Chương 1: Cơ sở lí luận. Chương 2: Thực trạng khả năng ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 5 trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội. Chương 3: Thử nghiệm hình thành và phát triển các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa cho học sinh lớp 5. Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo và phụ lục 4 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề Trí nhớ là thuộc tính chung của các vật chất hữu cơ.
Đối với con người, trí nhớ là điều kiện chủ yếu, điều kiện cơ sở của toàn bộ đời sống tâm lí con người. Vì vậy trong suốt lịch sử phát triển của khoa học tâm lí, trí nhớ thường xuyên là đối tượng nghiên cứu được các nhà tâm lí học ưa thích. Do những cách tiếp cận khác nhau nên nghiên cứu về trí nhớ hết sức phong phú và đa dạng. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về trí nhớ Công trình khoa học đầu tiên về trí nhớ được Hermann Ebbingheus – một học giả người Đức tiến hành năm 1885.
Đề tài này đã nghiên cứu về cách thức hình thành và ghi nhớ các liên tưởng trong trí nhớ bằng phương pháp thực nghiệm. Trong tác phẩm “Phân tích trí nhớ về mặt thần kinh” của A.Luria năm 1970 đã trình bày xuất phát điểm coi trí nhớ là một hoạt động tâm lí có cấu trúc tâm lí và cấu trúc thần kinh của trí nhớ. Các nhà tâm lí học Liên Xô cũ đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề liên quan giữa tâm lí và hoạt động trong lĩnh vực các quá trình trí nhớ. Trong các công trình nghiên cứu của V.Dintreko đã xác định sự phụ thuộc của hiệu quả ghi nhớ vào đối tượng của hoạt động.
Tất cả những gì là đối tượng của hành động cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ đều có thể ghi nhớ một cách chính xác và chắc chắn. Có những cái tuy được tri giác rõ ràng, nhưng không cần cho nhiệm vụ của hành động thì về sau hầu như không nhớ 5 ra được. Các tác giả đã đặc biệt quan tâm tới các quá trình tư duy tham gia vào ghi nhớ. Các công trình nghiên cứu trong nước về trí nhớ Công trình nghiên cứu về trí nhớ: “Phương pháp ghi nhớ theo điểm tựa” của Phạm Minh Hạc, Trương Anh Tuấn đề cập đến việc giảng cho học sinh hiểu ý chính của bài khóa, giảng kĩ những từ mang nhiều lượng thông tin nhất trong bài.
Cho học sinh gạch dưới những từ, cụm từ… Qua thực nghiệm, các tác giả đi đến khẳng định: “nếu huấn luyện cho các em học theo phương pháp “điểm tựa” thì giảm bớt được thời gian ghi nhớ theo phương pháp cũ” [3, tr. Các tác giả đã vạch ra hiệu quả của ghi nhớ logic và huấn luyện cho các em có loại trí nhớ này. Tuy nhiên, các tác giả chưa giải quyết vấn đề phương pháp ghi nhớ theo “điểm tựa” được rèn luyện trong những điều kiện nào của dạy học mà mới chỉ đề cập đến việc rèn luyện trí nhớ tách ra khỏi nhứng điều kiện của dạy học nói chung ở trên lớp. Công trình “Ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 5,6,8 dùng phương pháp thực nghiệm đo khối lượng từ và số”.
Nhóm nghiên cứu trí nhớ, tổ Tâm lí học, trường ĐHSP Hà Nội do Phạm Minh Hạc chủ trì, 1963. Công trình kết luận rằng: Khối lượng nhớ từ lớn hơn khối lượng nhớ số. Khối lượng ghi nhớ thị giác là tốt nhất, khối lượng ghi nhớ riêng rẽ bằng thị giác, thính giác nhỏ hơn khối lượng ghi nhớ bang thị giác, thính giác phối hợp. Quá trình quên xảy ra không theo tỉ lệ thuận với thời gian.
Vũ Thị Nho, trong công trình nghiên cứu về trí nhớ của học sinh tiểu học nhận xét: “Đầu tuổi đi học, hầu hết các em còn bị trí nhớ tự do, không chủ định chi phối. Từ lớp 3 trở lên khả năng ghi nhớ có chủ định ở học sinh mới hình thành rõ nét, tuy nhiên trí nhớ không chủ định vẫn song song tồn tại” [10, tr. 6 Trong công trình nghiên cứu đề tài cấp Bộ (1997), Trần Trọng Thủy đã đưa ra kết luận: Khối lượng trí nhớ của học sinh tiểu học tăng lên, học sinh lớp 5 ghi nhớ từ 2,3 lần học sinh lớp 1. Tính trực quan vẫn giữ vai trò quan trọng trong trí nhớ của học sinh.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ xác định đặc điểm chung của trí nhớ học sinh tiểu học, chứ không đi vào nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng khả năng ghi nhớ của học sinh từng khối lớp ở bậc Tiểu học. Khái niệm về trí nhớ “Trí nhớ là một quá trình tâm lí phản ánh những kinh nghiệm đã có của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo lại sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm hành động hay suy nghĩ trước đây” [17, tr 106]. Trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của cá nhân. Những kinh nghiệm: hình ảnh, khái niệm, rung động, hành động, các thuộc tính của nhân cách mà cá nhân phản ánh.
