Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HANH VI NHỎ TÓC O TRE VỊ THÀNH NIÊN 1.Tổng quan nghiên cứu về rối loạn nhỗ tóc ở trẻ em 1. Tổng quan nghiên cứu chung Trichotillomania (rối loạn nhồ tóc) là một rối loạn chưa rõ về nguyên nhân trong đó các cá nhân tự nhé tóc, dẫn đến rụng tóc. Cá nhân thường có cảm giác căng thang trước khi nh6 hoặc sự hài lòng và cảm giác nhẹ nhõm sau khi nhé tóc. Bên cạnh nhồ tóc thì cá nhân có thể nhé một số khu vực khác như lông mi, lông mày, râu hoặc vùng lông tay.
Trichotillomania là một rối loạn ít được biết đến, nhiều cá nhân che giấu hành vi nhé tóc hoặc rụng tóc và nhiều người không tìm cách điều trị. Trichotillomania thường bắt đầu ở thời thơ ấu và dường như phô biến hơn ở phụ nữ, mặc dù dữ liệu có san là mâu thuần và thực tê có thê phô biên hơn ở nam gidi. Ty lệ nhé tóc ở người lớn đã được báo cáo là cao tới 10%, mặc dù trong những trường hợp nhồ tóc cũng đề cập đến cả tình trạng rụng tóc với tỷ lệ hiện mắc là khoảng 1% đến 2%. Số trẻ em mac chứng trichotillomania được cho là cao gấp 7 lần so với người lớn.
Hành vi nhỗ tóc có thé đi kèm với việc ngậm tóc hoặc ăn tóc (trichophagia). Một biến chứng y học tiềm ấn của hiện tượng ăn tóc đó là tóc sẽ mắc lại ở da day và có thê dẫn đến những khó khăn đáng ké về đường tiêu hóa. Việc đánh giá kết quả điều trị trong các nghiên cứu về hành vi nhồ tóc bao gồm các biện pháp về tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng. Trong nghiên cứu ngoại trú, tỉ lệ nhé tóc nói chung được xác định thông qua việc tự báo cáo của bệnh nhân bằng cách đếm số lần nhé tóc, đếm lượng tóc đã nhồ hoặc đếm số lần thúc giục để nhé tóc.
Mức độ nghiêm trọng của trichotillomania còn được thé hiện thông qua việc đo kích thước của các dém hói hoặc đếm số lượng lông (tóc) trên mỗi điểm hói và đánh giá chủ quan qua hình ảnh của các điêm hói. Việc đo lường sự cải thiện trong các nghiên cứu về kết quả điều trị được công bồ rất da dạng. Các nghiên cứu về đánh giá và can thiệp hành vi nhé tóc Các nhà hành vi tin rằng rối loạn nhé tóc về cơ bản là sự phát triển một hành vi đối phó dé đáp ứng với các kích thích căng thắng. Hanh vi nhồ tóc được củng cố thông qua điều kiện cô điển và hoạt động, nhất là khi cá nhân quay trở lại với việc nhé tóc như một cách thức được sử dụng dé giảm căng thắng (Diefenbach và cộng sự, 2000 ; Stein và cộng sự, 1999).
Đánh giá hành vi nhổ tóc Trong đánh giá các rối loạn tâm thần và cảm xúc, nhà tâm lý lâm sàng sẽ thực hiện một cuộc phỏng vấn lâm sàng cung cấp một đánh giá kỹ lưỡng về nhiều yếu tó. Đánh giá có thé được đưa ra cho tuôi khởi phát, tần suất (ví dụ, việc nhồ tóc có xảy ra hàng ngày không? Hành vi tồn tại thường xuyên hay chỉ xuất hiện trong thời gian gặp khó khăn? Hành vi có được thực hiện theo nghi thức nào không?); số lượng (ví dụ nhô bao nhiêu sợi tóc hoặc cụm tóc,.); trạng thái cảm xúc (Stein và cộng sự, 1999), môi trường (bên ngoài), động cơ (phản ứng vật lý), các yêu tố cảm giác, tình cảm và nhận thức ảnh hưởng đến hành vi nhé tóc cũng nên được khai thác trong cuộc hỏi chuyện lâm sàng (Stemberger, Stein và Mansueto, 2003). Mục tiêu của đánh giá là xác định chân đoán và thu thập thông tin để hỗ trợ xây dựng kế hoạch điều trị (Diefenbach, Tolin, Crocetto, Maltby và Hannan, 2005). Trước khi điều trị có thé được thực hiện, cần phải đảm bảo rằng cham dứt nhé tóc là hành vi mà thân chủ muốn giải quyết trong trị liệu (Mansueto, Golomb, Thomas và Stemberger, 1999).
