MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Tự làm hai bản thân là một van dé nghiêm trọng ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi, kế cả trẻ em. Mặc dù tự làm hại bản thân thường được coi là một vấn đề chủ yêu ảnh hưởng đến người lớn, nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ tự làm hại bản thân ở trẻ em đang gia tăng. Nghiên cứu được đăng trên tạp chí của Học viện Tâm thần Trẻ em & Vị thành niên Hoa Kỳ tháng 3 đến tháng 4 năm 2019, 2020 và 2021 ở 25 quốc gia thu được kết quả: Có 8,174 biểu hiện tâm than đã được ghi lại, trong đó 63,5% là nữ; tập trung vào khoảng 14- 15 tudi, 3,742 trong số đó là biéu hiện tự làm hai ban than, tức chiếm khoảng 46%.
Trong tháng 3 đến tháng 4 năm 2021, số biểu hiện các van đề sức khỏe tâm thần cao gấp đôi so với tháng 3 đến tháng 4 năm 2020 và cao hơn 50% so với tháng 3 đến tháng 4 năm 2019. Tỷ lệ tự làm hại bản thân đã tăng gấp đôi từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2020 và từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2021 và nhìn chung cao hơn 1,7 lần so với thang 3 đến tháng 4 năm 2019. [10] Nghiên cứu về thực trang “Hành vi tự hủy hoại ban thân của trẻ vi thành niên ở các đô thị phía Nam Việt Nam” khảo sát với hơn 3.400 trẻ vị thành niên và nghiên cứu sảng lọc lần 1 cho thấy, hơn 37% (tương đương 1.289 trẻ vị thành niên) ở các đô thị phía Nam có nguy cơ tự hủy hoại bản thân. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu sàng lọc lần 2 cho thấy 6,1% (213 trẻ vị thành niên) cố ý tự thực hiện hành vi tự hại, gây tôn thương, thương tích chính mình (1- 4 lần/năm) [4] Nghiên cứu về hành vi tự làm hại ở trẻ em là điều cần thiết để hiểu được nguyên nhân cơ bản và các yếu tố rủi ro, phát triển các chiến lược can thiệp và phòng ngừa và giám sát hiệu quả cũng như cải thiện kết quả cho trẻ em và gia đình bi ảnh hưởng.
Hơn nữa, dai dịch COVID-19 và hậu COVID-19 có thé đã làm tram trọng thêm vấn đề tự làm hại bản thân ở trẻ em, khiến công việc nghiên cứu trong lĩnh vực này càng trở nên quan trọng hơn. 4 Nghiên cứu về hành vi tự hại ở trẻ em và phát triển các biện pháp can thiệp dé hỗ trợ trẻ dựa trên bằng chứng có thé giúp ngăn chặn hành vi tự làm hại từ đó tạo ra những kết quả tích cực về sức khỏe tâm thần ở trẻ em. Bên cạnh đó những nghiên cứu về hành vi tự hại ở trẻ em ở Việt nam còn hạn chế. Nhận thấy tầm quan trọng, tính cấp thiết và vai trò của trị liệu tâm lý ở trẻ tôi quyết định chọn dé tài: “Can thiệp tâm lý cho một trẻ em có hành vi tự hại” 2.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Điểm luận trong nước vả nước ngoài về hành vi tự hại ở trẻ em. - Nghiên cứu về hành vi tự hại và can thiệp hành vi tự hại bằng liệu pháp tâm lý nhận thức hành vi. - Trình bày một số khái niệm liên quan đến hành vi tự hại, khái niệm cơ bản về hành vi tự hại ở trẻ em. - Thực hiện đánh giá, định hình trường hợp, lên kế hoạch và can thiệp cho một ca trẻ em có hành vi tự hại.
- Đưa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sàng. Khách thể nghiên cứu Một trẻ em có hành vi tự hại. Phương pháp đánh giá và can thiệp - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp nghiên cứu trường hợp - Phương pháp nghiên cứu tiêu sử cuộc đời - Phương pháp trắc nghiệm - Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng - Phương pháp quan sát lâm sảng - Liệu pháp can thiệp: Nhận thức hành vi (CBT). CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HANH VI TỰ HAI Ở TRE EM 1.
Tổng quan về vấn đề tự hại ở trẻ em Hành vi tự hại ở trẻ em là một vấn đề gần đây được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà tâm lý học, tâm than học ở trên thé giới. Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề nguyên nhân, các hình thức biểu hiện, các yếu tố ảnh hưởng và các phương pháp trị liệu. Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài về hành vi tự hại ở trẻ em. Các nghiên cứu nước ngoài Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Andrea và cộng sự của trường Ứng dụng và Chuyên nghiệp Tâm lý học, và Khoa Tâm lý học, Đại học Rutgers, Piscataway, New Jerse cho thấy, trong tổng số 665 trẻ em cho biết có 53 trẻ em (8,0%) đã tham gia hành vi tự hại; 9,0% bé gái và 6,7% bé trai báo cáo đã tham gia hành vi tự hại; 7,6% học sinh lớp ba, 4,0% hoc sinh lớp sáu và 12,7% học sinh lớp 9 báo cáo có tham gia hành vi tự hại.
Có một tương quan giới tính; các bé gái học lớp 9 (19%) báo cáo tỷ lệ hành vi tự hại cao hơn đáng ké so với các bé trai lớp 9 (5%). Hành vi tự hại khác nhau theo giới tính. Các em gái cho biết bị cắt và rạch da thường xuyên nhất, trong khi các em trai cho biết thường xuyên tự đánh mình nhất. Cuối cùng, 1,5% trẻ em đáp ứng một số tiêu chí cho chân đoán DSM-S.
