Nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy tại các trung tâm chữa bệnh ở Hà Nội

Luận án tiến sĩ phân tích dịch vụ công tác xã hội cho người sử dụng ma túy tại các trung tâm chữa bệnh ở Hà Nội, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

202
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Câu hỏi nghiên cứu

0.5. Giả thuyết nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của nước ngoài

1.1.1. Một số nghiên cứu về ma túy, người sử dụng ma túy

1.1.2. Một số nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1. Một số nghiên cứu về ma túy, người sử dụng ma túy

1.2.2. Một số nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

2.1. Lý luận chung về ma túy và người sử dụng ma túy

2.1.1. Khái niệm ma túy và tác hại của ma túy

2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của người sử dụng ma túy

2.2. Lý luận chung về dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy

2.2.1. Khái niệm dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy

2.2.2. Các loại hình dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy

2.2.3. Quy trình cung cấp dịch vụ Công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

2.2.4. Đánh giá chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

2.3. Cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu

2.3.1. Các lý thuyết ứng dụng trong thực hành cung cấp dịch vụ Công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

2.3.2. Khung lý thuyết nghiên cứu

2.4. Luật pháp, chính sách về dịch vụ Công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

2.4.1. Các văn bản pháp luật về dịch vụ Công tác xã hội

2.4.2. Các văn bản pháp luật liên quan đến dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

2.5.1. Thể chế, chính sách, pháp luật của việc cung cấp dịch vụ CTXH đối với NSDMT

2.5.2. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị tại Cơ sở cung cấp dịch vụ Công tác xã hội

2.5.3. Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của nhân viên cung cấp dịch vụ

2.5.4. Đặc điểm tâm lý và mức độ nghiện của người sử dụng ma túy

2.5.5. Điều kiện, hoàn cảnh gia đình của người sử dụng ma túy

2.5.6. Các mối quan hệ xã hội của người sử dụng ma túy

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY TẠI CÁC TRUNG TÂM CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM THAM VẤN NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

3.1. Khái quát về địa bàn khảo sát và người sử dụng ma túy

3.1.1. Khái quát về địa bàn khảo sát và khách thể nghiên cứu định lượng

3.1.2. Khái quát về khách thể nghiên cứu định lượng

3.2. Phân tích thực trạng dịch vụ công tác xã hội với người sử dụng ma túy tại các Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội

3.2.1. Dịch vụ giáo dục – truyền thông

3.2.2. Dịch vụ tham vấn

3.2.3. Dịch vụ hỗ trợ học nghề, tìm việc làm

3.2.4. Dịch vụ hỗ trợ chăm sóc y tế

3.2.5. Dịch vụ hỗ trợ pháp lý

3.3. Đánh giá chất lượng, hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

3.3.1. Mức độ hài lòng của NSDMT về các dịch vụ CTXH

3.3.2. Đánh giá chất lượng, hiệu quả dịch vụ CTXH của NSDMT

3.4. Kết quả thực nghiệm tham vấn nhóm với người sử dụng ma túy

3.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy qua đánh giá của NSDMT

3.5.1. Cơ chế, chính sách của việc cung cấp các dịch vụ CTXH cho người SDMT

3.5.2. Các yếu tố về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của Cơ sở cung cấp dịch vụ

3.5.3. Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của nhân viên cung cấp dịch vụ CTXH

3.5.4. Đặc điểm tâm lý và mức độ nghiện của người sử dụng ma túy

3.5.5. Điều kiện, hoàn cảnh gia đình của người sử dụng ma túy

3.5.6. Yếu tố bạn bè và mối quan hệ xã hội

3.6. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY TỪ THỰC TIỄN CÁC TRUNG TÂM CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

4.1. Định hướng phát triển dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy trong công tác phòng chống ma túy

4.1.1. Chủ trương chung của Chính phủ trong công tác phòng chống ma túy

4.1.2. Phát triển dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

4.1.3. Định hướng khắc phục hạn chế, khó khăn trong phát triển dịch vụ CTXH

4.1.4. Định hướng phát triển mạng lưới dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế xã hội hiện nay

4.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy

4.2.1. Nhóm giải pháp hướng tới tăng cường năng lực Công tác xã hội

4.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức và nhu cầu cung cấp dịch vụ Công tác xã hội cho người sử dụng ma túy

4.3. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về dịch vụ công tác xã hội cho người sử dụng ma túy

