Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy Chương 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy Chương 3: Thực trạng các dịch vụ Công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy tại các Cơ sở cai nghiệnTrung tâm chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội và kết quả thực nghiệm tham vấn nhóm với người sử dụng ma túy Chương 4. Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ Công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy từ thực tiễn các Trung tâm chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội 9 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƢỜI SỬ DỤNG MA TÚY 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của nƣớc ngoài 1.1 Một số nghiên cứu về ma túy, người sử dụng ma túy Có nhiều công trình nghiên cứu về ma túy, NSDMT. Các nghiên cứu đã giải thích ma túy là gì, tác hại của ma túy, chất gây nghiện là như thế nào, phân loại các chất gây nghiện; NSDMT, người nghiện ma túy là gì, đồng thời chỉ ra những đặc điểm của NSDMT.
Nghiên cứu về ma túy, nhóm tác giả Redfern, NSW, Australia: Tosca Press, (1996) đã khẳng định "Không giống như rượu hoặc thuốc lá, heroin không gây độc hại cho các mô hoặc các cơ quan của cơ thể, tuy nhiên, nó có tính gây nghiện cao”. Các tác giả Byrne, Andrew (1996) cũng phản ánh: “Tác hại chủ yếu đến từ nguy cơ quá liều, các vấn đề về chích ma tuý, ma túy và các hậu quả bất hợp pháp hoặc tài chính". Tuy nhiên, tác giả Erickson, (2003) lại khẳng định một tác động về mặt trị liệu nếu mọi người không lạm dụng đến mức nghiện chất đó: “Nếu mọi người không lạm dụng nó, nó có thể được sử dụng như là một thuốc giảm đau mạnh mẽ về mặt trị liệu”. Theo tài liệu tập huấn của FHI (2012), Chất gây nghiện được chia làm 3 nhóm như: Nhóm gây ảo giác (Estasy, Đá, Cần sa liều cao…), nhóm gây kích thích (Meamphatamine, ma túy tổng hợp…) và nhóm an thần (Rượu, Heroin…) [36].
Chất gây nghiện hướng thần tác động mạnh tới tâm sinh lý và ảnh hưởng trực tiếp lên nhận thức, tình cảm, hành vi và động cơ của người nghiện. Nghiên cứu về người sử dụng ma túy và các vấn đề liên quan, tác giả Thorley (2004), đã mô hình hóa về những vấn đề liên quan đến việc sử dụng chất gây nghiện theo 3 phạm trù: (1) Phê, (2) Sử dụng thường xuyên, (3) Nghiện. Mô hình này cho thấy những phạm trù này không có tính loại trừ lẫn nhau và một người sử dụng có thể gặp phải các vấn đề thuộc 1 phạm trù, cả 2 hoặc cả 3 phạm trù khác nhau. Nghiện một chất nào đó là sự tương tác giữa những yếu tố về sinh học thần kinh, tâm lí và xã hội.
Hiện nay đã có đủ bằng chứng để khẳng định rằng nghiện không phải là một sự yếu kém hay tha hóa về đạo đức mà là một bệnh của não. Bằng chứng từ các nghiên cứu về hình ảnh của não bộ như là hình ảnh chụp cộng hưởng từ cũng như hình ảnh chụp nhấp nháy phóng xạ (PET) (phương pháp sử dụng các chất đồng vị phóng xạ để đưa ra hình ảnh ba chiều 10 luan an hoặc hình ảnh phản ánh hoạt động chức năng của các tế bào não) đang chịu tác dụng trực tiếp của ma túy. Ở cấp độ tế bào, ma túy tác động lên các chất dẫn truyền thần kinh, nhờ nó mà thông tin được trao đổi giữa các tế bào não. Như vậy, một người nghiện ma túy là người đang có bệnh mãn tính, tái diễn ở não bộ và có hành vi bắt buộc phải sử dụng ma túy bất chấp hậu quả của nó.
Về bản thân NSDMT nhóm tác giả Robert Ali và cộng sự (2009) xây dựng “mô hình tương tác về sự trải nghiệm chất gây nghiện” thể hiện một hệ thống tổng thể về trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện. Mô hình này kết hợp mô hình tương tác của Zinberg về tác hại của chất gây nghiện với những nguyên tắc của Thuyết học tập xã hội. Mô hình tương tác này cho thấy sự tương tác giữa chất gây nghiện, môi trường và cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự trải nghiệm về sử dụng chất gây nghiện. Không thể chỉ xem xét từng yếu tố một cách riêng biệt.
Trong mỗi khía cạnh (chất gây nghiện, môi trường, cá nhân), tầm quan trọng của mỗi một yếu tố (như cảm xúc, áp lực đồng đẳng, đường dùng) đối với trải nghiệm của người sử dụng sẽ khác nhau giữa người này và người kia, và giữa bối cảnh này và bối cảnh khác. Một số yếu tố có thể trùng lặp trong các nhóm khác (ví dụ: sự sẵn có thuốc có thể là yếu tố môi trường hoặc là yếu tố chất gây nghiện hoặc cả hai). Vấn đề quan trọng nhất là mỗi cấu thành và sự tương tác giữa các yếu tố cần được xem xét khi đánh giá trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện.[36] Bên cạnh đó, về nhu cầu điều trị nghiện ma túy, nhóm tác giả Hunt, M. “Dự đoán nhu cầu điều trị lạm dụng chất gây nghiện của người cao tuổi”.
