi so với nam giới (12,7%). Tỷ lệ này đã được ghi nhận ở các quốc gia và nhóm dân tộc khác nhau. Phụ nữ có nguy cơ mắc chứng rối loạn tram cảm cao nhất trong những năm sinh nở (Noble, 2005). Theo tác giả Nguyễn Thanh Cao (2011) nghiên cứu thực trạng tram cảm và một số yếu tô nguy cơ đến tram cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn năm 2011 với số lượng mẫu nghiên cứu là 4451 người trưởng thành nằm trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc tram cảm ở người trưởng thành theo giới tính tại phường Sông Cầu là 4,3%, nam 1,6%, nữ 8,3% gấp 5 lần nam giới; tỷ lệ mắc trầm cảm theo tinh trạng hôn nhân cao nhất ở nhóm có vợ/chồng ly di/ly thân 21,1%, tiếp đến là nhóm góa vợ/chồng chiếm 10,5% tỷ lệ mắc trầm cảm; ở nhóm trình độ học van tỷ lệ mắc tram cảm cao nhất ở nhóm có trình độ phô thông trung học chiếm 5,6%; đối với yếu tố nghề nghiệp, nhóm không nghề nghiệp có tỷ lệ mắc tram cảm cao nhất chiếm 18,1%; ở nhóm thu nhập gia đình, tỷ lệ mắc tram cảm cao nhất ở nhóm người thu nhập thấp chiếm 8,9%. Cuộc khảo sát của tác giả Moussavi.404 người tham gia từ 60 quốc gia ở tất cả các khu vực trên thế giới. Nhìn chung, tỷ lệ hiện mắc trong 1 năm đối với riêng giai đoạn tram cảm (chân đoán theo ICD-10) là 3,2% (KTC 95% 3,0 — 3,5%); đối với đau thắt ngực 4,5% (4,3%-4,8%); đối với viêm khớp 4,1% (3,8% — 4,3%); hen suyễn 3,3% (2,9% — 3,6%); và đối với bệnh tiểu đường 2,0% (1,85 — 2,2%). Trung bình từ 9,3% đến 23,0% những người tham gia mắc một hoặc nhiều bệnh thực thé mãn tính có tram cảm kèm theo.
Kết quả này cao hơn đáng kế so với kha năng bị tram cảm khi không có bệnh lý mãn tính. Sau khi điều chỉnh các yếu tô kinh tế xã hội và tình trạng sức khỏe, trầm cảm làm suy giảm sức khỏe nhiều nhất so với các bệnh mãn tính khác. Nhất quán giữa các quốc gia và các đặc điểm nhân khẩu học khác nhau, những người trả lời bị trầm cảm kèm theo một hoặc nhiều bệnh mãn tính có điểm số sức khỏe tôi tệ nhất trong tất cả các tình trạng bệnh. Nghiên cứu của tác giả Catherine K.
Ettman và đồng nghiệp (2020) cho thấy tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm ở Hoa Kỳ trong thời gian xảy ra đại dịch COVID- 19 cao hơn gap 3 lần so với trước đại địch COVID-19 đo các yếu tố như: thu nhập giảm, ít tiền tiết kiệm hơn và thưởng xuyên phải đối mặt với các yếu tố gây căng thắng. Đặc biệt là tỷ lệ mắc chứng rỗi loan tram cảm nặng suốt đời được phát hiện chiếm 25% ở những người trưởng thành sống ở các quốc gia có thu nhập thấp (Mesa-Vieira C, 2022). Tram cam cting phô biến hơn ở phụ nữ trên 30 tuổi, sống ở nông thôn và có thu nhập thấp (Ferrari, A. Nguyên nhân của rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành Sự tương tác phức tạp giữa các yêu tố xã hội, tâm lý và sinh học là một trong những nguyên nhân hang dau gây tram cảm (WHO, 2023).
Các van đề bệnh tật thé chất thường đi kèm với những bat thường về mặt sinh học, chăng hạn như những bất thường của các chất dẫn truyền thần kinh. Việc thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng não và có thể gây trầm cảm (Boas, G. Các bệnh về thê chất cũng ảnh hưởng đến quá trình miễn dịch thần kinh và nội tiết, gây rối loạn cảm xúc. Nhiều bệnh lý thực thể có thé gây mat cân băng hóa học trong não, có thé gây ra hoặc kèm theo tram cảm (Zhou, Q, & Li, N.
Một số quá trình sinh học được cho là có liên quan đến khuynh hướng tram cảm của phụ nữ, bao gồm tính dé bị tôn thương do di truyền, sự thay đôi nội tiết tố liên quan đến các khía cạnh khác nhau của chức năng sinh sản và sự nhạy cảm quá mức đối với sự thay đổi nội tiết tố như vậy trong hệ thống não làm trung gian cho trạng thái trầm cảm. Các sự kiện tâm lý xã hội như căng thang về vai trò, trở thành nạn nhân, xã hội hóa theo giới tính, cách ứng phó va địa vi xã hội thâp đêu được coi là những nguyên nhân góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm ở phụ nữ. Phụ nữ dễ bị trầm cảm do căng thăng và thay đổi do mùa hơn nam giới (hơn 80% người mắc chứng rối loạn cảm xúc theo mùa là phụ nữ). Tram cảm ở phụ nữ có thé phát triển trong các giai đoạn khác nhau của quá trình chu kỳ sinh sản (rối loạn tiền kinh nguyệt, trầm cảm khi mang thai, tình trạng trầm cảm sau sinh và trầm cảm mãn kinh).
