MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày 6/2/2018, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) công bố kết quả nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em — thanh thiếu niên Việt Nam. 8-20% trẻ em và vị thành niên Việt Nam gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần chung, tùy theo tỉnh, giới và đặc điểm người trả lời. Một khảo sát dịch tễ gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh, thành cho thấy trung bình 12% trẻ em gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần, tương đương hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về dịch vụ sức khỏe tâm thần.
Các vấn đề sức khỏe tâm thần phô biến ở trẻ em Việt Nam là hướng nội như lo âu, trầm cảm, sự đơn độc và hướng ngoại như tăng động, giảm chú ý [26]. Những nghiên cứu tại nước ta cũng như các nước khác trên thế giới đều cho thấy các rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên thường do những yếu tố tâm lý xã hội kết hợp với những yếu tố sinh học gây ra. Yếu tố tâm lý xã hội chiếm khoảng 3/4 các trường hợp rối loạn hành vi và yếu tố sinh học chiếm 1/4 các trường hợp còn lại. Như vậy yếu tố tâm lý xã hội thường chiếm ưu thé và có vai trò quyết định về các rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên; đồng thời chúng có ý nghĩa khá quan trọng và to lớn trong việc phòng ngừa cũng như chữa trị các rối loạn hành vi vì những yếu tố tâm lý xã hội có thé xử trí can thiệp và biến đổi được [27].Vì vậy, điều quan trọng là phải xác định rối loạn hành vi và bắt đầu can thiệp càng sớm càng tốt.
Việc nghiên cứu, can thiệp sớm cho trẻ em có rỗi loạn hành vi là cần thiết nhằm thiết lập môi quan hệ tốt đẹp giữa trẻ và những người trong gia đình, giữa trẻ và xã hội, tránh những hành vi sai trái, phạm pháp sau này. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về rối loạn hành vi, tuy nhiên ở Việt Nam các đề tài nghiên cứu tập trung vào định tính, các nghiên cứu trường hợp chưa nhiều Trong thực tế, khi tiếp xúc và làm việc với nhiều trẻ có biểu hiện của rối loạn hành vi, tôi nhận thấy rằng gia đình và nhà trường chưa có phương pháp can thiệp một cách hiệu quả. Trường hợp em H được lựa chọn nghiên cứu trong đề tài là trường hợp có biêu hiện rôi loạn hành vi tại gia đình và trường học, tôi thực sự muôn giúp em cải thiện những vân đê vê hành vi dé em có thê có đời sông tâm lý tôt hơn, cải thiện môi quan hệ trong gia đình và xã hội. Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Can thiệp tâm lý cho một trường hợp trẻ em có biểu hiện rối loạn hành vi”, đề tài nhằm nghiên cứu những cơ sở lý luận dẫn đến rối loạn hành vi, từ đó đưa ra phương pháp và thực hiện can thiệp hiệu quả cho một trường hợp trẻ em có biêu hiện rôi loạn hành vi.
Mục đích nghiên cứu Đánh giá và định hình đượccác vấn đề rối loạn hành vi ở thân chủ; trên cơ sở đó lập kế hoạch và tiễn hành canthiệp-trị liệu giúp thân chủ giải quyết được những vấn đề gặp phải, cũng như đánhgiá hiệu quả của các phương pháp can thiệp. Từ đó đưa ra một sô nhận xét, đánh gia cho việc trị liệu với người có rôi loạn hành vi. Đối tượng nghiên cứu Đánh giá và trị liệu tâm lý cho một trẻ vi thành niên có biểu hiện rối loạn hành vi Ứng xu. Nhiệm vu nghiên cứu e Tìm hiểu các van đề lý luận về rồi loạn hành vi.
e Đánh giá và chan đoán rối loạn hành vi e Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch trị liệu cho một trường hợp có biéu hiện rồi loạn hành vi e Đưa ra một số nhận xét, đánh giá về tiễn trình lâm sang cũng như hiệu quả tri liệu. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOAN HANH VI 1. Tong quan một sô nghiên cứu về roi loạn hành vi 1. Các nghiên cứu ngoài nước.Miaxisshev đã có công trình nghiên cứu rối loạn hành vi và chỉ ra: rối loạn hành vi là một căn bệnh của nhân cách có căn nguyên tâm lý.
Sự rối loạn các quan hệ đóng vai trò xuất phát điểm và quyết định. Từ những rối loạn đó dẫn đến rỗi loạn sự tiếp nhận và rối loạn các chức năng tâm lý tùy theo cách tiếp nhận và xử lý hiện thực thế nào. Ông nhấn mạnh nguyên nhân chính làm phát sinh rối loạn hành vi ở trẻ em và con người nói chung là do sự mâu thuẫn tâm lý, nghĩa là sự mâu thuẫn nội tâm [12]. Các tác giả còn quan sát thấy những phản ứng rối loạn hành vi xuất hiện do sinh con thứ hai trong gia đình.
Robins (1966) lần đầu tiên chỉ ra rằng một nửa số trẻ có van đề cư xử không phát triển thành nhân cách chống đối xã hội. Các nghiên cứu theo chiều dọc nhằm mục đích ghi nhận sự tiếp diễn của hành vi chống đối xã hội từ thời thơ ấu đến tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành nhiều lần phát hiện ra sự tồn tại của một nhóm trẻ ngoại lệ không có sự tiếp diễn hành vi đến tuôi trưởng thành. Nhóm này được gọi là van đề cư xử “giới hạn ở thời tho ấu” [8] Năm 1993, Dodge lần đầu tiên đã đưa ra mô hình xử lý thông tin (information- processing model) về nguồn gốc hành vi gây han trong các mối tương tác xã hội. Mô hình này giả định răng trẻ có xu hướng gây hắn tập trung.
