CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOAN TRAM CAM, LO ÂU 1. Tong quan nghiên cứu về rối loạn tram cảm, lo âu 1. Số liệu dịch tễ Theo khảo sát của National Comorbidity Survey, trong 58% người mắc trầm cảm, có ít nhất một rối loạn lo âu đi kèm. (Kessler RC, Nelson CB, McGonagle KA, Liu J, Swartz M, Blazer DG, 1996) Theo phan tich số liệu từ cuộc khảo sát Bệnh tật Tam than Quốc gia của Vương quốc Anh, (2008) được thực hiện trên 8580 người độ tuổi từ 16 đến 74.
Theo kết quả nghiên cứu, khi so sánh với các rối loạn tâm thần phổ biến, 1,1% chỉ mắc tram cảm, 5,1% chỉ mắc rối loạn lo âu (rỗi loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, rỗi loạn ám ảnh cưỡng chế,.) và 1,5% mắc rối loạn tram cảm kèm lo âu. Như vậy, có 769 người tham gia (chiếm 8,8%) được chan đoán rối loạn hỗn hợp lo âu và tram cảm. Trong nhóm được chan đoán rối loạn hỗn hợp lo âu va tram cảm, có 8,7% không có triệu chứng tram cảm và lo âu cụ thể; 24.3% có các triệu chứng tram cảm cụ thé va không có các triệu chứng lo âu cụ thể; 19,1% có các triệu chứng lo âu cụ thé mà không có các triệu chứng tram cam; và 47,9% có cả triệu chứng tram cảm và lo âu cụ thé. Các triệu chứng không đặc hiệu chiếm ưu thế (98,9%) các triệu chứng cơ thể, mệt mỏi, khó tập trung, khó ngủ, cáu kính hoặc lo lắng.
Ở Hy Lạp, một nghiên cứu được tiến hành từ năm 2009 đến năm 2010, trên phạm vi toàn quốc, có sự tham gia của 4894 cá nhân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 14% dân số mac rối loạn tâm than, trong đó rối loạn lo âu lan tỏa chiếm 4,10%, rối loan tram cảm chiếm 2,90% và rối loạn hỗn hợp lo âu — tram cảm chiếm 2,67%. (Petros Skapinakis et al, 2013) Trong bài báo “Tram cam và lo âu” của John WG Tiller (2012), Rối loạn tram cảm và lo âu có thé xuất hiện đồng thời ở khoảng 25% người mắc. Khoảng 85% người mắc tram cảm có dấu hiệu lo âu và 90% người mắc rối loạn lo âu bị trâm cảm.
Mối quan hệ giữa tram cảm và lo âu Nicholas C. Newman đã thực hiện một nghiên cứu dài hạn, có bốn đợt thu thập dữ liệu: lần đầu năm 1994-1995, có 6504 khách thể; lần thứ 2 năm 1995-1996, có 4834 khách thé; lần thứ 3 năm 2001-2002 có 4882 khách thé va lần thứ 4 năm 2007-2008 có 5114 khách thé. Khách thé tham gia nghiên cứu gồm có người da trắng, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc An Độ và người châu A/Thai Bình Dương. Kết quả nghiên cứu cho thấy lo âu kéo dài là dấu hiệu có thé dẫn đến trầm cảm.
Nghiên cứu này cũng chứng minh rằng yếu tố trung gian giữa trầm cảm và lo âu là né tránh. Những người lo lắng sử dụng né tránh như một chiến lực để giảm bớt cảm giác lo lắng tiêu cực, những người hay né tránh có khả năng cao mắc tram cảm sau này. Né tránh có thé làm giảm khả năng trải nghiệm các sự kiện và hoạt động tích cực, càng ít tham gia các hoạt động, sự kiện tích cực sẽ dẫn đến tram cảm. Bên cạnh đó, không có sự khác biệt giữa né tránh và tram cảm của những người đã từng trải qua sự kiện gây sang chấn và những người chưa trải qua sự kiện gây sang chan.Newman, 2014) Tác giả John WG Tiller (2012) cũng cho rằng nếu trầm cảm và lo âu đi cùng nhau sẽ khiến van dé tram trọng hơn; nguy cơ tự tử cao hơn; tăng cảm giác bat lực; từ chối việc trị liệu; dẫn đến suy yếu về tâm lý, thé chat, xã hội, suy giảm chat lượng công việc hơn là rỗi loạn đơn thuần.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa trầm cảm và lo âu, nên trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi chưa đề cập đến nghiên cứu trong nước liên quan đến tram cảm và lo âu. Như vậy, chúng ta có thê thấy lo âu và trầm cảm có liên quan với nhau. Theo tiêu chuẩn chân đoán, có nhiều triệu chứng của lo âu và tram cảm một vài biểu hiện giống nhau. Những người mắc lo âu kéo dài có thé dẫn đến tram cảm.
