Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1 Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1. Cụ thể: Cơ sở lí luận bao gồm Tổng quan về vấn đề nghiên cứu (tổng hợp các tài liệu và công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đề tài); Một số khái niệm công cụ (bài tập, nói, lời nói, hình thức nói, kĩ năng, kĩ năng nói, năng lực, năng lực ngôn ngữ); Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1; Các lý thuyết vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài (lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại). Cơ sở thực tiễn bao gồm Chương trình, tài liệu dạy học (nhìn từ bình diện rèn kĩ năng nói); Thực trạng kĩ năng nói của học sinh lớp 1 và việc rèn kĩ năng nói cho các em.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Vấn đề phát triển kĩ năng nói và dạy nói cho học sinh đầu cấp tiểu học đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Trong cuốn sách Phương pháp dạy Tiếng mẹ đẻ, tác giả Lê A và Vương Toàn đã đưa ra năm nguyên tắc khi dạy Tiếng mẹ đẻ của Phê-đô-ren-cô L. Đó là: nguyên tắc chú ý đến mặt vật chất của ngôn ngữ, nguyên tắc thông hiểu ý nghĩa của ngôn ngữ, nguyên tắc đánh giá tính biểu cảm của lời nói, nguyên tắc phát triển cảm quan của ngôn ngữ và nguyên tắc phát triển lời nói miệng trước lời nói viết.
Ở trang 93-94, hai tác giả giới thiệu nhận định của Phê-đô-ren-cô L.L: “Với trẻ, lời nói viết là giai đoạn thứ hai trong sự lĩnh hội lời nói chung và trẻ không thể lĩnh hội được lời nói viết nếu không nắm được lời nói miệng. Báo cáo “A Program To Develop the Listening and Speaking Skills of Children in a First Grade Classroom” (Một chương trình phát triển kĩ năng nghe và nói của học sinh lớp Một) của tác giả Julie Anne Wilson, đại học Virginia, Mỹ tháng 5 năm 1997 mô tả lại một chương trình phát triển kĩ năng (KN) nghe nói cho học sinh (HS) lớp 1 Luan van 9 với 17 HS tham gia. Ở phần đầu báo cáo, tác giả nói tới tầm quan trọng của nghe, nói và chỉ ra những nghiên cứu chứng tỏ trẻ em đồng thời học bốn KN nghe, nói, đọc, viết từ những ngày đầu chứ không phải học nghe, nói trước và học đọc, viết sau như cách truyền thống mà mọi người thường nghĩ. Trong đó nhấn mạnh những trẻ có thể diễn giải suy nghĩ và ý kiến của mình bằng lời nói có nhiều khả năng thành công hơn ở trường học trong khi những HS không phát triển tốt kĩ năng nghe - nói có nguy cơ chịu ảnh hưởng cả đời vì sự thiếu hụt KN này.
Một số phương pháp phát triển KN nghe - nói cũng được đề cập như đặt câu hỏi, kể chuyện, diễn kịch và sự tích hợp trong chương trình ngoại khóa, v. Ngoài ra, ở trang 10 của tài liệu, những việc giáo viên (GV) cần làm để phát triển KN nghe - nói cho HS được nhắc tới: “Giáo viên cần tạo ra một môi trường mà học sinh cảm thấy an toàn để chia sẻ suy nghĩ của mình. Đây là bước đầu tiên trong việc phát triển kĩ năng nghe - nói. Giáo viên hãy là thành người nói và lắng nghe ân cần.
Nghiên cứu Effects of Creative, Educational Drama Activities on Developing Oral Skills in Primary School Children của tác giả Abdulhak Halim Ulaş đăng trên tạp chí American Journal of Applied Sciences 5 (7) trang 876-880 năm 2008 là một nghiên cứu đã được thực hiện để xem các khóa học giảng dạy ngôn ngữ bản địa sử dụng các hoạt động kịch nghệ sáng tạo có hiệu quả hơn trong việc phát triển các KN giao tiếp bằng miệng ở HS tiểu học (TH) hơn các khóa học giảng dạy ngôn ngữ bản địa truyền thống hay không. Trong nghiên cứu này, các các yếu tố về KN giao tiếp bằng miệng của HS TH như phát âm và giải thích được quan tâm. Nhà nghiên cứu sử dụng hai nhóm HS năm thứ tư đang theo học tại một trường TH ở trung tâm thành phố tỉnh Erzurum, Thổ Nhĩ Kỳ, trong năm học 2006 - 2007. Kĩ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên đã được sử dụng để hình thành các nhóm thực nghiệm (số lượng 32) và nhóm đối chứng (số lượng 33).
Người nghiên cứu quan sát để đánh giá các KN giao tiếp bằng miệng và thu thập dữ liệu. Hiệu lực của hình thức này đã được xác minh bằng cách giới thiệu nó với các chuyên gia và độ tin cậy của nó đã được xác nhận bởi bảy nhà giáo dục. Công cụ đo lường này đã được áp dụng trên các nhóm thực nghiệm (TN) và đối chứng cả trước TN và sau TN. Phương pháp truyền thống, sử dụng sách giáo khoa, lấy GV làm trung tâm, được triển khai trong nhóm đối chứng trong khi bài học hướng Luan van 10 dẫn ngôn ngữ bản địa đã được thực hiện bằng cách sử dụng các hoạt động kịch trong nhóm thực nghiệm.