Deater - Deckard và cộng sự, 1996, cho thấy trừng phạt thé chất có liên quan rõ rệt tới van đề hành vi của trẻ Mỹ da trắng, nhưng không xuất hiện ở trẻ Mỹ gốc Phi. Lahey, Miller, Gordon và Riley, 1999, nghiên cứu dựa vào cộng đồng cho thấy tỷ lệ rối loạn ứng xử cao, đao động từ khoảng 2% đến hơn 10% trong dân số trẻ em và thanh thiêu niên nói chung. Moffitt, 2005; Rhee & Waldman, 2002, đưa ra bằng chứng đáng tin cậy từ những nghiên cứu trẻ sinh đôi và trẻ là con nuôi cho thấy vấn đề cư xử có tính di truyền cao thông qua đánh giá cả về chiều hướng lẫn phân loại (assessed both dimensionally and categorically). Năm 2005, Stalling va cộng sự nghiên cứu liên kết rộng khắp bộ gen (genome- wide linkage study) đã phát hiện ra vùng nhiễm sắc thé có thé chứa các biến thé liên quan với vấn đề cư xử, nhưng các biến thể này chưa được xác định và vùng nhiễm sắc thể cũng chưa được sao chép [8].
Một nghiên cứu theo chiều dọc trên 411 nam giới London từ 8 đến 46 tuổi, cũng phát hiện rằng những cá nhân có hành vi chống đối xã hội khởi phát từ tuổi vị thành niên có Rối loạn cư xử D.3 8 IACAPAP Sách giáo khoa Sức khỏe Tâm than Trẻ em và Thanh thiếu niên xu hướng tiếp tục phạm tội mà không bị phát hiện ở tuôi trưởng thành, mặc dù khả năng lao động và các mối quan hệ thân thiết của họ không bị ảnh hưởng (McGree và Farrrington, 2010) [8]. Như vậy, trên thê giới đã có nhiêu nghiên cứu về rôi loạn hành vi, trong các nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân dân đên rôi loạn hành vi, sự khác biệt rôi loạn hành vi ở trẻ nam và trẻ nữ, các nên văn hóa khác nhau,.phương pháp can thiệp cho trẻ có rôi loạn hành vi. Cac nghiên cứu trong nước Giáo sư Nguyễn Việt đã nghiên cứu và đưa ra một số phương pháp chuẩn đoán và điều trị rối loạn hành vi. Trong đó, ông cũng đã nghiên cứu thuyết tập nhiễm của Watson, Skiner, Wolop và phát biéu nó như sau: tất cả những rối loạn hành vi đều là những hành vi đã bắt chước, tiêm nhiễm trong quá trình hành động ở các môi trường gia đình và xã hội [22].
Giáo sư Đặng Phương Kiệt cũng đã nghiên cứu nhiều về rối loạn hành vi, từ các nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra rằng: nguyên nhân dẫn đến rối loạn hành vi là stress gia đình, được hiểu là những căng thăng trong gia đình do cha mẹ ly dị, mât người thân, do bô mẹ trộm cặp. Bác sĩ Nguyễn Văn Siêm là một trong những người đã nghiên cứu rất nhiều về rỗi loạn hành vi ở trẻ vị thành niên. Từ những công trình nghiên cứu của mình và qua tham khảo những công trình nghiên cứu khác, ông đã đưa ra những lý luận chung về rồi loạn hành vi ở trẻ em và thanh thiếu niên, những lý luận này hiện đang sử dụng làm giáo trình học tập cho sinh viên khối tâm lý học lâm sàng trong khoa. Qua các nghiên cứu có thê thây: nguyên nhân chủ yêu dẫn đên rôi loạn hành vi của trẻ là do các nhân tố từ bên ngoài như gia đình, xã hội.
tác động vào trẻ. Một số khái niệm cơ bản 1. Khai niệm “hành vi” Có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi, các nhà sinh vat học thi cho răng: hành vi là cách sống và hoạt động của cá nhân trong môi trường nhất định, dựa trên sự cần thiết thích nghỉ tối thiểu của cơ thể đối với môi trường. Quan niệm như thế đã khiến cho hành vi của con người hoàn toàn bị sinh vật hóa, không có “tính người”, hành vi đối với họ chỉ là những hành động bản năng nhằm đáp ứng với môi trường sống [12].
Đối với nhà phân tâm học thì coi hành vi là cái hợp lực, cái thỏa hiệp bắt nguồn từ sự xung đột giữa nguyên tắc khoái cảm và nguyên lý thực tế, là những xung lực của “cái ấy” và những cắm ky của cái “siêu tôi” được thống hợp trong ban thân cái tôi. Song chủ yếu thì những hành vi đều có khởi nguồn từ vô thức và do vô thức điều khiển. Các nhà phân tâm đã quá nhắn mạnh tính vô thức của hành vi [22] Theo quan điểm của tâm lý học Mác-xít, cả ý thức và hành vi đều ton tại khách quan, tham gia một cách tích cực vào quá trình tác động của con người đối với thé giới xung quanh, với người khác và với chính ban thân mình. Khái niệm 10 hành vi trong tâm lý học Mác-xít không tách rời khái niệm hoạt động mà hành vi là sự biêu hiện cụ thê ra bên ngoài của hoạt động.
Trong từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện chủ biên có viết: hành vi — trong tiếng Anh là “behovio”. Trong tiếng Pháp có có hai từ tương đương là “comportement” va “conduit”, song hai từ này còn mang nghĩa là ứng xử.