Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG ĐIỀU CHỈNH CẢM XÚC ÂM TÍNH TRONG GIAO TIẾP VỚI TRẺ CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về kỹ năng điều chỉnh cảm xúc âm tính ở nước ngoài Kỹ năng điều chỉnh cảm xúc âm tính là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, chưa có nhiều công trình nghiên cứu.
Hầu hết các công trình liên quan đến lĩnh vực này đều nằm trong các nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, cụ thể là quản lý cảm xúc và điều chỉnh cảm xúc. Trí tuệ cảm xúc là một lĩnh vực nghiên cứu đã được các nhà Tâm lý học quan tâm tìm hiểu trong vài thập niên gần đây và đã gặt hái được không ít thành tựu. Từ cuối những năm 1930, nhà tâm lý học E. Thorndike đã đề cập đến loại hình trí tuệ cảm xúc với tên gọi “trí tuệ xã hội” nhưng xem loại trí tuệ này như là một phần của IQ.
Đến những năm 1960, một số tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu về cảm xúc như Richard Alpert với đề tài về cảm xúc lo sợ trong các kỳ thi của học sinh, Walter Mischel với trắc nghiệm đo lường năng lực chế ngự cảm xúc của trẻ em… Các nghiên cứu khác liên quan đến trí tuệ cảm xúc có thể kể đến là dự án Spectrum của Howard Gardner trong nỗ lực tìm hiểu các dạng của trí tuệ. Ngoài 5 dạng trí tuệ cổ điển là trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ lôgic – toán, trí tuệ thị giác không gian và trí tuệ vận động, ông còn bổ sung thêm hai loại trí tuệ có liên quan đến cảm xúc là trí tuệ liên cá nhân và trí tuệ nội tâm (Phan Trọng Ngọ (chủ biên), 2001, tr. Việc điều chỉnh các cảm xúc âm tính có thể xếp trong loại trí thông minh nội tâm mà Howard Gardner đã miêu tả. Tiếp theo các nghiên cứu của Howard Gardner, năm 1990, hai nhà Tâm lý học Peter Salovey, John D.
Mayer đã đưa ra mô hình trí tuệ cảm xúc lần đầu tiên. Đồng thời, các ông cũng đưa ra định nghĩa trí tuệ cảm xúc một cách chi tiết, trong đó nhắm đến năm lĩnh vực chính: 1) Hiểu biết về các cảm xúc, 2) Làm chủ các cảm xúc, 3) Tự thúc đẩy, 4) Nhận biết các cảm xúc của người khác, 5) Sự làm chủ những liên hệ con người (Goleman, 2014, tr. Như vậy, việc điều chỉnh cảm xúc âm tính có thể xếp trong ba lĩnh vực đầu tiên theo định nghĩa này. Luan van 8 Năm 1995, cuốn sách đầu tiên về trí tuệ cảm xúc – Emotional Intellegence: Why It Can matter More Than IQ - ra đời bởi nhà Tâm lý học Daniel Goleman.
Cuốn sách đề cập đến bản chất của trí tuệ cảm xúc, các ứng dụng của loại trí tuệ này cũng như cách thức giáo dục cảm xúc (Goleman, 2014, tr. Công trình nghiên cứu của hai tác giả Petricdes và Furnham trong phân tích về cấu trúc trí tuệ cảm xúc đã trình bày trí tuệ cảm xúc bao gồm 4 nhân tố: 1) Tính hòa đồng, 2) Tính nhạy cảm, 3) Tự kiểm soát, 4) Hạnh phúc. Trong đó, khía cạnh điều chỉnh cảm xúc nằm trong nhân tố tự kiểm soát của cấu trúc trí tuệ cảm xúc (Dương Thị Hoàng Yến, 2010, tr. Một số nhà Tâm lý học khác đã nỗ lực đo lường trí tuệ cảm xúc và đã gặt hái được một số thành quả như thang đo sơ đồ chỉ số cảm xúc EQ MAP của Cooper (1996 -1997), bảng kiểm tra Bar-On EQ-I (emotional quotiet inventory) (1997), thang đo nhận thức cảm xúc LEAS (Level of Emotional Awareness), bảng kiểm tra năng lực cảm xúc ECI (Emotional Competency Inventory)(1999), thang đo trí tuệ cảm xúc đa nhân tố MEIS (Mutilfactor Emotional Intelligence Scale) của các tác giả Majer, Salovey và Caruso (2000) và phiên bản mới của thang đo này là MSCEIT được hiệu đính năm 2002… (Lê Thị Ngọc Thương, 2011, tr.