Dịch vụ công tác xã hội cho người sử dụng ma túy tại Hà Nội đã trở thành một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh gia tăng tình trạng nghiện ma túy. Người sử dụng ma túy không chỉ đối mặt với những khó khăn về sức khỏe mà còn gặp phải nhiều vấn đề xã hội như kỳ thị, thiếu việc làm và sự hỗ trợ từ gia đình. Các dịch vụ xã hội hiện có bao gồm giáo dục, tham vấn, hỗ trợ y tế và pháp lý, nhằm giúp họ tái hòa nhập cộng đồng. Theo nghiên cứu, việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội có thể giảm thiểu tác hại của ma túy và hỗ trợ người nghiện trong quá trình cai nghiện. Đặc biệt, các chương trình hỗ trợ tâm lýgiáo dục đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao nhận thức và giảm thiểu tình trạng tái nghiện.

1.1. Tình hình sử dụng ma túy tại Hà Nội

Tình hình ma túy tại Hà Nội đang diễn biến phức tạp với sự gia tăng của các loại chất gây nghiện mới. Theo thống kê, số lượng người sử dụng ma túy có hồ sơ quản lý ngày càng tăng, cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời. Các cơ sở cai nghiện hiện tại đang phải đối mặt với tình trạng quá tải, và chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu của người nghiện. Việc áp dụng các mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ người nghiện là một giải pháp khả thi nhằm cải thiện tình hình này.

1.2. Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ người sử dụng ma túy

Công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người sử dụng ma túy thông qua việc cung cấp các dịch vụ như tham vấn, giáo dục và hỗ trợ tâm lý. Các chương trình hỗ trợ này không chỉ giúp người nghiện nhận thức rõ hơn về tình trạng của mình mà còn tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm và hòa nhập cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy, những người tham gia vào các chương trình công tác xã hội có tỷ lệ tái nghiện thấp hơn so với những người không tham gia. Điều này chứng tỏ rằng, việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội là cần thiết và có giá trị thực tiễn trong việc giảm thiểu tác hại của ma túy.

II. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội

Các trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động - xã hội tại Hà Nội đã triển khai nhiều loại hình dịch vụ công tác xã hội cho người sử dụng ma túy. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy rằng chất lượng dịch vụ còn hạn chế. Nhiều trung tâm thiếu cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình hỗ trợ. Đội ngũ nhân viên công tác xã hội cũng chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến việc cung cấp dịch vụ không đồng đều. Đánh giá từ phía người sử dụng ma túy cho thấy họ cần nhiều hơn nữa các dịch vụ hỗ trợ như tham vấn tâm lýhỗ trợ pháp lý để có thể vượt qua khó khăn trong quá trình cai nghiện.

2.1. Các loại hình dịch vụ công tác xã hội hiện có

Các loại hình dịch vụ công tác xã hội hiện có tại các trung tâm bao gồm dịch vụ giáo dục, tham vấn, hỗ trợ chăm sóc y tế, hỗ trợ học nghề và tìm việc làm. Mỗi loại hình dịch vụ đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Dịch vụ giáo dục giúp nâng cao nhận thức của người sử dụng ma túy về tác hại của ma túy, trong khi dịch vụ tham vấn cung cấp không gian an toàn để họ chia sẻ và giải quyết vấn đề cá nhân. Tuy nhiên, sự thiếu hụt về nguồn lực và nhân lực vẫn là một thách thức lớn trong việc triển khai hiệu quả các dịch vụ này.

2.2. Đánh giá chất lượng dịch vụ công tác xã hội

Đánh giá chất lượng dịch vụ công tác xã hội cho người sử dụng ma túy cho thấy nhiều người cảm thấy chưa hài lòng với các dịch vụ hiện có. Họ cho rằng các dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của họ, đặc biệt là trong việc hỗ trợ tâm lý và pháp lý. Nhiều người cho biết họ cảm thấy bị kỳ thị và thiếu sự hỗ trợ từ cộng đồng. Điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong cách thức cung cấp dịch vụ, cũng như nâng cao nhận thức của xã hội về người sử dụng ma túy.

III. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội

Để nâng cao hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy, cần có những định hướng và giải pháp cụ thể. Trước hết, cần tăng cường đào tạo cho đội ngũ nhân viên công tác xã hội để họ có thể cung cấp dịch vụ chất lượng hơn. Thứ hai, cần cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị tại các trung tâm để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghiện. Cuối cùng, việc xây dựng các chương trình hỗ trợ đa dạng và phù hợp với từng đối tượng sẽ giúp nâng cao hiệu quả của dịch vụ. Các giải pháp này không chỉ giúp người nghiện cai nghiện thành công mà còn tạo điều kiện cho họ hòa nhập cộng đồng.