Tạp chí Y tế Công cộng Hoa Kỳ, 45 (2), 236-245. PMCID: PMC9162292 Hunt, M. Kết quả nghiên cứu khẳng định người cao tuổi lạm dụng chất có nhu cầu điều trị nghiện cao, tuy nhiên nhiều người vừa muốn sử dụng chất gây nghiện vừa muốn điều trị hiệu quả. Nhiều người vẫn cứ sử dụng ma túy và không muốn điều trị dứt điểm.
Trong bài báo “Hình ảnh não ở những người lạm dụng methamphetamine qua suốt cuộc đời”(Lão khoa, 46 (3), 122-145) nhóm tác giả cũng đã làm rõ được nhu cầu điều trị của người nghiện tăng lên khi về già. Hầu như NSDMT cao tuổi cần các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, chăm sóc toàn diện, nhấn mạnh nhiều đến các dịch vụ tại cộng đồng.[51] Nhìn chung, những nghiên cứu về ma túy, NSDMT đa phần đã giải thích sử dụng chất gây nghiện và sự trải nghiệm nó, nghiện là gì, nguyên nhân và các yếu tố tác động đến sử dụng ma túy dưới các góc độ về tâm - sinh lý - xã hội. Đồng thời, các nghiên cứu trên đã đề cập đến nhu cầu của người nghiện chất và đưa ra một số định hướng và biện pháp khắc phục trong hỗ trợ điều trị nghiện ma túy. Dưới góc độ CTXH, NCS chưa tìm được nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm, khó khăn và mong muốn trợ giúp của NSDMT.
Một số nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực dịch vụ từ đầu thập niên 1980 trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục. Tuy nhiên, dưới góc độ CTXH thì đây còn là lĩnh vực cần được quan tâm, nghiên cứu sâu hơn. CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp, vì thế có nhiều công trình nghiên cứu CTXH, các chính sách an sinh xã hội. Về dịch vụ CTXH và cách thức triển khai dịch vụ CTXH hầu như được phát triển mạnh ở các nước phát triển.
Những nghiên cứu về mặt lý luận và thực hành cho thấy hầu như các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của đào tạo chuyên nghiệp cho đội ngũ tham gia cung cấp dịch vụ CTXH. Nhóm tác giả như C. Robert (1976) nghiên cứu can thiệp cá nhân và gia đình thông qua dạng dịch vụ can thiệp nhóm chia sẻ cảm xúc và học hỏi hành vi ứng phó. Nghiên cứu đã chỉ ra dịch vụ tham vấn nhóm và gia đình được sử dụng trong CTXH như một môi trường hữu hiệu cho sự can thiệp thay đổi hành vi.
Nhóm tác giả Geoffrey L. Cohen and David K. Sherman (2014) đã bàn về sự thay đổi tâm lý thông qua tự khẳng định bản thân và can thiệp tâm lý xã hội. Đây là những can thiệp rất hữu hiệu nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách.[125] Trên thế giới, dịch vụ CTXH phát triển mạnh, đa dạng và theo hướng chuyên nghiệp tại cơ sở, cộng đồng và góp phần cải thiện tính hiệu quả của dịch vụ phúc lợi xã hội.
Thực tế, những nghiên cứu về dịch vụ đối với NSDMT đã có nhiều có thể chia ra làm 3 hướng theo các lĩnh vực điều trị cai nghiện ma túy: sinh học, tâm lí và xã hội. Khi cung cấp các dịch vụ cho NSDMT cần có một hệ thống dịch vụ toàn diện cả về tâm lý, xã hội, dịch vụ giáo dục, tuyên truyền và hỗ trợ việc làm. Tuy nhiên các quan điểm và nghiên cứu đều có cách lý giải hợp lý về dịch vụ đối với NSDMT. Dưới đây là tổng quan một số công trình nghiên cứu theo các loại hình dịch vụ hỗ trợ trong điều trị nghiện ma túy.
Một số nghiên cứu về dịch vụ giáo dục – truyền thông Nhiều nghiên cứu của các nhà tâm lý học và xã hội học đã chỉ ra việc sử dụng hay lệ thuộc vào ma túy còn phụ thuộc vào sự tương tác giữa con người và xã hội cũng như hành vi của chúng ta chịu sự ảnh hưởng như thế nào trong xã hội ấy. Tác giả Becker, Zinberg (1986), “Drug set, and setting, đã nói lên việc sử dụng ma túy trong bối cảnh và tình huống nhất định, hành vi sử dụng ma túy được xem như hành vi hình thành từ những kinh nghiệm học hỏi. 12 luan an Theo Craig Reinarman, Harry G. Levine, Harry Levine(1997), “Crack In America: Demon Drugs and Social Justice” đã đề cập đến thuật ngữ “drug scare- sợ hãi ma túy” để khẳng định thời kỳ các cuộc thập tự chinh phòng chống ma túy có hiệu quả và mang tính hợp pháp.
Trong cuốn sách cũng phản ánh thời kỳ từ 1986 – 1992 là sự sợ hãi lớn nhất của thế kỷ thứ 20. Các chính trị gia và giới truyền thông đã chấp nhận và tuyên bố “chiến tranh với ma túy là chính sách xã hội tốt nhất -"War on Drugs" and pronounced the "drug war" to be good social policy. Hiện nay, dịch vụ CTXH được phát triển rất đa dạng và phong phú thể hiện qua các Trung tâm CTXH (Mekong Centre), CTXH trong chăm sóc người tâm thần, trung tâm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần gia đình (Gardner family), Sở bảo vệ và chăm sóc trẻ em… Giới truyền thông Mỹ cho rằng, CTXH một ngành nghề quan trọng chiếm vị trí thứ 7 trong 10 ngành học không phổ biến nhất mà trang web CareerBuilder.