mở đầu: Đánh giá, khai phá và đặt mục tiêu; Giai đoạn giữa: Lập kế hoạch và thực hiện các nhiệm vụ và Giai đoạn kết thúc: Đánh giá kết quả cuối cùng [38, tr. Một trong những ngƣời có đóng góp lớn cho việc can thiệp khủng hoảng là Naomi GoL, một nhà công tác xã hội ngƣời Mỹ. Cuốn sách “can thiệp khủng hoảng trong tình huống” của cô đƣợc xuất bản năm 1978 đã đặt nền tảng cho mô hình can thiệp khủng hoảng cơ bản của công tác xã hội. Đến những năm 1980, mô hình can thiệp khủng khoảng và can thiệp ngắn hạn có kế hoạch đã đƣợc đƣa vào thành một trƣờng phái trong công tác xã hội [38, tr.
Nghiên cứu xây dựng các công cụ đánh giá kỹ năng CTXHCN và kỹ năng CTXHCN với trẻ mồ côi dành cho CBXH Những chuyển biến trong cách thức hỗ trợ cá nhân là tiền đề cho sự phát triển phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân chuyên nghiệp sau này. 13 Năm 1601, tại Anh, đạo luật Elizabeth ban hành đã tạo thành điều lệ cho tinh thần hỗ trợ những ngƣời nghèo và ngƣời yếu thế. Đạo luật này cho thấy hoạt động từ thiện không chỉ bó hẹp phạm vi cá nhân, tổ chức tình nguyện hảo tâm mà cần có sự quan tâm của thiết chế xã hội. Tại Mỹ vào những năm 1877, các tổ chức từ thiện (COS) đã tạo ra bƣớc tiến mới trong công tác hỗ trợ cá nhân, các hoạt động giúp đỡ cá nhân lúc này không chỉ đơn thuần là ban phát những gì ngƣời khác muốn làm từ thiện mà đã quan tâm đến nhu cầu ngƣời đƣợc hƣởng lợi.
Thể hiện qua các công việc ngƣời đi giúp đỡ cá nhân đã có đánh giá hiện trạng, đƣa ra cách thức điều tra, ghi chép phúc trình lại những vấn đề để đảm bảo làm từ thiện phù hợp với nhu cầu của ngƣời đƣợc hƣởng lợi và s dụng những nhà thăm viếng gia đình tình nguyện. Thông qua những nhà thăm viếng tình nguyện đã xuất hiện khái niệm “Từ thiện khoa học” (Farley, Smith và Boyle, 2000, tr. Cũng giống nhƣ tại Anh, từ những chuyến viếng thăm của ngƣời tình nguyện đến các gia đình nghèo đã làm thay đổi quan niệm về ngƣời nghèo là do lƣời nhác, không chịu tìm việc đến việc ngƣời nghèo là do hoàn cảnh đem lại. Kết quả của những đánh giá đã tạo nền tảng cho việc hình thành nguyên tắc cá biệt hóa trong phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân sau này [38, tr.
Quan trọng hơn, ở những năm cuối của thế kỷ XIX, hoạt động huấn luyện, đào tạo cách thức cung cấp các dịch vụ xã hội đã đƣợc đƣa vào trƣờng học. Đây là những dấu mốc quan trọng cho thấy xã hội cần có cách thức giúp đỡ chuyên nghiệp và khoa học đối với những cá nhân yếu thế trong xã hội. Vào đầu thế kỷ XX, phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân đã dần củng cố cơ sở khoa học của nghề công tác xã hội chuyên nghiệp. Thứ nhất, những ngƣời thăm viếng thân thiện đã đƣợc đào tạo các phƣơng pháp đánh giá, chuẩn đoán và trị liệu dựa trên nền tảng khoa học xã hội.
Thứ hai là sự hình 14 thành và hoàn thiện các hiệp hội nghề nghiệp. Và thứ ba là việc ứng dụng các khoa học xã hội vào thực hành công tác xã hội. Mặc dù, những ngƣời làm công tác xã hội đã đƣợc tuyển trong các bệnh viện, tuy nhiên trong suốt thời điểm đầu của thế kỷ XX, công tác xã hội gặp nhiều khó khăn do có những phản bác công tác xã hội không đủ tiêu chuẩn để coi là một nghề chuyên nghiệp. Một trong những lý do là do công tác xã hội còn thiếu kho tàng kiến thức và các kỹ thuật đào tạo.