3.1. Tăng cường đào tạo nhân viên công tác xã hội

Đào tạo nhân viên công tác xã hội là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tham vấn, hỗ trợ tâm lý và pháp lý cho nhân viên. Điều này sẽ giúp họ có đủ kiến thức và kỹ năng để hỗ trợ người sử dụng ma túy một cách hiệu quả hơn. Hơn nữa, việc nâng cao năng lực cho nhân viên cũng sẽ góp phần tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp và thân thiện hơn cho người nghiện.

3.2. Cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị

Cơ sở vật chất và trang thiết bị tại các trung tâm cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng ma túy. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các chương trình công tác xã hội. Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội để đảm bảo rằng các trung tâm có đủ nguồn lực để hoạt động hiệu quả.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy Chương 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ Công tác xã hội với người sử dụng ma túy Chương 3: Thực trạng các dịch vụ Công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy tại các Cơ sở cai nghiệnTrung tâm chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội và kết quả thực nghiệm tham vấn nhóm với người sử dụng ma túy Chương 4. Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ Công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy từ thực tiễn các Trung tâm chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội 9 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƢỜI SỬ DỤNG MA TÚY 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của nƣớc ngoài 1.1 Một số nghiên cứu về ma túy, người sử dụng ma túy Có nhiều công trình nghiên cứu về ma túy, NSDMT. Các nghiên cứu đã giải thích ma túy là gì, tác hại của ma túy, chất gây nghiện là như thế nào, phân loại các chất gây nghiện; NSDMT, người nghiện ma túy là gì, đồng thời chỉ ra những đặc điểm của NSDMT.

Nghiên cứu về ma túy, nhóm tác giả Redfern, NSW, Australia: Tosca Press, (1996) đã khẳng định "Không giống như rượu hoặc thuốc lá, heroin không gây độc hại cho các mô hoặc các cơ quan của cơ thể, tuy nhiên, nó có tính gây nghiện cao”. Các tác giả Byrne, Andrew (1996) cũng phản ánh: “Tác hại chủ yếu đến từ nguy cơ quá liều, các vấn đề về chích ma tuý, ma túy và các hậu quả bất hợp pháp hoặc tài chính". Tuy nhiên, tác giả Erickson, (2003) lại khẳng định một tác động về mặt trị liệu nếu mọi người không lạm dụng đến mức nghiện chất đó: “Nếu mọi người không lạm dụng nó, nó có thể được sử dụng như là một thuốc giảm đau mạnh mẽ về mặt trị liệu”. Theo tài liệu tập huấn của FHI (2012), Chất gây nghiện được chia làm 3 nhóm như: Nhóm gây ảo giác (Estasy, Đá, Cần sa liều cao…), nhóm gây kích thích (Meamphatamine, ma túy tổng hợp…) và nhóm an thần (Rượu, Heroin…) [36].

Chất gây nghiện hướng thần tác động mạnh tới tâm sinh lý và ảnh hưởng trực tiếp lên nhận thức, tình cảm, hành vi và động cơ của người nghiện. Nghiên cứu về người sử dụng ma túy và các vấn đề liên quan, tác giả Thorley (2004), đã mô hình hóa về những vấn đề liên quan đến việc sử dụng chất gây nghiện theo 3 phạm trù: (1) Phê, (2) Sử dụng thường xuyên, (3) Nghiện. Mô hình này cho thấy những phạm trù này không có tính loại trừ lẫn nhau và một người sử dụng có thể gặp phải các vấn đề thuộc 1 phạm trù, cả 2 hoặc cả 3 phạm trù khác nhau. Nghiện một chất nào đó là sự tương tác giữa những yếu tố về sinh học thần kinh, tâm lí và xã hội.

Hiện nay đã có đủ bằng chứng để khẳng định rằng nghiện không phải là một sự yếu kém hay tha hóa về đạo đức mà là một bệnh của não. Bằng chứng từ các nghiên cứu về hình ảnh của não bộ như là hình ảnh chụp cộng hưởng từ cũng như hình ảnh chụp nhấp nháy phóng xạ (PET) (phương pháp sử dụng các chất đồng vị phóng xạ để đưa ra hình ảnh ba chiều 10 luan an hoặc hình ảnh phản ánh hoạt động chức năng của các tế bào não) đang chịu tác dụng trực tiếp của ma túy. Ở cấp độ tế bào, ma túy tác động lên các chất dẫn truyền thần kinh, nhờ nó mà thông tin được trao đổi giữa các tế bào não. Như vậy, một người nghiện ma túy là người đang có bệnh mãn tính, tái diễn ở não bộ và có hành vi bắt buộc phải sử dụng ma túy bất chấp hậu quả của nó.