Yếu tố trung gian giữa lo âu và trầm cảm là né tránh. Mức độ lo âu và trầm cảm tỷ lệ thuận với nhau, người có điểm tram cảm càng cao thì điểm lo âu cũng cao. Vì vậy, cần phải cân nhắc cần thận, kỹ lưỡng trước khi đưa ra chân đoán và phương pháp trị liệu. Tổng quan nghiên cứu về đánh giá và can thiệp tram cam, lo âu Có khoảng 40 — 60 % người mắc mắc rối loạn sức khỏe tâm than đáp ứng tiêu chí cả lo âu và trâm cảm.
Những rôi loạn này cùng có yêu tô nguy cơ, yêu tô duy trì và đáp ứng với các can thiệp tâm thần. Khi trị liệu tâm lý, có thé thay đổi các triệu chứng lo âu và tram cảm, vi dụ: điều trị lo âu thành công có thể dẫn đến cải thiện các triệu chứng tram cảm. Trầm cảm và lo âu, có mối quan hệ với nhau, các biện pháp can thiệp nên nhằm vào các triệu chứng thần kinh hơn là tách riêng lo âu và trầm cảm. (Roz Shafran, Abigail Wroe, Sasha Nagra, Eleni PIssaridou, Anna Coughtrey, 2018) Nghiên cứu của Nicholas C.
Newman (2014), bang cách tìm ra mối quan hệ trung gian giữa trầm cảm và lo âu, các nhà nghiên cứu chi ra rằng các biện pháp can thiệp nhằm vào mức độ lo lắng đang ở dưới ngưỡng của thanh thiếu niên có thể làm giảm khả năng mắc trầm cảm ở người trưởng thành. Ngoài ra, nghiên cứu cho rằng biện pháp can thiệp nhằm vào sự lo lắng cũng sẽ giúp cho quá trình can thiệp trầm cảm và lo âu nếu can thiệp thành công, có thé làm giảm mức độ né tránh và tram cảm vào những lần sau. Với tác động mạnh mẽ của lo âu, có thé dan dến tram cảm sau này, việc điều trị lo âu dưới ngưỡng sớm ở thanh thiếu niên có liên quan đến việc ngăn ngừa và điều trị các bệnh lý đi kèm với lo âu và tram cảm ở tuổi trưởng thành, như cải thiện chức năng tâm lý và làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sông và giảm tỷ lệ tự sát. Daniel David và cộng sự (2008) đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên dé nghiên cứu hiệu quả của liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý (REBT), liệu pháp nhận thức (CT) và trị liệu được lý cho 170 bệnh nhân ngoại trú mắc tram cảm nặng, không có loạn thần.
Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên: 14 tuần trị liệu hành vi cảm xúc hợp lý, 14 tuần trị liệu nhận thức, 14 tuần điều trị bằng thuốc (fluoxetine). Thang đánh giá Hamilton và thang Beck được sử dụng để đánh giá trước khi tiến hành trị liệu, trong khi tri liệu (tuần thứ 7), sau quá trình trị liệu. Các kết quả phân tích cho thấy liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý, liệu pháp nhận thức và liệu pháp được lý đều có hiệu quả khi điều trị bệnh nhân trầm cảm. Tuy nhiên, tại thời điểm đánh giá sau 6 tháng, tri liệu cảm xúc hành vi hợp lý và tri liệu nhận thức có hiệu quả hơn một chút so với liệu pháp dược lý (nhưng liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý có hiệu quả đáng kê hơn liệu pháp dược lý chi theo đánh giá của thang Hamition) Dé nghiên cứu các phương pháp điều trị trầm cảm - lo âu, nhóm tác giả Kaloyan Kamenov và cộng sự (2017) đã nghiên cứu 237 bài báo, bao gồm 71 904 người tham gia.