[8] Một nghiên cứu tự làm hai bản thân ở thanh thiếu niên (12-16 tuổi): Trong một mẫu cộng đồng cho thấy trong khoảng thời gian một năm, 27% trẻ em cho biết có ý nghĩ tự làm hại bản thân và 15% cho biết có ít nhất một hành vi tự làm hại bản thân. Trong sé những trẻ tự làm hại ban than, chưa đến 1/5 (18%) đã tìm kiếm sự giúp đỡ về các vấn đề tâm lý như lo âu hoặc trầm cảm. So với các bé trai, các bé gái có nhiều nguy cơ nảy sinh ý nghĩ và hành vi tự làm hại bản thân, đặc biệt là ở những bé gái học lớp 9. Các moi quan hệ ban bè không an toàn làm tăng khả năng các trẻ trai và trẻ gái các hành vi tự làm hại ban thân, cũng như việc các bé trai bi bắt nạt.
Tâm trạng tôi tệ có liên quan đến sự phát triển các suy nghĩ và hành vi tự làm hai ban thân ở nam và nữ, việc nâng cao hiểu biết chăm sóc sức khỏe tinh than của học sinh trong nhà trường có liên quan đến việc giảm nguy cơ phát triển các ý nghĩ tự làm hại bản thân ở các nam sinh, chấm dứt đối với các cô gái. [1§] Các nghiên cứu khác nhau chi ra rang CBT là biện pháp can thiệp hiệu qua nhất trong ngăn ngừa hành vi tự hại. Can thiệp CBT có thé được thực hiện trong phiên trực tiếp hoặc phiên nhóm. Can thiệp CBT với hành vi tự hai đạt hiệu quả nếu được sử dụng cùng với thuốc, đặc biệt là ở thanh thiếu niên được chan đoán mắc chứng rối loạn tâm than, bởi vì có đủ bằng chứng dé chỉ ra rằng CBT lam giảm mức độ nghiêm trọng của lo âu và trầm cam, cũng như giảm các hành vi tự làm hại bản thân ở những bệnh nhân trong đơn vị y tế.
Theo Green và cộng sự sáu phiên CBT kéo dài l giờ/phiên theo hình thức nhóm đã có hiệu quả trong việc giảm các ý tưởng, ý định tự làm hại bản thân, và tỷ lệ tái phat. Hơn nữa, Kaess và cộng sự (2019) đã cho thay mức giảm đáng kề về mặt thống kê trong các hành vi tự làm hại bản thân ở thanh thiếu niên có nguy cơ nếu can thiệp CBT trong 10 tháng kết quả cho thấy CBT là hiệu quả trong việc sự thuyên giảm hoàn toàn. Ngoài ra, theo Ougrin và cộng sự (2015) CBT được cho là hiệu quả nhất trong việc ngăn ngừa và giảm tự làm hại bản thân so với các liệu pháp trị liệu tâm lý khác như trị liệu giữa các cá nhân, trị liệu đa hệ thống, trị liệu dựa trên tinh thần và biện chứng liệu pháp hành vi. CBT được coi là hiệu quả hơn trong việc ngăn chặn hành vi tự làm hại bản thân so với các phương pháp trị liệu tâm lý khác vì nó can thiệp vào các nguyên nhân cơ bản của hành vi tự làm hai bản thân va làm giảm mức độ nghiêm trong của những thách thức tinh thần.
[6] Đồng thời, các tác giả không chỉ đưa ra các kết quả nghiên cứu về thực trạng và các liệu pháp can thiệp trẻ em có hành vi tự làm hại mà còn chi ra được 7 các nguyên nhân cơ bản gây ra hành vi tự hại ở trẻ. Một báo cáo gần đây của PHE (Hughes và cộng sự, 2015), trải nghiệm bat lợi thời thơ ấu (ACE) là những sự kiện căng thăng xảy ra trong thời thơ ấu ảnh hưởng trực tiếp đến một đứa trẻ, chăng hạn như bị ngược đãi hoặc ảnh hưởng đến môi trường sống, chăng hạn như bạo lực gia đình, lạm dụng chất kích thích hoặc sống với bệnh tâm thần trong gia đình cũng là một trong các nguyên nhân ảnh hưởng đến trẻ có hành vi tự hại. [9] Từ các nghiên cứu cho chỉ ra rằng các hành vi tự làm hại bản thân được gây ra bởi một số yêu tô như gia đình, tinh dé bị ton thương do di truyền xã hội và văn hóa. Hanh vi tự làm hại bản thân là hành vi cô ý tự đầu độc hoặc tự gây thương tích.
Việc thực hiện hành vi tự làm hai ban thân gia tang trong tuổi dậy thì và quá trình này tiếp tục cho đến tuổi trưởng thành. Trường hợp hanh vi tự làm hại bản thân ở tuôi trưởng thành có liên quan đến các triệu chứng lo âu và trầm cảm xảy ra trong thời niên thiếu. Một cá nhân tự làm hại bản thân nhiều lần có khả năng tự tử. Tính cách nhạy cảm (neuroticism) và sự xa cách của cha mẹ là hai yếu tố góp phần dẫn đến hành vi tự làm hại bản thân.
Một cá nhân có tính cách nhạy cảm có khả năng tự làm hại bản thân vì cá nhân đó là một người bốc đồng. Một cá nhân từng trải qua cảnh cha mẹ xa cách cũng có khả năng thực hiện hành vi tự làm hai bản thân vi sự xa cách của cha mẹ tạo ra ton thương cho con cái. Sự xuất hiện của hành vi tự làm hại bản thân chịu sự tác động của nhiều yếu tô ca về tâm lý và sinh học.