Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Tâm lí học của tác giả Đinh Thị Ngọc Lan (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2014) tập trung giải quyết vấn đề rèn luyện và phát triển trí nhớ ý nghĩa cho học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học Tiên Dương, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh kinh nghiệm của con người dưới hình thức biểu tượng, giữ vai trò điều kiện cơ sở cho toàn bộ đời sống tâm lý và sự hình thành nhân cách. Trong hoạt động nhận thức, trí nhớ là công cụ lưu giữ dữ liệu từ cảm giác, tri giác và cung cấp chất liệu cho tư duy, tưởng tượng. Ở bậc tiểu học, sự phát triển trí nhớ được phân thành hai giai đoạn rõ rệt:

  • Giai đoạn lớp 1, 2 và 3: Ghi nhớ máy móc phát triển tốt và chiếm ưu thế; học sinh chủ yếu ghi nhớ tự do, chưa biết dựa vào điểm tựa hay lập dàn bài logic.
  • Giai đoạn lớp 4 và 5: Ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ bắt đầu tăng cường; ghi nhớ có chủ định phát triển rõ nét. Tuy nhiên, hiệu quả ghi nhớ của học sinh lớp 5 vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ mức độ tích cực tư duy, hứng thú và phương pháp học tập.

Thực tiễn dạy học tại trường tiểu học cho thấy phần lớn học sinh lớp 5 vẫn duy trì thói quen học vẹt, ghi nhớ máy móc các định nghĩa, công thức và quy tắc mà không hiểu bản chất, dẫn đến việc nhanh quên và khó khăn khi vận dụng tri thức vào giải bài tập. Tình trạng này bắt nguồn từ việc giáo viên chưa chú trọng hình thành các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa cho học sinh trong tiến trình dạy học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Tiên Dương, từ đó đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả ghi nhớ ý nghĩa cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về trí nhớ: khái niệm trí nhớ, các loại ghi nhớ, đặc điểm hoạt động học tập và đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học giai đoạn 2.
    2. Khảo sát và phân tích thực trạng quá trình ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Tiên Dương, chỉ ra các nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng.
    3. Đề xuất và thử nghiệm tác động sư phạm các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa trên môn Toán và Tiếng Việt nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 5.
  • Khách thể và phạm vi không gian: 100 học sinh khối lớp 5 (50 học sinh lớp 5A và 50 học sinh lớp 5B) tại Trường Tiểu học Tiên Dương, huyện Đông Anh, Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian và nội dung: Khóa luận hoàn thành vào tháng 05 năm 2014, triển khai thực nghiệm sư phạm trong 2 tuần qua 8 tiết dạy bài mới môn Toán và Tiếng Việt lớp 5.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận: Khóa luận tổng thuật và vận dụng các quan điểm tâm lý học kinh điển và hiện đại về bản chất của trí nhớ:

  • Lịch sử nghiên cứu: Hermann Ebbinghaus (1885) với nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về liên tưởng; A. Luria (1970) với phân tích cấu trúc tâm lý - thần kinh của trí nhớ; V. Zinchenko cùng các nhà tâm lý học Liên Xô nghiên cứu mối liên hệ giữa trí nhớ và hoạt động; các nghiên cứu trong nước của Phạm Minh Hạc và Trương Anh Tuấn (phương pháp ghi nhớ theo điểm tựa), nhóm nghiên cứu ĐHSP Hà Nội (1963), Vũ Thị Nho và Trần Trọng Thủy (1997).
  • Các quan điểm tâm lý học:
    1. Tâm lý học Gestalt (thuyết cấu trúc): Coi cấu trúc thống nhất của đối tượng tạo nên cấu trúc dấu vết tương tự trên bán cầu đại não theo quy luật trọn vẹn.
    2. Thuyết liên tưởng: Xác định 4 quy luật liên tưởng (gần nhau trong không gian/thời gian, tương tự về hình thức/nội dung, tương phản, nhân quả).
    3. Tâm lý học hiện đại (thuyết hoạt động): Khẳng định hoạt động và mục đích của hành động quy định hiệu quả của các quá trình ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện.
  • Các quá trình cơ bản của trí nhớ: Quá trình ghi nhớ (tạo vết), giữ gìn (tiêu cực và tích cực), tái hiện (nhận lại, nhớ lại, hồi tưởng) và quên (quy luật quên theo thời gian và các nguyên tắc chống quên như ôn tập ngay, ôn tập xen kẽ, ôn tập phân tán).
  • Phân loại ghi nhớ: Ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định; trong ghi nhớ có chủ định bao gồm ghi nhớ máy móc (lặp lại đơn thuần bề ngoài) và ghi nhớ ý nghĩa (dựa trên sự thông hiểu logic nội tại và bản chất tài liệu).
  • Hệ thống biện pháp ghi nhớ ý nghĩa: Ghi nhớ theo điểm tựa (lập dàn ý, chia đoạn, đặt tên điểm tựa), thực hiện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa), tái hiện bằng hình thức nói thầm (tự nói cho mình nghe, ghi ra giấy đối chiếu), vận dụng vào giải bài tập và tổ chức ôn tập khoa học.

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Tác giả phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu tâm lý học và giáo dục học:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành về trí nhớ và tâm lý học lứa tuổi.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, sự chú ý và tính tích cực học tập của học sinh trong các giờ học và kiểm tra.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi/trắc nghiệm: Sử dụng phiếu trắc nghiệm câu hỏi ngắn nhằm tìm hiểu thói quen sinh hoạt (thời gian ngủ, xem tivi, giao tiếp gia đình, thói quen suy nghĩ khi gặp bài khó).
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Đánh giá bài làm, bài kiểm tra Toán và Tiếng Việt của học sinh theo thang điểm và tiêu chí xác định.
  • Phương pháp thử nghiệm tác động sư phạm: Thiết kế giáo án và tiến hành dạy thực nghiệm 8 tiết học môn Toán và Tiếng Việt lớp 5 theo hướng tổ chức hoạt động tích cực, rèn luyện kỹ năng ghi nhớ logic cho lớp thử nghiệm (5A) và so sánh với lớp đối chứng (5B).
  • Phương pháp thống kê toán học: Phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm, lập bảng so sánh đối chiếu số liệu trước và sau thử nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các luận điểm lý thuyết về trí nhớ và tâm lý học lứa tuổi học sinh tiểu học. Tác giả khẳng định trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh kinh nghiệm đã có dưới hình thức biểu tượng, bao gồm bốn khâu liên hoàn: ghi nhớ, giữ gìn, tái hiện và quên.

Tác giả phân tích các quy luật hình thành trí nhớ từ thuyết cấu trúc (Gestalt), thuyết liên tưởng đến thuyết hoạt động của tâm lý học Xô Viết, trong đó nhấn mạnh hiệu quả ghi nhớ phụ thuộc vào việc tài liệu có trở thành mục đích của hành động hay không.

Chương này làm rõ sự khác biệt giữa ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa, đồng thời phân tích chi tiết các đặc điểm tâm lý của học sinh giai đoạn 2 tiểu học (lớp 4-5):

  • Hoạt động học chuyển từ giai đoạn học tập cơ bản sang học tập chuyên sâu, tri thức mang tính trừu tượng và khái quát cao hơn.
  • Tri giác phân tích dần chiếm ưu thế so với tri giác tổng thể; tư duy trừu tượng phát triển mạnh nhưng vẫn dựa trên tư duy cụ thể.
  • Khả năng suy luận nhân quả và tưởng tượng sáng tạo phát triển rõ nét, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các thao tác ghi nhớ logic.