Qua đó, nhận thấy có 66 phương pháp can thiệp được xác định, chúng được chia thành 3 nhóm chính: trị liệu tâm lý (N=22), trị liệu dược lý (N=20), các phương pháp trị liệu khác (N=24). Trong nhóm trị liệu tâm lý, phương pháp can thiệp phổ biến nhất là CBT. Trong nhóm trị liệu dược lý, Floxetine và nhóm SSRI là thuốc chống tram cảm phổ biến nhất. Trong cùng nghiên cứu trên của Kaloyan Kamevov và cộng sự (2017), khi phỏng vấn các bác sĩ lâm sàng và người gặp van dé tâm lý, họ cho rang trị liệu tâm lý và trị liệu dược lý cải thiện ở các lĩnh vực khác nhau.
Phương pháp trị liệu dược lý cải thiện các lĩnh vực triệu chứng, ví dụ: van đề liên quan đến giấc ngủ, van đề cảm xúc. Phương pháp trị liệu tâm lý cải thiện mối quan hệ giữa các cá nhân, các van dé trong giao tiếp, thiếu động lực, các hoạt động tự chăm sóc bản thân. Theo Ellen Driessen va Steven D.Hollon (2010), trị liệu nhận thức hành vi có hiệu quả trong điều trị trầm cảm giống như khi trị liệu băng các liệu pháp tâm lý và điều trị băng thuốc chống tram cảm. Khi được thực hiện đầy đủ, trị liệu nhận thức hành vi có thé có hiệu qua với người mắc trầm cảm nặng.
Trị liệu nhận thức hành vi làm giảm tỷ lệ tái phát, với mức độ tương đương với việc người mắc rỗi loạn uống thuốc đều đặn. Những người mắc tram cảm đã kết hôn hoặc có rối loạn chức năng có khả năng đáp ứng trị liệu nhận thức hành vi (CBT) cao hơn so với người mac trầm cảm chưa kết hôn. Những người thất nghiệp, có những trải nghiệm không tốt trong cuộc sống, nhờn thuốc, đáp ứng với tri liệu nhận thức hành vi tốt hơn so với sử dụng thuốc. Một nghiên cứu khác của Embling (2002), thực hiện tại trung tâm điều trị và đánh giá tâm than cấp tính tại cộng đồng.
Khi đến trung tâm, khách thé sẽ được phỏng vấn bởi các bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm và được chân đoán theo bảng Phân loại Quốc tế về Rối loan ICD 10. Đối tượng nghiên cứu là người mắc rối loạn tram cảm. Những người tham gia nghiên cứu nhận được 12 buổi trị liệu nhận thức- hành vi, mỗi buổi kéo dài 60-90 phút và được phân trong bốn nhóm kín. Trị liệu liên quan đến việc lập kế hoạch hoạt động, tập trung vào đánh giá hành vi, xác định và kiểm soát suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực, tái cấu trúc băng cách sử dung ban theo dõi suy nghĩ.
Nghiên cứu này sử dụng thang đo trầm cảm của Beck II để đánh giá mức độ của nhóm khách thé. Kết quả nghiên cứu cho thấy, điểm thang đo tram cảm của Beck giảm hơn sau 12 buổi trị liệu. Sự tức giận, lo lắng, buồn bã tăng giữa budi 3 và 9, và đạt đỉnh điểm tại buổi thứ 6. Thử nghiệm Bivariate về sự khác biệt điểm trung bình thang đo Beck giữa nhóm đối chứng và nhóm điều trị cho thấy sự khác biệt đáng kế (p<0,01).