Chương 1: TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VE SU HAI LONG VỚI CUOC SONG CUA TRE EM Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến sự hài long với cuộc sống của trẻ em, tác giả nhận thấy đa số các nghiên cứu được tiến hành ở nước ngoài và còn rất ít nghiên cứu tiến hành ở Việt Nam. Có thể nhóm các nghiên cứu thành các hướng chính như sau: 1. Nghiên cứu về các mặt biểu hiện sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em Xác định các biểu hiện của sự hai lòng với cuộc sông trẻ em là một trong những van dé được nhiều tác giả quan tâm. Có thé kê đến một số quan điểm, nghiên cứu tiêu biểu: Van đề về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em được giải quyết trong khuôn khổ Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em.
Trên cơ sở đó, tổ chức Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc đưa ra mục tiêu chung là vì sự sống còn, phát triển, bảo vệ và tham gia của trẻ em trong khuôn khổ công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Nghiên cứu của tổ chức này tập trung vào các vấn đề như vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, dinh dưỡng cho trẻ, vấn đề giáo dục và trẻ em tàn tật. Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, ngày càng có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ - đặc biệt là báo cáo của tổ chức Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc năm 2007. Báo cáo đã chỉ ra nhiều khía cạnh quan trọng giúp cho trẻ hài lòng hơn với cuộc sông, đó là đời sống vật chất, sức khoẻ, sự an toàn của trẻ, chất lượng giáo dục, chất lượng mối quan hệ gia đình và bạn bè của trẻ (Bradshaw và đồng nghiệp, 2009).
Nghiên cứu của Huebner (1994) đã xác định năm mặt biểu hiện của sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em là: Bạn bẻ, gia đình, trường học, bản thân và môi trường sống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ hài lòng về cuộc sống không liên quan đến lớp/tuôi và giới tính nhưng có liên quan đến sắc tộc, sự khác biệt về giới tính có liên quan đên sự hai lòng vê trường học của trẻ em. 16 Nair va Gaither (1999) chi ra rang tình trang hôn nhân, sự hỗ trợ xã hội va cơ hội hòa nhập với môi trường sống có liên quan chặt chẽ đến sự hải lòng trong cuộc sống. Qua tổng quan các nghiên cứu, Gilman và Huebner (2003) thay rằng, hầu hết các nghiên cứu đều đánh giá về sự hài lòng với cuộc sống tổng thể của trẻ em.
Các nghiên cứu đa chiều này cung cấp cho các nhà nghiên cứu các thông tin cụ thé góp phần đánh giá chính xác cũng như thúc day sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em. Từ đó, Gilman và Huebner xây dựng được mô hình gồm năm lĩnh vực cu thé là gia đình, bạn bè, trường học, môi trường sống, bản thân để đánh giá sự hài lòng với cuộc sống của trẻ. Tác giả đã nhấn mạnh những trải nghiệm ở nhiều lĩnh vực cuộc sông của trẻ như gia đình, trường học, nơi sống có liên quan đến sự hài lòng với cuộc sống và sự thích ứng của trẻ với môi trường xung quanh. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nghiên cứu sự hài lòng với cuộc sông của trẻ em còn cần phải tập trung vào tất cả các điểm mạnh của trẻ như tình yêu, lòng can đảm, kỹ năng giao tiếp, sự kiên tri, hy vọng, sự tha thứ, tài năng và tư duy tương lai.
Đến năm 2007, đề án tầm nhìn thế giới lần thứ nhất đã nghiên cứu đến sự hài lòng với cuộc sông của trẻ em ở nước Đức. Tác giả cho biết, sự hai lòng với cuộc sống được thé hiện qua các khía cạnh liên quan đến quyền, nhu cầu, sự tự tin, an toàn vật chất và xã hội và các mối quan hệ của trẻ em, đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến vấn đề trẻ được tự do trong mối quan hệ với cha mẹ, bạn bè và trường học (World Vision, 2007). Nghiên cứu của Brown và Duan (2007) đã đánh giá về sự hài lòng trong cuộc sống thông qua các mặt như nhân khẩu học, đặc điểm tâm lý và sự trải nghiệm cuộc sống qua khảo sát 648 học giả làm việc tại các trường Đại học của Thổ Nhĩ Kỳ. Các tác giả Proctor, Linley và Maltby (2008) cũng nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sông của trẻ em trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm (n = 141).
Kết quả cho thay sự hai lòng với cuộc sông của trẻ thê hiện qua các mặt cảm xúc và hành vi. Các 17 đánh giá này là điều kiện xây dựng các chính sách thúc đây sự hài lòng tích cực về cuộc sống của trẻ em. Nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ, tác giả Nick Axford cũng đưa ra nhiều khía cạnh của sự hải lòng với cuộc sống trẻ em như điều kiện sống và chất lượng cuộc sống của trẻ. Tác giả đã chỉ ra rằng các khía cạnh này có liên quan một cách hệ thông với nhau (Axford, 2009).
Nghiên cứu của nhóm tác giả Bradshaw và Richardson (2009) lại đi tìm hiểu đánh giá của trẻ về tất cả các lĩnh vực cuộc sống các em bao gồm: sức khỏe, mối quan hệ cá nhân, nguồn lực vật chất, giáo dục, hành vi rủi ro, nhà ở và môi trường. Kết quả cho thay mối liên hệ tích cực giữa sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em với việc chi tiêu cho các lợi ich, dịch vụ gia đình. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chi ra mỗi liên hệ tiêu cực với bất bình dang trong gia đình. Nhiều tác giả cho rằng sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em có liên quan chặt chẽ đến đời song vật chất, sự an toàn của ban than trẻ va sự hòa nhập xã hội.