Sau 14 tuần, cả hai nhóm tham gia làm bài kiểm tra. Phân tích dữ liệu đã chứng minh một sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm TN và nhóm đối chứng ở KN giao tiếp bằng miệng. Việc áp dụng các hoạt động kịch trong dạy ngôn ngữ bản địa đã cải thiện sự phát triển các KN phát âm, giải thích so với phương pháp sách giáo khoa truyền thống, lấy GV làm trung tâm. Ở cuối phần Giới thiệu, trang 876, tác giả nhấn mạnh: “Bất kể được áp dụng ở đâu, kịch sáng tạo có thể được xem xét một phương pháp học tập cũng là một công cụ để thể hiện bản thân như nghệ thuật.
Phạm vi của kịch sáng tạo có thể được ngắn gọn giải thích thông qua sáu nguyên tắc học tập: học sinh học nội dung có ý nghĩa tốt hơn nội dung khác; việc học diễn ra là kết quả của học sinh tương tác với môi trường của mình; học sinh càng sử dụng các cơ quan cảm giác nhiều hơn trong khi học tập thì việc giữ lại các bài học càng lớn; một học sinh học tốt nhất bằng cách làm và trải nghiệm; việc thực hành hiệu quả là rất quan trọng trong học tập tình cảm, đạo đức; việc học trở nên dễ dàng và lâu dài hơn trong môi trường giáo dục nơi có nhiều hơn một kích thích.” Cuốn sách How To Teach Speaking của Scott Thornbury xuất bản lần đầu năm 2005, nhà xuất bản Longman. Đây là cuốn sách dạy nói tiếng Anh nhưng GV dạy Tiếng Việt (TV) có thể học được nhiều nội dung về dạy nói được tác giả trình bày trong cuốn sách này. Những khái niệm, nội dung ngôn ngữ liên quan tới dạy nói được tác giả nhắc đến như người nói làm gì (sản xuất lời nói, tự động, khớp nối, tự giám sát và sửa chữa, v.), người nói cần biết những gì (kiến thức văn hóa - xã hội, kiến thức ngôn ngữ) cùng với việc phân tích rõ các ví dụ minh họa. Bên cạnh đó, các phương pháp có thể sử dụng khi dạy nói cũng được giới thiệu cụ thể như kịch, thuyết trình, nhập vai, thảo luận.
Tác giả còn bàn về việc đánh giá KN nói và các tiêu chí cụ thể để đánh giá KN này được trình bày trong chương cuối. Cuốn sách The Skill Approach in Education: From Theory to Practice (Phương pháp tiếp cận KN trong giáo dục: từ lí thuyết đến thực hành) do Firdevs Güneş và Yusuf Söylemez biên tập, xuất bản lần đầu năm 2018, nhà xuất bản Cambridge Scholars Publishing. Nội dung cuốn sách bàn về những KN cần thiết trong giáo dục. Luan van 11 Sách được chia làm năm phần, mỗi phần bàn về một nhóm KN.
Trong đó, KN nói trôi chảy là nội dung của chương X, thuộc phần thứ hai - nhóm các KN cơ bản (Basic Skills in Education). Mối quan hệ giữa khả năng nói và sự thành công đã được các tác giả đề cập: “Sự thành công có được nhờ sức mạnh ảnh hưởng của việc nói được coi là tỷ lệ thuận với chất lượng cuộc sống của các cá nhân trong một xã hội. Chất lượng này sẽ đạt được giá trị thông qua việc thiết lập các mối quan hệ giao tiếp mạnh mẽ của các cá nhân trong cuộc sống. Khi mô tả về các lí thuyết và mô hình dạy nói ứng dụng, các tác giả nhắc tới quan điểm dạy ngôn ngữ của Piaget và Vygotsky.
Bên cạnh đó, các tác giả nói tới những yếu tố giúp HS nói trôi chảy, nguyên nhân khiến HS nói không trôi chảy. Về việc phát triển KN nói trôi chảy, điều đầu tiên các tác giả nhắc đến là GV cần tạo môi trường để HS cảm thấy thoải mái và không có những vướng mắc tâm lí khi nói. Ngoài ra, GV cần chú ý tới việc làm mẫu của mình. Những kĩ thuật để kiểm soát việc nói của HS như: sử dụng hình ảnh, phát triển chủ đề theo tưởng tượng, bỏ qua một số lỗi nhỏ, các phương pháp làm việc nhóm, động não cũng được nhắc tới.
Nghiên cứu Predicting Reading Comprehension in Early Elementary School: The Independent Contributions of Oral Language and Decoding Skills (Dự đoán khả năng đọc hiểu ở trường tiểu học sớm: Những đóng góp độc lập của ngôn ngữ nói và kỹ năng giải mã) của Panayiota Kendeou, Paul van den Broek, Mary Jane White và Julie S.Lynch đăng trên tạp chí Joural of Education Psychology số 101, kì 4, năm 2009, trang 765-778 là một nghiên cứu đáng được quan tâm về mối quan hệ giữa khả năng đọc hiểu ở đầu cấp TH và ngôn ngữ nói. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã kiểm tra ngôn ngữ nói và KN giải mã của hai nhóm trẻ em: 4 và 6 tuổi và kiểm tra lại chúng sau hai năm với số lượng trẻ ở mỗi nhóm lần lượt là 113 và 108. Kết quả được trình bày tại trang 774 cho thấy: “khả năng nói và khả năng giải mã ở độ tuổi mầm non có thể dự đoán từng khả năng này trong hai năm sau đó; kĩ năng ngôn ngữ nói và kĩ năng giải mã có mối quan hệ mật thiết với nhau ở trường mầm non nhưng trở nên yếu hơn ở các lớp trên; ngôn ngữ nói và kĩ năng giải mã dự đoán độc lập khả năng đọc hiểu ở lớp hai.” (Panayiota Kendeou, et al. Mối quan hệ này sẽ giúp GV thấy được tầm quan trọng của việc phát triển KN nói cho học sinh ở đầu cấp TH.