Về bản thân NSDMT nhóm tác giả Robert Ali và cộng sự (2009) xây dựng “mô hình tương tác về sự trải nghiệm chất gây nghiện” thể hiện một hệ thống tổng thể về trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện. Mô hình này kết hợp mô hình tương tác của Zinberg về tác hại của chất gây nghiện với những nguyên tắc của Thuyết học tập xã hội. Mô hình tương tác này cho thấy sự tương tác giữa chất gây nghiện, môi trường và cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự trải nghiệm về sử dụng chất gây nghiện. Không thể chỉ xem xét từng yếu tố một cách riêng biệt.

Trong mỗi khía cạnh (chất gây nghiện, môi trường, cá nhân), tầm quan trọng của mỗi một yếu tố (như cảm xúc, áp lực đồng đẳng, đường dùng) đối với trải nghiệm của người sử dụng sẽ khác nhau giữa người này và người kia, và giữa bối cảnh này và bối cảnh khác. Một số yếu tố có thể trùng lặp trong các nhóm khác (ví dụ: sự sẵn có thuốc có thể là yếu tố môi trường hoặc là yếu tố chất gây nghiện hoặc cả hai). Vấn đề quan trọng nhất là mỗi cấu thành và sự tương tác giữa các yếu tố cần được xem xét khi đánh giá trải nghiệm sử dụng chất gây nghiện.[36] Bên cạnh đó, về nhu cầu điều trị nghiện ma túy, nhóm tác giả Hunt, M. “Dự đoán nhu cầu điều trị lạm dụng chất gây nghiện của người cao tuổi”.

Tạp chí Y tế Công cộng Hoa Kỳ, 45 (2), 236-245. PMCID: PMC9162292 Hunt, M. Kết quả nghiên cứu khẳng định người cao tuổi lạm dụng chất có nhu cầu điều trị nghiện cao, tuy nhiên nhiều người vừa muốn sử dụng chất gây nghiện vừa muốn điều trị hiệu quả. Nhiều người vẫn cứ sử dụng ma túy và không muốn điều trị dứt điểm.

Trong bài báo “Hình ảnh não ở những người lạm dụng methamphetamine qua suốt cuộc đời”(Lão khoa, 46 (3), 122-145) nhóm tác giả cũng đã làm rõ được nhu cầu điều trị của người nghiện tăng lên khi về già. Hầu như NSDMT cao tuổi cần các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, chăm sóc toàn diện, nhấn mạnh nhiều đến các dịch vụ tại cộng đồng.[51] Nhìn chung, những nghiên cứu về ma túy, NSDMT đa phần đã giải thích sử dụng chất gây nghiện và sự trải nghiệm nó, nghiện là gì, nguyên nhân và các yếu tố tác động đến sử dụng ma túy dưới các góc độ về tâm - sinh lý - xã hội. Đồng thời, các nghiên cứu trên đã đề cập đến nhu cầu của người nghiện chất và đưa ra một số định hướng và biện pháp khắc phục trong hỗ trợ điều trị nghiện ma túy. Dưới góc độ CTXH, NCS chưa tìm được nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm, khó khăn và mong muốn trợ giúp của NSDMT.

Một số nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực dịch vụ từ đầu thập niên 1980 trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục. Tuy nhiên, dưới góc độ CTXH thì đây còn là lĩnh vực cần được quan tâm, nghiên cứu sâu hơn. CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp, vì thế có nhiều công trình nghiên cứu CTXH, các chính sách an sinh xã hội. Về dịch vụ CTXH và cách thức triển khai dịch vụ CTXH hầu như được phát triển mạnh ở các nước phát triển.

Những nghiên cứu về mặt lý luận và thực hành cho thấy hầu như các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của đào tạo chuyên nghiệp cho đội ngũ tham gia cung cấp dịch vụ CTXH. Nhóm tác giả như C. Robert (1976) nghiên cứu can thiệp cá nhân và gia đình thông qua dạng dịch vụ can thiệp nhóm chia sẻ cảm xúc và học hỏi hành vi ứng phó. Nghiên cứu đã chỉ ra dịch vụ tham vấn nhóm và gia đình được sử dụng trong CTXH như một môi trường hữu hiệu cho sự can thiệp thay đổi hành vi.