Sau khi xác nhận rằng các triệu chứng liên quan đến hành vi nhồ tóc là các vấn đề được xác định (bao gồm: tiền đề, hành vi và hậu quả) thì nên thảo luận với thân chủ (Mansueto và cộng sự, 1999; Stemberger và cộng sự , 2003). Việc đánh giá nhé tóc rất phức tạp bởi xu hướng các cá nhân ngần ngại tiết lộ rằng họ đang có hành vi nhé tóc (Stein và cộng sự, 1999). Các nhà tâm lý lâm sàng nên quan sát và sử dụng các câu hỏi có câu trúc cân thận đê phát hiện ra thông tin mà thân chủ có thé sử dụng để chống lại việc tiết 16. Các nhà tâm lý lâm sàng phải tìm kiếm vấn đề của thân chủ từ nhiều hướng (Cohen, Stein và Simeon,1995; Enos và Plante, 2001; Stein va cộng sự, 1999; Walsh và McDougle, 2001).
Su cô lập xã hội có thé là một yếu tố khác liên quan đến hành vi nhé tóc, các cá nhân có thé xa cách những người khác do niềm tin rằng họ đơn độc trong cuộc đấu tranh của họ (Diefenbach và cộng sự, 2000). Như với tất cả các rối loạn tâm thần và cảm xúc, các chuyên gia sức khỏe tâm thần nên xem xét bối cảnh văn hóa mà hành vi nhồ tóc xảy ra vì đó có thé là một nghi lễ được xã hội chấp nhận hơn là một rối loạn (Stein và cộng sự, 1999). Một số công cụ đã được phát triển và thử nghiệm dé đánh giá trichotillomania. Thang do nhé tóc —hairpulling scale - MGH (MGH-HPS) là một công cụ tự báo cáo cung cấp thông tin liên quan đến tần suất, cường độ, căng thang và có gang kiểm soát các hành vi kết nối với rối loạn nhé tóc (Diefenbach và cộng sự, 2005; Twohig và Woods, 2004).
Thang đo rỗi loạn nhé tóc (trichotillomania scale) của Viện Tâm thần Hoa Ki (PITS) là một công cụ lâm sàng đánh giá nhiều tính năng của nhé tóc. Thang đo mức độ nghiêm trọng - NIMH Trichotillomania (NIMH-TSS) được định dạng như một cuộc phỏng van lâm sang dé đánh giá các hành vi nhé tóc. Thang do suy giảm - NIMH Trichotillomania (NIMH-TIS) là một đánh giá toàn cầu về các hành vi và cảm giác liên quan đến nhồ tóc. Tất cả các biện pháp này có thể là công cụ hữu ích trong đánh giá hành vi nhồ tóc.
Khi một chuyên gia sức khỏe tâm than tiến hành đánh giá chức năng, họ có thé sử dung các cuộc phỏng van, quan sát trực tiếp và thao tác có hệ thống (O'Neill, Horner, Albin, Storey và Sprague, 1990), đánh giá hồ sơ lưu trữ và thang đánh giá hành vi được sử dụng trong việc đánh giá tiền đề và hậu quả. Olympia và cộng sự (2002) đề xuất rằng các hình thức đánh giá chức năng trực tiếp cung cấp thông tin hợp lệ hơn bởi vì không có sự phụ thuộc vào ký ức hoặc thông tin từ các hồ sơ thu được. Các kỹ thuật đánh giá có thé được thực hiện tùy thuộc vào các nguồn lực dành cho chuyên gia sức khỏe tâm thần và độ tuổi khách hàng. Mô hình phổ biến nhất là phương pháp tiếp cận hành vi tiền đề (ABC) để xác định các yếu tô kích hoạt và chức năng (Olympia và cộng sự, 2000).