Các biến cố sinh sản khác như vô sinh, say thai, thuốc tránh thai và điều trị bằng hormone đã được báo cáo là góp phần gây trầm cảm ở phụ nữ (Noble, 2005). Áp lực và cạnh tranh trong cuộc sống làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm. Những căng thang xã hội khác nhau có thé gây ra cho cá nhân cảm giác thất vọng, bất lực va điều nay góp phan gây ra tram cảm (Kohler, C. Những căng thăng trong cuộc sống như vậy bao gồm chan thương thời thơ ấu, ly hôn, mat tình yêu, mang thai, căng thăng sau sinh, phá thai và gánh nặng kinh tế (Wosu, A.
Những cá nhân có đặc điểm nhân cách khác nhau có cường độ ứng phó khác nhau đối với các kích thích bên ngoài. Những người đã trải qua sang chan thời thơ ấu có khả năng mắc trầm cảm cao hơn. Ngoài ra, những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống như khuyết tật và căng thang sau sinh có thé gây ra những ton thương tâm lý ở các mức độ khác nhau. Tram cảm cũng có thé bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền.
Những người trong gia đình có tiền sử trầm cảm có xu hướng mắc bệnh tương tự thường xuyên hơn những người không có tiền sử gia đình trầm cảm (Bromberger, J. Các yếu tố ảnh hưởng tới rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành Một nghiên cứu định tính của Mazure, C. (1998) đã phát hiện ra các yếu tố gây căng thang có khả năng xảy ra ở bệnh nhân tram cảm cao gấp 2,5 lần so với nhóm đối chứng, và trong các mẫu cộng đồng, 80% các trường hợp tram cảm đã trải qua giai đoạn nặng nề trong cuộc sống. Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này dựa trên các mẫu là nữ giới.
Mối liên hệ quan trọng giữa các yếu tố gây căng thăng trước đó và trầm cảm đã được xác nhận bằng thử nghiệm nghiêm ngặt. Rõ ràng hầu hết các giai đoạn tram cảm nặng đều xảy ra sau khi các sự kiện căng thăng trong cuộc sống xảy đến (mặc dù hầu hết mọi người không bị tram cảm ngay cả khi ho trải qua một sự kiện tiêu cực trong cuộc sông). Bên cạnh đó, sự không hài lòng và bắt hòa trong hôn nhân có liên quan chặt chẽ đến các triệu chứng trầm cảm với mối tương quan trung bình giữa sự không hài lòng trong hôn nhân và các triệu chứng trầm cảm (Salinger, 2020). Đặc biệt, nguy cơ tram cảm có xu hướng gia tăng đối với những người là nạn nhân của hành vi bạo lực (Alhabib, Nur, & Jones, 2012).
Một đánh giá của Dutton và đồng nghiệp (2006) cho thấy nạn nhân của hành vi bao lực có nguy co tram cảm cao gấp đôi so với dan số nói chung. Trong đó, ảnh hưởng của bạo lực về mặt tinh thần sẽ kéo dài hơn so với bạo lực về mặt thể chất (Bonomi, 2006). Những phụ nữ trải qua bao lực tinh thần kéo dài trên 5 năm có tỷ lệ mắc trầm cảm nhiều hơn, đau khổ tâm lý cao gấp đôi so với những phụ nữ chưa bao giờ bị bạo lực và thấp hơn so với những phụ nữ mới bị bạo lực (Bonomi, 2005 & Porcerelli, 2006). Nghiên cứu của tác giả Dang Thi Hà (2011) khảo sat sự tương quan cua nồng độ estrogen va FSH trên 155 phụ nữ 45 - 59 tuổi; độ tuổi của phụ nữ tương quan thuận với nồng độ estrogen và tương quan nghịch với các biểu hiện trầm cảm.
Giai đoạn quanh mãn kinh với đặc điểm là thay đổi nồng độ các hormone cũng là yếu tố làm phụ nữ nhạy cảm hơn, dé xuất hiện các triệu chứng tram cam. Nguy cơ xuất hiện tram cảm tăng 1,3 - 1,55 lần ở giai đoạn mãn kinh và tăng 1,71 - 2,89 lần ở nhóm sau mãn kinh. Phụ nữ mãn kinh sớm do phẫu thuật hoặc suy buồng trứng sớm có nguy cơ mắc trầm cảm cao. Hậu quả của rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành Rối loạn trầm cảm làm suy yếu đáng ké chức năng tâm lý xã hội và nghề nghiệp của người mắc, ảnh hưởng đến cảm xúc cũng như nhận thức của họ về bản thân và thé giới xung quanh (Gotlib I.
Người trưởng thành mắc chứng rối loạn trầm cảm nặng thường ít khi hoạt động thé chất và có thé kèm theo rối loạn giác ngủ, đây là một triệu chứng rất khó chịu, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sông ở bệnh nhân trầm cảm với khoảng 97% cho biết khó ngủ khi bị trầm cảm và 59% cho biết giấc ngủ kém ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc song của ho (Nutt, D. Đặc biệt, những người mắc chứng rối loạn tram cảm cũng gặp vân đê trong việc duy trì các môi liên hệ với gia đình và bạn bẻ. Họ phải đôi duy trì sự cân bằng giữa việc ở trong bối cảnh xã hội và việc ở một mình (Gunnarson, AB. Hậu quả của rỗi loan tram cảm không chỉ gây ảnh hưởng ngăn hạn ma còn kéo theo những tác động lâu dài.
Rối loạn trầm cảm khởi phát sớm có thể khiến thu nhập hang năm trong tương lai thấp hon 12% - 18% so với phụ nữ cùng độ tuổi không mắc tram cảm hoặc mắc sau năm 21 tuôi (Ernst R.