Các nghiên cứu về điều chỉnh cảm xúc thường được phân chia xem xét trên hai khía cạnh là điều chỉnh tự động và điều chỉnh có ý thức. Việc điều chỉnh cảm xúc tự động thường là kết quả của cơ chế tự vệ và dồn nén các cảm xúc âm tính. Đứng đầu trong các nghiên cứu này phải kể đến S. Freud với lý thuyết phân tâm.
Nhiều tác giả khác cũng đã tham gia nghiên cứu về việc điều chỉnh cảm xúc tự động trên phương diện cơ chế cũng như nguyên nhân và cách thức diễn ra việc điều chỉnh cảm xúc tự động. Có thể kể đến một số tác giả của xu hướng này như Vaillant, Koole, Coenen, Jostmann, Fockenberg… Xu hướng nghiên cứu điều chỉnh cảm xúc gần đây lại tập trung nhiều hơn đến khía cạnh điều chỉnh có ý thức. Các tác giả theo xu hướng này thường hướng tới việc tìm kiếm các cách thức để thay thế các cảm xúc âm tính bằng các cảm xúc dương tính. Một vài tên tuổi đáng chú ý của xu hướng này là Joseph J.
Frankel & Linda Camras, Diamond, Hochschild, Lazarus, Kramer… (Võ Thị Tường Vy, 2013, tr. Luan van 9 Một số công trình nghiên cứu về điều chỉnh cảm xúc gần đây: Công trình của Jame Gross về điều chỉnh cảm xúc đã nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà Tâm lý học. Năm 1998, ông đã đưa ra một số chỉ dẫn về cách thức điều chỉnh cảm xúc được cho là có giá trị ứng dụng cao trong công việc và đời sống (Lewis, Haviland, & Barrett, 2008, tr. Nghiên cứu về kỹ năng điều chỉnh cảm xúc trong mối tương quan với trị liệu tâm lý, tác giả Berking (2007) đã đề xuất kết hợp chương trình đào tạo kỹ năng điều chỉnh cảm xúc với chương trình trị liệu theo trường phái nhận thức – hành vi dành cho các bệnh nhân có các rối nhiễu tâm thần và so sánh với nhóm đối chứng đang tiến hành trị liệu không tham gia chương trình đào tạo này.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tích hợp các kỹ năng điều chỉnh cảm xúc với quá trình trị liệu nhận thức – hành vi đã cho những phản hồi rất tích cực, làm tăng đáng kể hiệu quả điều trị sức khỏe tâm thần của bệnh nhân (Berking et al. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra mô hình điều chỉnh cảm xúc bao gồm 9 kỹ năng cụ thể: 1) Nhận thức được cảm xúc; 2) Xác định và gọi được tên cảm xúc; 3) Diễn giải chính xác các cảm giác cơ thể liên quan đến cảm xúc; 4) Hiểu các dấu hiệu ban đầu bên ngoài và trong nội tâm về cảm xúc (hiểu các gợi ý về cảm xúc); 5) Tự củng cố bản thân trong các tình huống cảm xúc căng thẳng; 6) Hành động sửa đổi cảm xúc tiêu cực để cảm thấy tốt hơn; 7) Chấp nhận các cảm xúc không thể sửa đổi; 8) Có khả năng phục hồi/chịu đựng các cảm xúc tiêu cực và 9) Có khả năng đối mặt với các tình huống cảm xúc căng thẳng để đạt các mục tiêu quan trọng (Berking et al. Trong một nghiên cứu khác, tác giả Berking và các cộng sự cũng tìm hiểu mối liên hệ giữa các kỹ năng điều chỉnh cảm xúc khác nhau được trình bày ở trên với việc sửa đổi các cảm xúc âm tính. Kết quả cho thấy hầu hết các kỹ năng được nghiên cứu đều phát huy tác dụng trong việc sửa đổi cảm xúc âm tính, trừ kỹ năng chấp nhận và chịu đựng các cảm xúc này.