Chương 2: Thực trạng khả năng ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 5 trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng trên 100 học sinh (50 em lớp 5A và 50 em lớp 5B) thông qua các bài tập chuyên biệt môn Toán và Tiếng Việt:

  1. Khảo sát mức độ sử dụng ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa:
    • Môn Toán (bài tập tìm quy luật dãy số): Đa số học sinh chỉ biết điền số tiếp theo một cách máy móc, chưa tìm ra công thức quy luật.
    • Môn Tiếng Việt (bài tập điền tiếng có vần "ưa/ươ" vào thành ngữ/tục ngữ): Học sinh điền theo thói quen nghe thuộc nhưng không giải thích được nghĩa của từ.
Môn học Lớp Ghi nhớ máy móc (Số lượng / %) Ghi nhớ ý nghĩa (Số lượng / %)
Toán 5A (50 HS) 30 HS (60%) 20 HS (40%)
5B (50 HS) 32 HS (64%) 18 HS (36%)
Tiếng Việt 5A (50 HS) 34 HS (68%) 16 HS (32%)
5B (50 HS) 33 HS (66%) 17 HS (34%)
  1. Khảo sát kỹ năng ghi nhớ theo điểm tựa (Bài thơ "Cao Bằng"):

    • Có 76% học sinh lớp 5A (38 HS) và 78% học sinh lớp 5B (39 HS) học thuộc lòng bằng cách đọc vẹt nhiều lần mà không biết chia đoạn, đặt tên điểm tựa hay lập dàn ý bao quát.
    • Tỷ lệ học sinh biết lập dàn bài điểm tựa để ghi nhớ chỉ đạt 24% ở lớp 5A (12 HS) và 22% ở lớp 5B (11 HS).
  2. Khảo sát mức độ ghi nhớ tri thức kết hợp khả năng vận dụng (Bài đọc "Hộp thư mật" và bài toán "Diện tích hình thang"):

    • Nhóm đạt điểm 9-10 (nhớ chính xác và vận dụng tốt): Lớp 5A đạt 22% (11 HS); Lớp 5B đạt 24% (12 HS); trung bình 23%.
    • Nhóm đạt điểm 7-8 (nhớ chính xác nhưng vận dụng chưa cao): Lớp 5A đạt 48% (24 HS); Lớp 5B đạt 52% (26 HS); trung bình 50%.
    • Nhóm đạt điểm 5-6 (nhớ chính xác nhưng không biết vận dụng): Lớp 5A đạt 24% (12 HS); Lớp 5B đạt 20% (10 HS); trung bình 22%.
    • Nhóm dưới 5 điểm (không nhớ chính xác và không biết vận dụng): Lớp 5A chiếm 6% (3 HS); Lớp 5B chiếm 4% (2 HS); trung bình 5%.
  3. Phân tích nguyên nhân:

    • Nguyên nhân chủ quan: Thói quen ngủ không đủ giấc, xem tivi quá nhiều, ít giao tiếp với gia đình/bạn bè, thói quen lười suy nghĩ tự lập và các yếu tố dinh dưỡng/sinh hoạt.
    • Nguyên nhân khách quan: Giáo viên chưa hướng dẫn học sinh phương pháp ghi nhớ logic, chưa xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, thiếu rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ cá nhân; ảnh hưởng từ môi trường sống và tâm lý lứa tuổi.

Chương 3: Thử nghiệm hình thành và phát triển các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa cho học sinh lớp 5

Chương 3 mô tả quá trình và kết quả thử nghiệm tác động sư phạm. Tác giả chọn lớp 5A (50 HS) làm lớp thực nghiệm và lớp 5B (50 HS) làm lớp đối chứng.