Nhóm tác giả Geoffrey L. Cohen and David K. Sherman (2014) đã bàn về sự thay đổi tâm lý thông qua tự khẳng định bản thân và can thiệp tâm lý xã hội. Đây là những can thiệp rất hữu hiệu nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách.[125] Trên thế giới, dịch vụ CTXH phát triển mạnh, đa dạng và theo hướng chuyên nghiệp tại cơ sở, cộng đồng và góp phần cải thiện tính hiệu quả của dịch vụ phúc lợi xã hội.

Thực tế, những nghiên cứu về dịch vụ đối với NSDMT đã có nhiều có thể chia ra làm 3 hướng theo các lĩnh vực điều trị cai nghiện ma túy: sinh học, tâm lí và xã hội. Khi cung cấp các dịch vụ cho NSDMT cần có một hệ thống dịch vụ toàn diện cả về tâm lý, xã hội, dịch vụ giáo dục, tuyên truyền và hỗ trợ việc làm. Tuy nhiên các quan điểm và nghiên cứu đều có cách lý giải hợp lý về dịch vụ đối với NSDMT. Dưới đây là tổng quan một số công trình nghiên cứu theo các loại hình dịch vụ hỗ trợ trong điều trị nghiện ma túy.

Một số nghiên cứu về dịch vụ giáo dục – truyền thông Nhiều nghiên cứu của các nhà tâm lý học và xã hội học đã chỉ ra việc sử dụng hay lệ thuộc vào ma túy còn phụ thuộc vào sự tương tác giữa con người và xã hội cũng như hành vi của chúng ta chịu sự ảnh hưởng như thế nào trong xã hội ấy. Tác giả Becker, Zinberg (1986), “Drug set, and setting, đã nói lên việc sử dụng ma túy trong bối cảnh và tình huống nhất định, hành vi sử dụng ma túy được xem như hành vi hình thành từ những kinh nghiệm học hỏi. 12 luan an Theo Craig Reinarman, Harry G. Levine, Harry Levine(1997), “Crack In America: Demon Drugs and Social Justice” đã đề cập đến thuật ngữ “drug scare- sợ hãi ma túy” để khẳng định thời kỳ các cuộc thập tự chinh phòng chống ma túy có hiệu quả và mang tính hợp pháp.

Trong cuốn sách cũng phản ánh thời kỳ từ 1986 – 1992 là sự sợ hãi lớn nhất của thế kỷ thứ 20. Các chính trị gia và giới truyền thông đã chấp nhận và tuyên bố “chiến tranh với ma túy là chính sách xã hội tốt nhất -"War on Drugs" and pronounced the "drug war" to be good social policy. Hiện nay, dịch vụ CTXH được phát triển rất đa dạng và phong phú thể hiện qua các Trung tâm CTXH (Mekong Centre), CTXH trong chăm sóc người tâm thần, trung tâm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần gia đình (Gardner family), Sở bảo vệ và chăm sóc trẻ em… Giới truyền thông Mỹ cho rằng, CTXH một ngành nghề quan trọng chiếm vị trí thứ 7 trong 10 ngành học không phổ biến nhất mà trang web CareerBuilder.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy tại các trung tâm chữa bệnh ở Hà Nội" của tác giả Lê Thị Thủy, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Quý và TS. Bùi Thị Mai Đông, tập trung vào việc phân tích và đánh giá các dịch vụ công tác xã hội dành cho người sử dụng ma túy tại Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của dịch vụ công tác xã hội mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả hỗ trợ cho nhóm đối tượng này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tổ chức và triển khai các chương trình can thiệp xã hội, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của công tác xã hội, có thể tham khảo thêm bài viết "Công tác xã hội nhóm giúp nữ sinh viên phòng ngừa quấy rối tình dục", nơi nghiên cứu về vai trò của công tác xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi cho nữ sinh viên. Bên cạnh đó, bài viết "Nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội hiện nay" cũng có thể cung cấp thêm góc nhìn về việc áp dụng các nguyên tắc công tác xã hội trong môi trường giáo dục quân đội. Cuối cùng, bài viết "Nâng Cao Kỹ Năng Dạy Học Các Môn Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn cho Giảng Viên Ở Các Trường Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc phát triển kỹ năng giảng dạy trong lĩnh vực công tác xã hội và giáo dục. Những tài liệu này sẽ mở rộng thêm kiến thức và góc nhìn của bạn về công tác xã hội và các lĩnh vực liên quan.