Chương IH — Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh” — đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi cụ thé với hoạt động can thiệp, trị liệu tâm lý, trong đó có cả tiêu chuẩn về đội ngũ nhà tâm lý lâm sàng có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp,. đề thực hiện hoạt động can thiệp trị liệu tâm lý. [8] Chính vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Can thiệp tâm lý cho một trường hợp trẻ vị thành niên có rối loạn tram cảm” nhằm mô tả rõ hơn về những triệu chứng ở một trẻ vị thành niên có rỗi loạn trầm cảm và chứng minh hiệu quả của can thiệp tâm lý lâm sàng. Đặc biệt, qua đề tài tôi được rèn luyện thêm về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, thấm nhuan đạo đức nghề nghiệp dé có thé đáp ứng các yêu cầu cho hoạt động can thiệp, trị liệu tâm lý.
Mục đích nghiên cứu Nhằm đánh giá lâm sàng, xây dựng kế hoạch trị liệu tâm lý cho một trẻ vị thành niên có rối loạn trầm cảm. Từ đó, giúp thân chủ nâng cao chất lượng cuộc sống, kết quả học tập và giảm bớt các triệu chứng trầm cảm. Từ kết quả thực hành lâm sàng dé đưa ra các kết luận và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc hỗ trợ trẻ vị thanh niên có rối loan tram cảm tại môi trường học đường. Nhiệm vụ nghiên cứu Điểm luận một số nghiên cứu về rối loạn tram cảm và trị liệu tâm ly cho vi thành niên có rối loan tram cam.
Trinh bày một số van dé: khái niệm, phương pháp, công cụ,. đánh giá cho một trường hợp rỗi loạn tram cảm vị thành niên. Thực hiện đánh giá, định hình trường hợp về trường hợp một trẻ vị thành niên có rối loan tram cảm. Từ đó, lên kế hoạch và thực hiện can thiệp tâm lý cho một trường hợp trẻ vị thành niên có rối loạn trầm cảm và đưa ra một số khuyến nghị trong công tác phòng ngừa, phát hiện sớm và can thiệp tại học đường.
Khách thể nghiên cứu - Một trẻ vị thành niên có rối loạn tram cảm 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp nghiên cứu trường hop - Phương pháp quan sát lâm sàng - Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng - Phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời - Phương pháp trắc nghiém/thang do 6. Giới hạn nghiên cứu Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tâm lý học lâm sàng theo định hướng ứng dụng, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và trình bày một số khía cạnh cụ thé sau đây: - Khách thể nghiên cứu: 01 trẻ vị thành niên có rối loạn tram cảm - Phạm vi nghiên cứu: thực hiện đánh giá, can thiệp thông qua hoạt động của Phòng tâm lý học đường trong trường phổ thông. - Phương pháp can thiệp: phương pháp can thiệp tâm lý (sử dụng liệu pháp nhận thức hành vi là liệu pháp can thiệp chính, kết hợp với liệu pháp khác) CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAN DE ROI LOAN TRAM CAM O TRE VỊ THÀNH NIÊN 1.Diém luận nghiên cứu về rối loan trầm cảm ở trẻ vị thành niên 1. Các nghiên cứu thực trạng rỗi loạn tram cảm ở VIN Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới - WHO, có khoảng 264 triệu người có các triệu chứng trầm cảm điển hình, nghĩa là khoảng 3,4% dân số toàn cầu mắc bệnh này. Có tới hơn 100 triệu người bị rối loạn sức khỏe tâm thần ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Chỉ riêng rối loạn trầm cảm là nguyên nhân gây ra 5,73% gánh nặng bệnh tật ở khu vực này.