Nội dung chương trình thử nghiệm: Thực hiện trong 8 tiết dạy bài mới môn Toán và Tiếng Việt lớp 5, áp dụng 4 biện pháp cốt lõi:

  1. Hướng dẫn ghi nhớ theo điểm tựa: Phân đoạn tài liệu, đặt tên điểm tựa cho từng đoạn, liên kết các điểm tựa thành dàn bài.
  2. Hướng dẫn các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa bản chất công thức, quy tắc (ví dụ: cắt ghép hình thang thành hình tam giác để xây dựng công thức diện tích).
  3. Hướng dẫn kỹ thuật tái hiện bằng nói thầm: Định hướng tập trung, chia nhóm yếu tố, xác định liên hệ, nhẩm thầm không nhìn tài liệu 3-4 lần và viết ra giấy để đối chiếu.
  4. Tổ chức vận dụng tri thức vào giải bài tập và hướng dẫn phương pháp ôn tập khoa học, xen kẽ.

Kết quả đối chiếu trước và sau thử nghiệm:

  1. Môn Toán (Ghi nhớ dãy số quy luật):
Nhóm lớp Thời điểm Ghi nhớ máy móc Ghi nhớ ý nghĩa mức thấp Ghi nhớ ý nghĩa mức cao
Lớp thử nghiệm (5A) Trước TN 48% (24 HS) 38% (19 HS) 14% (7 HS)
Sau TN 16% (8 HS) 52% (26 HS) 32% (16 HS)
Lớp đối chứng (5B) Trước TN 50% (25 HS) 34% (17 HS) 16% (8 HS)
Sau TN 48% (24 HS) 34% (17 HS) 18% (9 HS)
  1. Môn Tiếng Việt (Ghi nhớ theo điểm tựa - bài "Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân"):
Nhóm lớp Thời điểm Ghi nhớ máy móc Ghi nhớ ý nghĩa mức thấp Ghi nhớ ý nghĩa mức cao
Lớp thử nghiệm (5A) Trước TN 54% (27 HS) 30% (15 HS) 16% (8 HS)
Sau TN 10% (5 HS) 36% (18 HS) 54% (27 HS)
Lớp đối chứng (5B) Trước TN 58% (29 HS) 30% (15 HS) 12% (6 HS)
Sau TN 54% (27 HS) 30% (15 HS) 16% (8 HS)
  1. Khả năng ghi nhớ tri thức và vận dụng giải bài tập (Bài đọc "Phân xử tài tình" và bài toán "Thể tích hình hộp chữ nhật"):
Nhóm lớp Thời điểm Nhớ chính xác, vận dụng tốt (9-10đ) Nhớ chính xác, vận dụng chưa cao (7-8đ) Nhớ chính xác, không biết vận dụng (5-6đ) Không nhớ chính xác, không biết vận dụng (<5đ)
Lớp thử nghiệm (5A) Trước TN 18% (9 HS) 54% (27 HS) 22% (11 HS) 6% (3 HS)
Sau TN 44% (22 HS) 48% (24 HS) 12% (6 HS) 0% (0 HS)
Lớp đối chứng (5B) Trước TN 16% (8 HS) 50% (25 HS) 26% (13 HS) 8% (4 HS)
Sau TN 14% (7 HS) 52% (26 HS) 28% (14 HS) 6% (3 HS)

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Khảo sát thực trạng ban đầu chỉ ra rằng học sinh lớp 5 tại địa bàn nghiên cứu có sự phát triển về ghi nhớ có chủ định nhưng ghi nhớ máy móc vẫn áp đảo (chiếm 60% - 68% ở cả hai môn Toán và Tiếng Việt); tỷ lệ học sinh không biết lập dàn ý điểm tựa khi học thuộc lòng lên tới 76% - 78%.
  • Tác động sư phạm qua 8 tiết học thực nghiệm đã tạo ra sự chuyển biến vượt bậc ở lớp 5A:
    • Ở môn Toán, tỷ lệ học sinh ghi nhớ máy móc giảm mạnh từ 48% xuống còn 16%, trong khi ghi nhớ ý nghĩa mức độ cao tăng từ 14% lên 32%.
    • Ở môn Tiếng Việt, tỷ lệ ghi nhớ ý nghĩa mức độ cao tăng từ 16% lên 54%, tỷ lệ ghi nhớ máy móc giảm từ 54% xuống chỉ còn 10%.
    • Năng lực vận dụng tri thức vào giải bài tập đạt loại tốt (9-10 điểm) tăng từ 18% lên 44%, đồng thời xóa bỏ hoàn toàn tỷ lệ học sinh yếu kém dưới 5 điểm (từ 6% xuống 0%).
    • Ngược lại, lớp đối chứng 5B không có sự thay đổi đáng kể (tỷ lệ ghi nhớ máy móc vẫn ở mức cao 48% môn Toán và 54% môn Tiếng Việt; tỷ lệ đạt loại tốt khi vận dụng tri thức chỉ đạt 14%).