Để minh chứng công tác xã hội là một nghề, Mary Richmond đã viết trong cuốn sách “Social Diagnosis- Chuẩn đoán xã hội” năm 1917. Cuốn sách này đã có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến công tác xã hội cá nhân theo quan niệm y học. Trong cuốn sách của mình bà đã mô tả tiến trình công tác xã hội theo 3 giai đoạn sau: 1) Thu thập những chứng cứ, dữ liệu xã hội về truyền thống gia đình và thông tin về vấn đề hiện tại; 2) Xem xét yếu tố dẫn đến chuẩn đoán và 3) Xây dựng một kế hoạch giúp đỡ có sự tham gia của đối tƣợng [58]. Nghiên cứu đề xuất chương trình đào tạo và rèn luyện kỹ năng CTXHCN và kỹ năng CTXHCN với trẻ mồ côi dành cho CBXH Năm 1898 là năm đánh dấu bƣớc tiến quan trọng đặt nền móng khoa học cho công tác xã hội khi thành lập “Trƣờng Từ thiện NewYork” (The NewYork School of Philanthropy) trƣờng đầu tiên giảng dạy về công tác xã hội.
Chƣơng trình ban đầu của trƣờng là tổ chức các khoá học mùa hè và các chƣơng trình huấn luyện những ngƣời tình nguyện và những ngƣời thăm viếng thân thiện và chƣơng trình đào tạo một năm. Sau đó một năm, vào năm 1899, tại Amsterdam, Viện đào tạo An sinh xã hội đã đƣa ra chƣơng trình đào tạo 2 năm nhằm đào tạo về “phƣơng pháp, lý thuyết và thực hành cho những ngƣời mong muốn cống hiến cho những nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực công tác xã hội” (59. Liên Hợp quốc, 1958, tr.109) 15 Năm 1919, Hiệp hội các trƣờng đào tạo CTXH tại Mỹ và Canađa đã hình thành thiết lập tiêu chuẩn chung về giáo dục và đào tạo công tác xã hội chuyên nghiệp. Tạp chí Công tác xã hội cá nhân (Social casework Review) ra đời nhằm hỗ trợ nâng cao kiến thức và kỹ năng cho những ngƣời cung cấp dịch vụ chuyên môn này.
Tiếp đến việc thành lập Hiệp hội nhân viên công tác xã hội của Mỹ đã tạo thêm sức mạnh cho những ngƣời làm chuyên môn CTXH đi giúp đỡ những đối tƣợng khó khăn trong xã hội [38, tr. Ở Châu , năm 1921, Trƣờng Phụ nữ Nhật Bản đã thành lập trƣờng quốc gia đầu tiên về an sinh xã hội. Đây đƣợc coi là nỗ lực đƣa các hoạt động dịch vụ công tác xã hội giúp đỡ những cá nhân yếu thế trong xã hội và đảm bảo phúc lợi chung của xã hội [38, tr. Năm 1923, bản báo cáo của Tufts H.
James về đào tạo CTXH đã đƣa ra những thành tố cần thiết đảm bảo chất lƣợng đào tạo CBXH, nhấn mạnh đến việc đào tạo sinh viên đem lại những thay đổi cho xã hội cũng nhƣ cho các cá nhân trong xã hội. Sự kiện này đánh dấu bƣớc tiến đảm bảo cung cấp những nhân viên xã hội có chất lƣợng phục vụ xã hội [38, tr. Hiệp hội Nhân viên xã hội giúp đỡ trẻ em của Mỹ thành lập năm 1926 là xúc tác làm tăng cƣờng tầm quan trọng của nhân viên làm công tác xã hội cá nhân và những nhà thực hành thực địa [38, tr. Năm 1952, thành lập Hội đồng Đào tạo Công tác xã hội, cùng với Hiệp hội các trƣờng đào tạo công tác xã hội đã xây dựng tiêu chuẩn cho các trƣờng đào tạo công tác xã hội.