Đầu tiên, chuyên gia sức khỏe tâm thần mô tả một hành vi có thé quan sát được và ghi lại các sự kiện xảy ra ngay trước đó (tiền dé) và theo dõi hành vi đó (hậu quả). Thứ hai, trong khi các tiền đề và hậu quả được ghi lại, hành vi cũng được ghi lai (Olympia và cộng sự, 2000). Cuối cùng, khi hậu quả được hiểu, can thiệp điều trị hiệu quả có thé được đưa ra. Stemberger và cộng sự (2003) nói thêm rằng việc đánh giá các tiền đề, hành vi và hậu quả là điều kiện tiên quyết đề điều trị hiệu quả.
Cách tiếp cận này có hiệu quả đối với các nhà tư vấn bởi vì nó dựa trên giả định rằng bối cảnh cho phép cá nhân chịu trách nhiệm cho hành vi và duy trì nó theo thời gian. Theo Stemberger và cộng sự (2003) thì tiền đề tham gia vào các hành vi phổ biến của các cá nhân được chân đoán mắc chứng rỗi loan nhé tóc có thé được xác định là môi trường, vận động, cảm giác, tình cảm hoặc nhận thức. Ví dụ tiền đề môi trường bao gồm một nơi cụ thể thường xảy ra hiện tượng nhồ tóc; tiền đề vận động bao gồm các thói quen vận động đơn giản; các cá nhân khác tận hưởng cảm giác liên quan đến việc nhồ tóc (tiền đề cảm giác); một số khách hàng cảm thấy bình tĩnh hoặc tràn đầy năng lượng bằng cách nhồ tóc (tiền đề tình cảm) và tiền đề nhận thức áp dụng cho những người tham gia hành vi nhỗ tóc dé thoát khỏi mái tóc xấu xí hoặc không mong muốn. Các tác giả khang định rằng chỉ có một hoặc hai trong số các tiền đề nêu trên đóng vai trò quan trọng đối với một số cá nhân.
Tất cả các tiền đề trên được áp dụng cho các khách hàng khác nhau và các hành vi liên quan đến phạm vi tiền đề cảm giác từ tìm kiếm cảm giác da của tóc đến kiểm tra tóc hoặc gốc tóc sau khi nh6. Rất nhiều hành vi có thể có ở mỗi phương thức khác nhau va các nhà trị liệu phải ghi lại các quan sát của họ một cách chi tiết để quyết định thành phần tiền đề nào được áp dụng. Cuối cùng, Stemberger và cộng sự tin chắc răng hậu quả của rối loan nhồ tóc phục vụ chức năng duy trì chu kỳ chung và ảnh hưởng đến khả năng xảy ra một lần nữa trong tương lai. Tùy thuộc vào hành vi liên quan đến một phương thức nhé tóc cụ thé, cá nhân có thé hiểu rằng kinh nghiệm nhé tóc là củng cố hoặc trừng phạt.
Ví dụ trừng phạt đến từ các kích thích môi trường như là chỉ trích hoặc không chấp thuận. Một sự củng cố về những ảnh hưởng của việc nhồ tóc có thé giảm bớt căng thăng hoặc mat tập trung. Ý tưởng lay lại sự tự chủ có thé là một hình phạt cho phương thức nhận thức. Tư vấn viên có thé sử dụng mô hình ABC trước khi xác định các can thiệp cụ thể.
Mô hình ABC là một kỹ thuật phân tích hành vi rộng rãi có thé được thực hiện với các phương pháp đánh giá khác nhau. Khi chức năng được xác định nó có thé được liên kết với các can thiệp cụ thé, ví dụ nếu chức năng là cảm giác, môi trường, khién trách hoặc chuyên hướng đều có thê được sử dụng.