chương 1, chúng tôi tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Cụ thể: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; Cơ sở lí luận bao gồm: Cơ sở tâm sinh lí và ngôn ngữ của học sinh lớp 1; Cơ sở ngôn ngữ học; Lý luận về phát triển kĩ năng viết cho học sinh lớp 1; Cơ sở thực tiễn bao gồm các nội dung sau: Chương trình dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (05/2006) và Chương trình giáo dục phổ thông mới (12/2018) - nhìn từ bình diện rèn kĩ năng viết; Thực trạng rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1 tại một số trường Tiểu học. Tổng quan vấn đề nghiên cứu a. Các nghiên cứu ở nước ngoài về rèn kĩ năng viết KNV là một trong bốn KN đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống mỗi người, chính vì vậy, từ nhiều năm trước, các nhà giáo dục trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu về thực trạng KNV của HS, những yếu tố quyết định sự thành công của người viết, ảnh hưởng của KNV đối với đời sống mỗi người, làm thế nào để phát triển KNV, v.
Các nghiên cứu này đều đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết của việc rèn luyện KNV cho HS ngay từ lớp đầu tiên của bậc TH. Tiêu biểu phải kể đến các nghiên cứu của Steven Graham, Karen Harris, Presley, Connie Jule, v. Nhóm tác giả: Michael Pressley; Ruth Wharton-McDonald; Richard Allington; Cathy Collins Block; Lesley Morrow đã bàn về bản chất của vấn đề hướng dẫn dạy đọc viết hiệu quả ở lớp 1 qua “The Nature of Effective First- Grade Literacy Instruction” (1998). “Dạy học lớp 1 thì phức tạp hơn cả khoa học hàng không” (Michael Pressley et al.
1998), đây là nhận định được đề cập trong tài liệu sau khi nhóm tác giả tiến hành quan sát, điều tra thực tế dạy học ở hai mươi tám lớp 1 tại năm bang của nước Mỹ. Từ kết quả thu thập nhóm tác giả đã trình bày các khuyến nghị nhằm giúp cho việc giảng dạy KNV ở lớp 1 đạt được hiệu quả. Nhóm tác giả đặc biệt quan tâm đến quá trình hướng dẫn HS nhận biết cấu trúc câu, tạo động cơ, khơi dậy sự yêu thích của HS đối với bài viết của mình. Động cơ viết và môi trường viết là hai yếu tố được thường xuyên đề cập, nhấn mạnh trong nhiều Luan van 8 nghiên cứu khi trình bày khuyến nghị nhằm giúp HS trở thành người viết độc lập.
Qua các con số thống kê cho thấy: HS sẽ đạt kết quả ngoài mong đợi về đọc viết nếu chúng có động cơ đọc viết rõ ràng và được học tập trong môi trường thân thiện, tích cực. Tuy nhiên, “môi trường đọc viết”, “động cơ đọc viết” vẫn còn mới mẻ và chưa được triển khai rộng rãi trong trường TH ở Việt Nam hiện nay. Mặc dù vậy, giáo dục Việt Nam đang đứng trước những cải cách giáo dục căn bản và toàn diện, đặc biệt yêu cầu đối với KNV trong môn Ngữ Văn của CT giáo dục phổ thông mới thì “môi trường đọc viết”, “động cơ đọc viết” sẽ dần dần trở thành một trong những yếu tố quyết định sự thành công của người viết. Tài liệu còn cung cấp thêm thông tin: HS trong những lớp học dành nhiều thời gian để đọc, viết đến cuối năm lớp 1 đã có thể viết được tác phẩm dài bao gồm viết hoa, dấu câu và ít mắc các lỗi chính tả (Michael Pressley et al.