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Đối với giáo viên tiểu học:
    1. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh; hướng dẫn học sinh tự khám phá và phát hiện bản chất logic của tài liệu.
    2. Rèn luyện thường xuyên các thao tác tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa) khi dạy các quy tắc, định nghĩa, công thức toán học.
    3. Hướng dẫn học sinh phương pháp lập dàn ý điểm tựa cho văn bản và quy trình tái hiện bằng nói thầm để tự kiểm tra kiến thức.
    4. Hướng dẫn chế độ ôn tập khoa học: ôn tập kịp thời ngay sau khi học, ôn tập thường xuyên và phân tán xen kẽ các môn học, tránh việc nhồi nhét một môn trong thời gian dài gây ức chế vỏ não.
  • Đối với phụ huynh học sinh: Hướng dẫn trẻ thời gian biểu học tập và nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo giấc ngủ, hạn chế thời gian xem tivi, tăng cường giao tiếp và khuyến khích trẻ tự suy nghĩ giải quyết vấn đề.

Đóng góp của đề tài: Tác giả đã chỉ ra khoảng trống trong các nghiên cứu trước đây (thường chỉ nêu đặc điểm trí nhớ chung của toàn cấp tiểu học hoặc nghiên cứu điểm tựa tách rời giờ học trên lớp) và giải quyết thành công việc gắn liền việc rèn luyện các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa trực tiếp vào cấu trúc từng tiết học Toán và Tiếng Việt lớp 5 cụ thể.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm chỉ mới triển khai trên quy mô 100 học sinh thuộc 2 lớp (5A và 5B) tại một trường tiểu học ngoại thành Hà Nội (Trường Tiểu học Tiên Dương, Đông Anh) trong thời gian ngắn (2 tuần với 8 tiết dạy thử nghiệm). Khóa luận chủ yếu tập trung vào hai phân môn Toán và Tiếng Việt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả định hướng mở rộng nghiên cứu sang các khối lớp khác ở bậc tiểu học, mở rộng phạm vi môn học (như Lịch sử, Địa lí, Khoa học) và thực hiện theo dõi sự duy trì bền vững của các kỹ năng ghi nhớ logic trong các khoảng thời gian dài hơn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Sư phạm và Tâm lý học giáo dục tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm và bảng biểu xử lý số liệu đối chứng.
  • Giáo viên tiểu học (đặc biệt là giáo viên khối 4 và 5) có thể vận dụng trực tiếp các quy trình rèn luyện kỹ năng ghi nhớ ý nghĩa: quy trình phân đoạn lập điểm tựa bài thơ/đoạn văn, quy trình 5 bước tái hiện bằng nói thầm, phương pháp trực quan hóa bản chất công thức toán học và kỹ thuật tổ chức ôn tập xen kẽ chống quên.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả phân loại mức độ ghi nhớ ý nghĩa trong môn Toán như thế nào? Trong bài tập dãy số quy luật, tác giả phân chia thành 3 mức độ:

  • Ghi nhớ máy móc: Học sinh chỉ học thuộc lòng từng số hạng hoặc điền số tiếp theo mà không giải thích được lý do.
  • Ghi nhớ ý nghĩa mức độ thấp: Học sinh tìm ra mối liên hệ cộng tăng/giảm dần của từng thành phần $a, b, c$ nhưng chưa khái quát thành quy luật chung.
  • Ghi nhớ ý nghĩa mức độ cao: Học sinh tìm ra chính xác quy luật bản chất ($a$ cộng các số chia hết cho 5 giảm dần từ 20; $b$ cộng các số chia hết cho 3 tăng dần từ 6; $c$ cộng các số chia hết cho 2 tăng dần từ 2).

2. Quy trình kỹ thuật "tái hiện dưới hình thức nói thầm" gồm những bước nào? Quy trình gồm các bước:

  1. Định hướng sự tập trung cao độ vào toàn bộ tài liệu.
  2. Phân chia tài liệu thành các nhóm yếu tố cơ bản và xác định mối liên hệ trong từng nhóm.
  3. Thoát ly tài liệu, tiến hành tái hiện bằng hình thức nói thầm cho chính mình nghe từ 3 đến 4 lần (tái hiện toàn bộ một lần, tái hiện từng phần khó, rồi tái hiện lại toàn bộ).
  4. Ghi những điều nhớ được ra giấy và đối chiếu lại với tài liệu gốc để kiểm tra độ chính xác.

3. Số liệu thực trạng về kỹ năng ghi nhớ theo điểm tựa bài thơ "Cao Bằng" cho kết quả ra sao? Khảo sát trên 100 học sinh cho thấy đa số học sinh không biết lập dàn bài điểm tựa để ghi nhớ (lớp 5A chiếm 76% tương ứng 38 HS; lớp 5B chiếm 78% tương ứng 39 HS). Tỷ lệ học sinh biết chia đoạn, đặt tên điểm tựa và lập dàn bài bao quát chỉ đạt 24% ở lớp 5A (12 HS) và 22% ở lớp 5B (11 HS).

4. Kết quả môn Tiếng Việt của lớp thực nghiệm 5A thay đổi như thế nào sau tác động sư phạm? Sau thử nghiệm, tại lớp 5A:

  • Tỷ lệ học sinh ghi nhớ ý nghĩa mức độ cao (ghi nhớ theo điểm tựa) tăng từ 16% (8 HS) lên 54% (27 HS).
  • Tỷ lệ ghi nhớ ý nghĩa mức độ thấp đạt 36% (18 HS).
  • Tỷ lệ ghi nhớ máy móc giảm mạnh từ 54% (27 HS) xuống còn 10% (5 HS).

5. Các nguyên nhân chủ quan hàng đầu ảnh hưởng đến sự suy giảm ghi nhớ của học sinh được nêu trong văn bản là gì? Các nguyên nhân chủ quan bao gồm: ngủ không đủ giấc làm giảm tập trung; xem tivi quá nhiều; ít giao tiếp với người thân và bạn bè làm hạn chế sự kích thích ngôn ngữ và hoạt động não bộ; thói quen ăn quá no kéo dài; và thói quen lười suy nghĩ, lười vận động trí óc khi gặp bài toán khó.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Thị Ngọc Lan đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về trí nhớ và chứng minh thực trạng học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Tiên Dương còn phụ thuộc nhiều vào ghi nhớ máy móc. Thông qua chương trình thử nghiệm tác động sư phạm trên 8 tiết dạy Toán và Tiếng Việt, tác giả khẳng định việc rèn luyện các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa (lập điểm tựa, thực hiện thao tác tư duy, tái hiện nói thầm và ôn tập xen kẽ) giúp nâng cao rõ rệt hiệu quả ghi nhớ logic và khả năng vận dụng kiến thức của học sinh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn và giải pháp sư phạm cụ thể cho giáo viên tiểu học trong việc nâng cao chất lượng dạy học.