Vào năm 2020, uớc tính có khoảng 4,1 triệu thanh thiếu niên từ 12 đến 17 tuổi ở Hoa Kỳ có ít nhất một giai đoạn tram cảm nghiêm trọng. Con số này đại diện cho 17,0% dân số Hoa Kỳ từ 12 đến 17 tuổi; tỷ lệ tram cảm chủ yêu cao hơn ở nữ thanh thiếu niên (25,2%) so với nam (9,2%) [16] Trên toàn thế giới, trầm cảm là nguyên nhân đứng hàng thứ tư gây ra bệnh tật và tàn tật ở trẻ vị thành niên từ 15-19 tuổi và thứ mười lăm đối với những người từ 10-14 tuổi. Trẻ em gái và phụ nữ trẻ có nguy cơ mắc chứng rối loạn trầm cảm và cố găng tự làm hai bản thân cao hơn gấp ba lần so với trẻ em trai (WHO, 2014) [16] Số người bị tram cảm tăng thêm 18% trong giai đoạn 2005 -2015. Đây là do có sự gia tăng chung về dân số trên thế giới cũng như sự gia tăng người cao tuôi, là tuổi mà tram cảm phô biến hon.
[18] Theo nghiên cứu của Costello và cộng sự, trầm cảm ảnh hưởng đến khoảng 3% đến 8% trẻ VIN. Ngoài ra, tram cảm khởi phát sớm sẽ làm tăng tỷ lệ tái phát ở tuổi trưởng thành, khoảng 45% đến 72%, từ 3 đến 7 năm [32]. Nghiên cứu của Rey và cộng sự (2015) ước tính có khoảng từ 5 đến 10% những người trẻ tuổi xuất hiện biểu hiện trầm cảm nhẹ [34] Theo Kessler và các cộng sự, các yếu tố có thê gây ra trầm cảm trong tuôi vị thành niên bao gồm: mong muốn tự chủ cao hơn, áp lực dé phù hợp với bạn cùng lứa tuổi, khám phá bản sắc cá nhân, tăng khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ. Các yếu tố quyết định quan trọng khác bao gồm chất lượng cuộc sống gia đình và mối quan hệ với bạn đồng lứa [36].
Một nghiên cứu trên 4.500 trẻ ở Hà Nội, trong đó có tỉ lệ người di cư cao, cho thấy tỉ lệ trầm cảm trong vòng 6 tháng là 36% (Nguyen và cộng sự, 2012). Tram cảm có tương quan thuận với việc uống rượu trong hiện tại: khả năng tram cảm càng cao, thì họ càng uống nhiều rượu. Một yếu tô nguy cơ gây tram cảm trong nghiên cứu này là tình trạng di cư, trong đó trẻ vị thành niên di cư đến Hà Nội có tỉ lệ trầm cảm cao hơn so với người không di cư. [14] Bảng hỏi khảo sát được thu thập trên 109 bệnh nhân trầm cảm tới điều trị lần đầu tại Viện Sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Tâm thần TP Hồ Chí Minh theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.
Kết quả nghiên cứu cho thay chỉ có khoảng 16% người bệnh có thé nói tên bệnh của mình chính xác là rỗi loạn tram cảm. Các biểu hiện thường được nhận diện cho rối loạn tram cảm là van đề về giấc ngủ, giảm chú ý và các van đề thực thể. Người bệnh tin nguyên nhân gây ra trầm cảm gồm nguyên nhân tâm lý, sinh học và xã hội. Hầu hết bệnh nhân muốn tìm kiếm sự trợ giúp cho vấn đề của mình (80,7%) nhưng phổ biến nhất là tìm sự giúp đỡ của bác sĩ tâm thần và thuốc (56,9%) và sau đó là từ gia đình hay tự giúp mình (44%).
[25] Theo số liệu của Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương, TP. HCM, trong vòng một năm (từ tháng 05/2007 - 05/2008), bệnh viện nay tiếp nhận 310 ca tự tử dưới 16 tudi, trong đó 04 ca tử vong. [24] Tại Bệnh viện Nhi đồng 1, TP HCM trong vòng một tháng đã phải cấp cứu cho 4 trường hợp trẻ tự tử bằng thuốc diệt cỏ. [24] Số liệu thống kê của Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy, có đến 47 trường hợp trẻ tìm đến cái chết trong năm 2008.