Đây là phát hiện quan trọng để người viết làm cơ sở xây dựng tiêu chí đánh giá KNV đối với HS lớp 1. HS hoàn toàn có khả năng viết được từ một đến hai câu, viết đúng chính tả ngay từ lớp 1 nếu được hướng dẫn thực hiện BT khoa học, hấp dẫn, phù hợp với khả năng của mình. Tuy nhiên, báo cáo chỉ dừng lại ở trình bày thực trạng và đề xuất khuyến nghị nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện, BT hỗ trợ nhằm hướng dẫn HS lớp 1 rèn KNV. Tài liệu “Writing and Spelling Strategies: Assisting students who have additional learning support needs” của NSW Department of Education and Training (Bộ Giáo dục và Đào tạo của New South Wales) đã cung cấp cái nhìn tổng thể về toàn bộ quá trình rèn KNV trong nhà trường.
Các tác giả nhấn mạnh quá trình chuẩn vị cho HS trước khi viết có ảnh hưởng quan trọng đối với sự thành công của bài viết. Kiến thức cần trang bị cho HS mà tài liệu đề cập là kiến thức nền tảng, mở rộng vốn từ ngữ liên quan đến vấn đề đang viết, công cụ hỗ trợ tìm kiếm kiến thức. Trong tài liệu, tác giả đã giới thiệu ba chiến lược dạy học được thực hiện trên mô hình lớp học: Scaffolded instruction (Cấu trúc dàn giáo), SRSD (chiến lược tự điều chỉnh), POWER (chuẩn bị, tổ chức ý tưởng, viết, chỉnh sửa, viết lại), các chiến lược này trang bị cho GV những nội dung cơ bản cũng như cách kiểm soát KNV của HS; đây cũng là công cụ hỗ trợ HS tự đánh giá bài viết của mình (qua hình thức phiếu BT cuối bài). Ngoài ra, tài liệu còn phân tích những khó khăn HS có thể gặp Luan van 9 trong quá trình viết; tiêu chí đánh giá bài viết; cấu trúc văn bản, ngữ pháp thường gặp; chiến lược rèn KNV chính tả.
Tương ứng với mỗi hoạt động trong quá trình viết, tài liệu hướng dẫn chi tiết các bước thực hiện và các phiếu BT minh họa. Ví dụ đối với hoạt động chiến lược phát triển KN ghi chú trong hoạt động tìm kiếm kiến thức liên quan đến bài, tài liệu sẽ cung cấp phiếu BT bằng hình thức hoàn thành sơ đồ, hoàn thành bảng, v.; đối với hoạt động mở rộng vốn từ tác giả cung cấp văn bản (văn bản thông tin, văn bản nghệ thuật) liên quan đến vấn đề đang viết. Mỗi hoạt động sẽ được thực hiện trên một phiếu BT, vì vậy trong một giờ luyện viết HS có thể thực hiện từ ba đến bốn phiếu. Hoạt động cung cấp vốn từ trước khi viết bằng các văn bản thông tin, văn bản nghệ thuật, chiến lược tổ chức ý tưởng bằng hình ảnh, sử dụng tranh ảnh minh họa kể lại câu chuyện hay cung cấp vốn từ trước khi viết thông qua hoạt động đọc văn bản là những gợi ý để chúng tôi xây dựng hoạt động cung cấp kiến thức nền cho HS.
Tuy nhiên, đối với HS lớp 1 thì các chiến lược ghi chú bằng sơ đồ, lập kế hoạch, v. vẫn chưa phù hợp với trình độ của các em, vì vậy, GV phải thay đổi bằng một chiến lược tương tự nhưng hình thức thực hiện sẽ dễ dàng hơn. Năm 2008, Steven Graham đã cung cấp cho chúng ta chiến lược dạy viết hiệu quả qua tài liệu “Effective Writing Instruction For All Student” (Cấu trúc viết hiệu quả cho tất cả học sinh). Tác giả đã khẳng định: “Viết là một kĩ năng phức tạp.