Tiêu chuẩn đào tạo sau này đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm định chƣơng trình đào tạo thạc sĩ công tác xã hội. Năm 1956 Hiệp đoàn Quốc tế của Nhân viên xã hội thành lập đã tạo điều kiện mở rộng hơn tầm hoạt động và ảnh hƣởng của công tác xã hội, trong đó có phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân với nhiều nƣớc trên thế giới. Tại Ấn Độ, nawm1970, thành lập Hiệp hội quốc gia của nhân viên 16 công tác xã hội. Sự thành lập các tổ chức, hiệp hội ở cấp quốc tế và lan sang khu vực Châu cho thấy công tác xã hội thực sự là một khoa học ứng dụng rất cần thiết phục vụ cho đời sống con ngƣời.
Đồng thời, sự phát triển các bậc đào tạo sau đại học cũng đƣợc ghi nhận là những bƣớc tiến quan trọng phát triển nghề công tác xã hội, trong đó có sự phát triển của công tác xã hội cá nhân. Năm 1950, Nhật Bản là nƣớc Châu đầu tiên đã có chƣơng trình đào tạo thạc sĩ công tác xã hội tại Đại học Doshisha, Kyoto. Năm 1977, Nhóm thúc đẩy Đào tạo trình độ tiến sĩ về công tác xã hội đƣợc thành lập tạo cơ hội những ngƣời nhân viên xã hội tiến bƣớc xa hơn trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và nghiên cứu nghề nghiệp [38, tr. Các nghiên cứu ở Việt Nam 1.
Những nghiên cứu về cơ sở lý luận và biểu hiện kỹ năng CTXHCN và kỹ năng CTXHCN với trẻ mồ côi của CBXH Luận án Tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2007) với đề tài “Một số kỹ năng tham vấn cơ bản của cán bộ xã hội” [49] đã rất thành công trong việc đánh giá khái quát thực trạng tham vấn ở Việt Nam và thực trạng 4 kỹ năng tham vấn cơ bản (kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi, kỹ năng thấu hiểu) của các cán bộ xã hội trong các trung tâm, cộng đồng trong ngành Lao động - Thƣơng binh và xã hội. Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan và Bùi Thị Xuân Mai, trong công trình “Công tác xã hội cá nhân và gia đình” [38] đã đề cập đến khái niệm công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội, tham vấn; Các thành tố trong công tác xã hội cá nhân; Một số mô hình s dụng trong công tác xã hội cá nhân; Tiến trình công tác xã hội cá nhân; Kỹ năng và kỹ thuật tác nghiệp trong công tác xã hội cá nhân. Tác giả Nguyễn Văn Gia, Bùi Xuân Mai (2000) và tác giả Lê Chí An, trong tài liệu “Công tác xã hội cá nhân” (2000,2006) và trong tài liệu bài giảng 17 “Công tác xã hội cá nhân và nhóm” của tác giả Bùi Thị Chớm và Nguyễn Thị Vân đã đề cập đến khái niệm và kỹ năng công tác xã hội cá nhân (2005) Luận án Tiến sĩ của tác giả Chu Liên Anh (2011) với đề tài “Kỹ năng tƣ vấn pháp luật của luật sƣ ” [6] đã chỉ ra một số kỹ năng tƣ vấn pháp luật cơ bản luật sƣ nhƣ: kỹ năng xây dựng mối quan hệ, kỹ năng thu thập thong tin, kỹ năng cung cấp giải pháp. Trong đó tác giả đã chỉ rõ cách thức thực hiện các kỹ năng nhƣ thế nào và viện dẫn các ví dụ cụ thể trong các tình huống tƣ vấn cho từng kỹ năng.
Luận án Tiến sĩ của tác giả Hoàng Anh Phƣớc (2012) với đề tài “Kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đƣờng ” [90] đã chỉ ra đƣợc 2 nhóm kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đƣờng gồm: nhóm kỹ năng tham vấn cơ bản và nhóm kỹ năng tham vấn chuyên biệt.