Những số liệu trên đã gióng lên hồi chuông báo động về nạn tự tử vị thành niên.1% sinh viên có nguy cơ mac tram cảm. [20] Một nghiên cứu tại tỉnh Khánh Hòa năm 2018, số liệu cho thấy có 55.4% đối tượng học sinh lớp 12 tại các trường trung học phổ thông có biểu hiện tram cảm, mức độ nhẹ là 17.3% và nặng là 7. [23] Nghiên cứu của Nguyễn Danh Lâm và cộng sự (2022) tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa chỉ ra có khoảng 1/3 số trẻ đã từng nghĩ đến tự làm đau bản thân và 10% trẻ đã tự làm đau bản thân, 25% số trẻ đã từng nghĩ đến tự tử và 7 1.4% số trẻ đã thực hiện tự tử nhưng không thành công [22] Một nghiên cứu khác cũng khám phá ra rằng học sinh nữ tại Việt Nam có nguy cơ mắc tram cảm gấp 1.6 lần so với học sinh nam. Trong đó, học sinh có mối quan hệ mâu thuẫn với bố mẹ có có nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress cao hơn so với học sinh có mối quan hệ hoà hợp.
[26] Trong Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe hoc sinh toàn cầu tại Việt Nam 2019 của WHO tại Việt Nam được thực hiện vào cho thấy: Khi được hỏi về cảm giác cô đơn trong I2 tháng qua, tỷ lệ học sinh luôn luôn hay thường xuyên cảm thấy cô đơn lần lượt là 4,79% và 7,81%. Kết quả phân tích theo cấp học cho thay ty lệ học sinh THPT cảm thấy cô don cao hon một cách đáng kể so với học sinh THCS. Có 3,68% và 5,92% học sinh THCS thường xuyên hoặc luôn luôn cảm thấy cô đơn trong khi các tỷ lệ này gần gấp đôi ở học sinh THPT. Nghiên cứu cũng xét tới yếu tố giáo dục về trầm cảm và hành vi tự tử, 62,2% học sinh không tham gia bất kỳ khóa học nào liên quan, 21,26% không nhớ và chỉ có 16,54% đã được dạy trên lớp về các dấu hiệu của tram cảm va những hành vi tự tử.
[16] Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại Việt Nam 2019 xác nhận kết quả nghiên cứu trước đó cho rằng sức khỏe tâm thần là một vấn đề y té công cộng quan trọng ở Việt Nam. 15,61% hoc sinh được khảo sát thực sự nghĩ đến việc tự tử trong 12 tháng qua, kết quả này thấp hơn một chút khi so với tỷ lệ tương tự ở 84 quốc gia khác (16,5%); 3,07% thực sự đã cố tự tử ít nhất 1 lần trong vòng 12 tháng trước khi tham gia khảo sát, dẫn đến chan thương, ngộ độc hoặc sốc thuốc. Tỷ lệ học sinh thực sự nghĩ đến việc tự tử trong 12 tháng trước khi tham gia phỏng vấn thấp hơn không đáng ké so với năm 2013 (16,9%). Ngoài ra, 12,59% học sinh thường xuyên/luôn luôn cảm thấy cô đơn và 16,81% thường xuyên khó tập trung vào làm bài tập về nhà.
[16] Các vấn đề về sức khỏe tâm thần có các tương tác đa chiều phức tạp với nhiều nguy cơ khác trong giới trẻ, bao gồm bạo lực giữa các cá nhân, sử dụng thuốc lá và rượu, lạm dụng chất gây nghiện và nhiều vấn đề khác. Bắt nạt người khác và bị người khác bắt nạt là một tình trạng phổ biến ở các trẻ vị thành niên có van dé về sức khỏe tâm than.