Nó đòi hỏi nỗ lực đáng kể và thời gian để làm chủ” (Steven Graham, 2008). Đồng thời ông đã đưa ra bảy khuyến nghị dành cho GV để việc giảng dạy KNV đạt hiệu quả: thứ nhất dành nhiều thời gian để viết; thứ hai nâng cao kiến thức của HS về cách viết; thứ ba tạo sự quan tâm, hứng thú và động lực để HS viết; thứ tư giúp HS trở thành một người viết có chiến lược; thứ năm hướng dẫn HS các KNV cơ bản; thứ sáu sử dụng công nghệ thông tin để làm công cụ viết; cuối cùng đánh giá sự tiến bộ và nhu cầu của HS (Steven Graham, 2008). Tương ứng với mỗi khuyến nghị tác giả đều trình bày các dạng BT, các hướng dẫn chi tiết làm chỗ dựa để GV phát triển theo tình hình thực tế của lớp học. Môi trường hấp dẫn, thu hút sự chú ý của HS là một khởi đầu thuận lợi khi bắt đầu hướng dẫn HS viết; đa dạng các thể loại viết khác nhau để tăng hứng thú của HS là những hướng dẫn tác giả muốn gửi đến GV - Luan van 10 người sẽ hướng dẫn HS trong suốt quá trình rèn luyện (Steven Graham, 2008).
Những khuyến nghị của Steven đề cập trong tài liệu đều xuất phát từ thực tiễn lớp học; chính vì thế, đây là những gợi ý thiết thực, không chỉ phù hợp với quá trình dạy viết tiếng Anh mà ngay cả các ngôn ngữ khác cũng có thể áp dụng. CT giáo dục Việt Nam đang được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực người học, đặc biệt là những thay đổi trong yêu cầu KNV; chính vì vậy, nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo quý giá để chúng tôi tham khảo, xây dựng cơ sở lý luận để thiết kế BT. “Primary Grade Writing Instruction: A National Survey” (Hướng dẫn viết ở Tiểu học) cùng năm 2008, Steven Graham đồng tác giả với Laura Cutler đã công bố nghiên cứu quốc gia trên Journal of Educational Psychology (Tạp chí Tâm lý Giáo dục). Những khẳng định và khuyến nghị trong bài báo này đều dựa trên cơ sở của cuộc khảo sát GV TH ngẫu nhiên trên toàn nước Mỹ.
Trong tài liệu này, nhóm tác giả trình bày bảy khuyến nghị dành cho GV để cải cách việc hướng dẫn viết ở TH: đầu tiên tác giả đều cập đến việc tăng thời gian viết của HS; tiếp theo là tăng thời gian viết văn bản; thứ ba, cân bằng thời gian luyện viết với giờ học KNV; thứ tư, tạo động lực viết cho HS; thứ năm, cần tạo sự kết nối giữa nhà trường và gia đình để hỗ trợ HS rèn KNV; thứ sáu, sử dụng máy tính để viết và cuối cùng là cải thiện chuyên môn về hướng dẫn viết của GV. Để thuyết phục quan điểm: “Nên cho học sinh rèn kĩ năng viết ngay từ lớp đầu tiên của bậc Tiểu học”, tác giả đã đưa ra dẫn chứng: “Ở lứa tuổi này học sinh đã sẵn sàng để bắt đầu học văn bản; những vấn đề về đọc viết có nguồn gốc từ Tiểu học nếu để đến các lớp sau mới giải quyết thì sẽ khó mang lại thành công” (Slavin, Madden, Karweit, 1989). Các dạng BT được nhóm tác giả khuyến khích sử dụng để rèn KNV cho HS lớp 1 bao gồm: viết tường thuật (câu chuyện, câu chuyện về các nhân vật, thơ), viết để giới thiệu (thư), hoàn thành bảng tính, trả lời câu hỏi liên quan đến tài liệu đọc là những nội dung tác giả khuyến khích GV nên sử dụng để hướng dẫn viết. Khác với những tài liệu trước, lần này tác giả đã đề cập đến các dạng BT nên được sử dụng; tuy nhiên quy trình thiết kế, ngữ liệu dùng để soạn BT đã không được nhóm tác giả đi sâu vào phân tích.