Tổ chức xã hội trẻ em và đại học York đã đề xuất ba khía cạnh sự hài lòng với cuộc sông của trẻ, đó là cơ thể của trẻ, các mối quan hệ và môi trường sống của trẻ. Những nghiên cứu này đặc biệt nhấn mạnh đến sự tham gia, sự an toan, sự tự do, sự chăm sóc và bảo vệ trẻ để mang lại sự hài lòng với cuộc sống cho trẻ em (Rees và đồng nghiệp, 2010; Rees và đồng nghiệp, 2012; Bradshaw và đồng nghiệp, 2010). Một nghiên cứu của Hiệp hội đa quốc gia về các chỉ số trẻ em (ISCI) vào năm 2014 tại Ba Lan đã đi sâu tìm hiểu về sự hải lòng với cuộc sống của trẻ em thông qua khảo sát 3157 trường hợp trong đó có 1021 trẻ nhóm 8 tuổi, 1119 trẻ nhóm 10 tuổi và 1017 trẻ nhóm 12 tuổi. Trong nghiên cứu này của Strózik (2016), sự hài lòng với cuộc sống của chính bản thân trẻ được đánh giá dựa trên 5 khía cạnh quan trọng là gia đình, trường học, bạn bè, môi trường sống và bản thân trẻ.
Nghiên cứu chi ra rằng trẻ em độ tuổi này tỏ ra hài lòng với cuộc sông của chúng, đặc biệt là khía cạnh liên quan đến gia đình (Strózik và đồng nghiệp, 2016). Theo các tác giả của dự án Thế giới trẻ em (Casas, 2017; Savahl và đồng nghiệp, 2021), sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em tập trung vao hai lĩnh vực cụ 18 thé. Đó là sự hài lòng với cuộc sống của bản thân trẻ (sự hài lòng với cảm nhận về sự an toàn của trẻ; với sự tự do mà trẻ có; với vẻ bề ngoài của trẻ; với những điều có thé xảy ra sắp tới trong cuộc sống của trẻ; với sức khỏe của trẻ; và với cuộc sông nói chung của trẻ); sự hài lòng của trẻ về môi trường và mọi người xung quanh trẻ (sự hài lòng của trẻ với những người mà trẻ sống cùng; với cuộc sông của trẻ với tư cách là một học sinh; về những điều trẻ học được ở trường: về bạn bè trong lớp của trẻ; về khu vực nơi trẻ đang sống: với sự lắng nghe của người lớn đối với trẻ). Ngoài ra, theo Milovanska-Farrington & Farrington (2021), các lĩnh vực như sức khỏe, hoạt động giải trí, gia đình, công việc, tình hình tài chính, các mỗi quan hệ xã hội và giá trị bản thân cũng liên quan đến sự hài lòng trong cuộc sống.
Na- Nan và Wongwiwatthananukit (2020) đã đưa ra một số lĩnh vực liên quan đến sự hài lòng trong cuộc sống mà còn ít các nhà nghiên cứu xem xét tới. Theo các tác giả, có ít nhất năm lĩnh vực quan trọng liên quan đến sự hài lòng trong cuộc sống, đó là (1) sự nhiệt tình tham gia các hoạt động và quan tâm đến điều kiện sống của bản thân; (2) quyết tâm và đũng cảm chấp nhận các giá trị cuộc sống; khả năng chịu đựng các vấn đề gặp phải trong cuộc sống và nhận thức các vấn đề như là kinh nghiệm cuộc song; (3) việc dat được các mục tiêu đề ra được coi như một chỉ số thành công trong cuộc sống: (4) quan niệm về sức khỏe của bản thân và đóng góp có ý nghĩa cho xã hội; (5) điều chỉnh tâm trạng bản thân như một phương tiện để biết cách hạnh phúc, có thái độ tốt và cảm xúc tích cực đối với người khác và môi trường sống và khả năng vượt qua khó khăn. Có nhiều lĩnh vực dé đánh giá sự hài lòng trong cuộc sống đã được đưa ra. Mặc dù chúng khác nhau trong quan niệm của mỗi học giả, nhưng nhìn chung, hai từ khóa được thống nhất coi là lĩnh vực chính của sự hải lòng trong cuộc sống, đó là “hạnh phúc” và “cảm nhận hạnh phúc” (Sholihin và đồng nghiệp, 2022).
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về trẻ em chủ yếu được thể hiện trong các báo cáo điều tra gia đình Việt Nam (2006), báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam (MICS, 2010, 2012), báo cáo hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em ở Việt Nam (2011) do Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em thực hiện, báo cáo điều tra đánh giá các mục 19 tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam (MICS, 2011, 2014), báo cáo quốc gia về lao động trẻ em (2012) do Viện Khoa học Lao động và xã hội thuộc Bộ Lao động Thương binh Xã hội thực hiện. Các báo cáo chủ yếu tìm hiểu việc thực hiện các mục tiêu về trẻ em ở Việt Nam, đánh giá thực trạng hệ thống bảo vệ ở trẻ em, tình trạng trẻ em tham gia các hoạt động kinh tế, lao động trẻ em theo độ tuổi, tình trạng đi học, quy mô làm việc, điều kiện làm việc của trẻ em khi tham gia lao động, mối quan hệ cha mẹ và con cái cũng như các quyền của trẻ.