Tuy nhiên, các tác giả vẫn khẳng định 2 kỹ năng trên có tác dụng tốt cho sức khỏe tâm thần (Berking et al. Nhóm tác giả Amelia Aldao, Susan Molen Hoeksema và Susanne Schweizer đã thực hiện một đánh giá tổng hợp các chiến lược điều chỉnh cảm xúc trong tâm lý Luan van 10 học. Nghiên cứu này đánh giá mối quan hệ giữa 6 chiến lược điều chỉnh cảm xúc là tránh né, đàn áp, đồn thổi, chấp nhận, đánh giá lại và giải quyết vấn đề với 4 nhóm bệnh tâm lý là trầm cảm, lo lắng, rối loạn ăn uống và rối loạn sử dụng chất. Các tác giả đã chỉ ra rằng, việc điều chỉnh cảm xúc tốt giúp cải thiện các mối quan hệ, tăng hiệu suất học tập cũng như làm việc.
Trái lại, những ai gặp khó khăn với việc điều chỉnh cảm xúc có thể dẫn đến các rối loạn tâm thần như rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn nhân cách và các rối loạn liên quan đến ăn uống, sử dụng các chất kích thích… Hai chiến lược thích ứng cảm xúc được đề cao là đánh giá lại bối cảnh và tích cực giải quyết vấn đề. Nhóm tác giả cũng cho rằng việc tránh né, đàn áp hoặc triệt tiêu cảm xúc gây ra nhiều bất lợi hơn cho chủ thể cảm xúc, thậm chí còn dẫn đến việc nhạy cảm hơn với các cảm xúc âm tính (Aldao, Nolen-Hoeksema, & Schweizer, 2010, tr. Liên quan đến cảm xúc của GVMN, nhóm tác giả Zinsser, Bailey, Curby, Denham và Bassett (2013) trong đề tài nghiên cứu “khám phá tại lớp học để đưa ra dự đoán: stress của GVMN, sự hỗ trợ phát triển cảm xúc và hành vi xã hội của học sinh trong lớp học tại trường tư nhân Head Start” đã cho thấy sự phát triển cảm xúc ở giáo viên có ảnh hưởng đến cảm xúc xã hội của trẻ. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng khi GVMN có các phản ứng cảm xúc không phù hợp thì trẻ trở nên hung hăng và có nhiều cảm xúc âm tính hơn (Trịnh Viết Then, 2016, tr.
Hiện tác giả vẫn chưa tìm được một công trình nào nghiên cứu kỹ năng điều chỉnh cảm xúc âm tính trong giao tiếp với trẻ của GVMN ở nước ngoài. Các công trình nghiên cứu về kỹ năng điều chỉnh cảm xúc âm tính ở trong nước Ở Việt Nam, cơ sở lý luận về cảm xúc (khái niệm, đặc điểm, quy luật) đã được một số tác giả như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, Nguyễn Văn Lũy,… đề cập trong các giáo trình Tâm lý học đại cương và Từ điển Tâm lý học. Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu lý luận đã được công bố của các tác giả Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh, Trần Kiều, Dương Thị Hoàng Yến, Đỗ Thu Hiền, Võ Hoàng Anh Thư… về trí tuệ cảm xúc và Luan van 11 khảo sát mức độ trí thông minh cảm xúc. Tuy nhiên, các công trình này vẫn dành khá ít sự quan tâm cho các kỹ năng giúp điều chỉnh cảm xúc âm tính.
Trong nghiên cứu thực tiễn, ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về cảm xúc âm tính trong giao tiếp với trẻ của GVMN. Tuy nhiên, cũng có một số công trình đề cập đến một vài cảm xúc tiêu cực hay cảm xúc âm tính.