Tiếp thu được trí nhớ lưu giữ. Trí nhớ không làm thay đổi những gì cá nhân tiếp thu được. Nét đặc trưng nhất của trí nhớ là trung thành với tất cả những gì cá nhân đã tiếp thu được nghĩa là nó hoạt động một cách máy móc và thật thà. Trí nhớ là một hoạt động bao gồm quá trình: quá trình ghi nhớ, quá trình giữ gìn, quá trình tái hiện và quá trình quên.
Mỗi quá trình đó có một chức năng xác định nhưng chúng không đối lập nhau mà thâm nhập vào nhau và chuyển hóa cho nhau. Vai trò của trí nhớ Trong cuộc sống của con người, trí nhớ có vai trò vô cùng quan trọng. Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu được để con người có đời sống tâm lí bình thường và ổn định. Nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy vốn kinh nghiệm và đem những kinh nghiệm đó vận dụng vào cuộc sống.
Như vậy, 7 không có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không thể có bất cứ một hành động nào, không thể phát triển tâm lí, nhân cách con người. Đối với hoạt động nhận thức của con người, trí nhớ có vai trò đặc biệt to lớn. Nó là công cụ để lưu giữ lại kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác, nhờ đó nhận thức phân biệt được các mối tác động lần đầu tiên và cái cũ đã tác động trước đây để có thể ứng xử thích hợp tức thì với hoàn cảnh sống. Trí nhớ là một điều kiện quan trọng để diễn ra quá trình nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng) và làm cho quá trình này đạt kết quả hợp lí.
Ở đây trí nhớ đã cung cấp các tài liệu do nhận thức cảm tính thu nhận cho nhận thức lí tính một cách trung thành và đầy đủ. Như vậy, trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con người trong mọi lĩnh vực: nhận thức, tình cảm và hành vi, do đó trí nhớ có tính chất quyết định đời sống tâm lí của con người, quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Các quan điểm tâm lí học về sự hình thành trí nhớ 1. Tâm lí học Gestal về trí nhớ (thuyết cấu trúc về trí nhớ) Những nhà tâm lí học Gestal cho rằng: “mỗi đối tượng có một cấu trúc thống nhất các yếu tố cấu thành (chứ không phải tổng số những bộ phận riêng lẻ của nó).
Cấu trúc này là cơ sở để tạo nên trong bán cầu đại não một cấu trúc tương tự của những dấu vết, và do đó trí nhớ được hình thành” [17, tr 181]. Tâm lí học Gestal coi nguyên tắc tính trọn vẹn của những hình ảnh như là một quy luật (được gọi là quy luật Gestal). Thuyết liên tưởng về trí nhớ Thuyết liên tưởng coi sự liên tưởng là nguyên tắc quan trọng nhất của sự hình thành trí nhớ nói riêng và sự hình thành tất cả các hiện tượng tâm lí khác nói chung. Theo quan điểm này “sự xuất hiện của một hình ảnh tâm lí 8 trong vỏ não bao giờ cũng diễn ra đồng thời hoặc kế tiếp trong thời gian với một hiện tượng tâm lí khác theo quy luật liên tưởng” [17, tr 180].
Tức là sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan được ghi lại hay nhớ lại không phải tách biệt nhau mà liên quan chặt chẽ với nhau theo từng nhóm hay theo từng loại. Do đó sự nhớ lại một số sự vật hay hiện tượng này dẫn đến sự nhớ lại một số sự vật hay hiện tượng khác. Sở dĩ như vậy là vì trong thực tế, sự vật và hiện tượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong không gian và thời gian, trong quan hệ giống nhau và khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Dưới ảnh hưởng của mối quan hệ khách quan đó, trên vỏ não hình thành những mối liên hệ thần kinh tạm thời làm cơ sở sinh lí cho quá trình ghi nhớ, nhớ lại.
Điều này trong tâm lí học gọi là sự liên tưởng. Căn cứ vào kích thích hiện tại và biểu tượng cũ, người ta chia liên tưởng ra làm 4 loại và cũng là quy luật liên tưởng: a. Liên tưởng gần nhau về không gian hoặc thời gian do giữa những sự vật hay hiện tượng có sự gần gũi nhau về không gian và thời gian mà nhớ đến sự vật này ta cũng nhớ đến sự vật kia. Liên tưởng giống nhau về hình thức hoặc nội dung xuất hiện trong khi các sự vật hay hiện tượng này có hình thức hay nội dung giống hệt như những sự vật hay hiện tượng trước đây.
Liên tưởng trái ngược nhau xuất hiện giữa các đối tượng hiện tại và trước đây có những đặc điểm trái ngược nhau. Chẳng hạn như thấy đen nghĩ đến trắng, hay có đêm nhớ ngày… d. Liên tưởng nhân quả xuất hiện khi sự vật hay hiện tượng này là nguyên nhân hay kết quả của sự vật hiện tượng kia. Như thấy sự học tập say sưa cần cù có thể nghĩ đến kết quả tốt đẹp trong khi kiểm tra.
Như vậy, quan điểm này mới chỉ dừng lại ở sự miêu tả những điều kiện bên ngoài của sự xuất hiện những ấn tượng đồng thời. Nói cách khác, quan 9 điểm này mới nhìn thấy sự kiện, hiện tượng chứ chưa lí giải được một cách khoa học về sự hình thành trí nhớ. Tâm lí học hiện đại về trí nhớ (thuyết hoạt động về trí nhớ) Tâm lí học hiện đại coi hoạt động của cá nhân quyết định sự hình thành trí nhớ nói riêng và tâm lí nói chung.