Tổng quan luận án

Vấn đề sử dụng và nghiện ma túy là một thách thức xã hội phức tạp, để lại nhiều hệ lụy đối với cá nhân, gia đình và trật tự an toàn xã hội. Theo thống kê của Bộ Công an được luận án trích dẫn, tính đến tháng 6 năm 2020, Việt Nam có 234.620 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý; riêng 4 tháng đầu năm 2020, các lực lượng chức năng toàn quốc đã bắt giữ 10.730 đối tượng, thu giữ 3.365 viên ma túy tổng hợp cùng nhiều tang vật liên quan. Dù Chính phủ đã triển khai nhiều mô hình can thiệp, bao gồm việc thí điểm điều trị cắt cơn bằng các bài thuốc đông y như Cedemex (với kết quả theo dõi sau 6 tháng đạt 38% không tái nghiện, sau 1 năm giảm còn 27%), công tác cai nghiện vẫn đối mặt với tỷ lệ tái nghiện cao. Hệ thống các cơ sở cai nghiện rơi vào tình trạng quá tải với 36.368 người điều trị năm 2018 (tăng 6,8% so với năm 2017), trong khi cơ sở vật chất xuống cấp, đội ngũ nhân sự thiếu chuyên nghiệp và quy trình can thiệp chủ yếu tập trung vào phác đồ y tế kết hợp lao động trị liệu cơ bản, thiếu vắng các dịch vụ hỗ trợ tâm lý - xã hội chuyên sâu. Trước bối cảnh nghề công tác xã hội đã được công nhận chính thức tại Việt Nam theo Đề án 32 ngày 25 tháng 10 năm 2010, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu then chốt: đánh giá thực trạng cung cấp, mức độ tiếp cận và nhu cầu thực tế về các dịch vụ công tác xã hội của người sử dụng ma túy tại các trung tâm chữa bệnh tập trung, từ đó xác lập các giải pháp nâng cao hiệu quả can thiệp và dự phòng tái nghiện.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng cung cấp và sử dụng các dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy tại một số cơ sở cai nghiện trên địa bàn thành phố Hà Nội (cụ thể là Cơ sở số 01 và Cơ sở số 05), qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ này nhằm hỗ trợ học viên cai nghiện thành công và tái hòa nhập cộng đồng.

Để đạt được mục đích trên, luận án triển khai 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu, phân tích tài liệu thứ cấp trong và ngoài nước nhằm hệ thống hóa kiến thức lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy.
  2. Tổng hợp các lý thuyết chuyên ngành ứng dụng trong dịch vụ công tác xã hội nhằm xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài.
  3. Điều tra xã hội học về thực trạng cung cấp và tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội, đồng thời phân tích, đánh giá chất lượng dịch vụ tại địa bàn khảo sát.
  4. Triển khai thử nghiệm mô hình can thiệp tham vấn nhóm đối với người sử dụng ma túy tại cơ sở cai nghiện.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Tình hình người sử dụng ma túy ở Việt Nam hiện nay như thế nào, Việt Nam có những nỗ lực gì trong phòng chống ma túy và cai nghiện ma túy?
  • Câu hỏi 2: Công tác xã hội có vai trò như thế nào trong việc làm giảm tình trạng sử dụng ma túy hiện nay, người sử dụng ma túy tại Cơ sở cai nghiện có nhận thức và nhu cầu về dịch vụ Công tác xã hội như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Thực trạng cung cấp dịch vụ Công tác xã hội tại các cơ sở cai nghiện ma túy hiện nay diễn ra như thế nào, có những yếu tố nào tác động đến chất lượng dịch vụ Công tác xã hội cho người sử dụng ma túy tại Cơ sở cai nghiện?
  • Câu hỏi 4: Có giải pháp nào giúp các Cơ sở cai nghiện tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người sử dụng ma túy?

Tương ứng với các câu hỏi trên là 4 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Tình hình người sử dụng ma túy hiện nay tại Việt Nam có diễn biến phức tạp và sử dụng đa dạng các loại ma túy tổng hợp do nhiều yếu tố tác động. Việt Nam có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống ma túy.
  • Giả thuyết 2: Công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người sử dụng ma túy cai nghiện và dự phòng tái nghiện. Người sử dụng ma túy tại Cơ sở cai nghiện hiện nay có nhu cầu, mong muốn được sử dụng dịch vụ Công tác xã hội. Tuy nhiên, nhận thức của họ về dịch vụ Công tác xã hội còn hạn chế do nhiều yếu tố tác động.
  • Giả thuyết 3: Thực trạng cung cấp dịch vụ Công tác xã hội tại cơ sở cai nghiện ma túy hiện nay còn hạn chế, chất lượng và hiệu quả chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng ma túy, có nhiều yếu tố tác động thuận chiều đến chất lượng và hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội như điều kiện, cơ sở vật chất trang thiết bị, đặc điểm tâm lý của người sử dụng ma túy, chính sách pháp luật, điều kiện hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ xã hội.
  • Giả thuyết 4: Có nhiều giải pháp giúp các cơ sở cai nghiện tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy. Người sử dụng ma túy có sự thay đổi tích cực hơn khi được sử dụng dịch vụ Công tác xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy từ thực tiễn các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động - Xã hội thành phố Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về nội dung: Tập trung vào 5 nhóm dịch vụ cụ thể: dịch vụ giáo dục - truyền thông, dịch vụ tham vấn, dịch vụ hỗ trợ chăm sóc y tế, dịch vụ hỗ trợ học nghề và tìm việc làm, dịch vụ hỗ trợ pháp lý.
  • Về khách thể: 368 người sử dụng ma túy đang điều trị nội trú, 10 cán bộ quản lý và nhân viên trực tiếp làm việc tại cơ sở, 05 thân nhân người sử dụng ma túy.
  • Về không gian: Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 (xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Hà Nội) và Cơ sở cai nghiện ma túy số 05 (xã Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội; đổi tên từ Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số 05 theo Quyết định 6129/QĐ-UBND ngày 31/08/2017 của UBND thành phố Hà Nội).
  • Về thời gian: Khảo sát và thu thập dữ liệu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 8/2016 đến tháng 9/2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh nội dung: lý luận về ma túy/người sử dụng ma túy và các dịch vụ can thiệp trợ giúp.

Ở phạm vi quốc tế, về bản chất chất gây nghiện và người sử dụng, nhóm tác giả Tosca Press (1996) và Andrew Byrne (1996) chỉ ra tác hại chính của heroin liên quan đến nguy cơ quá liều và biến chứng lây nhiễm. Erickson (2003) phân tích khía cạnh dược lý trị liệu nếu không bị lạm dụng. FHI (2012) phân loại chất gây nghiện thành ba nhóm chính: nhóm gây ảo giác (Ecstasy, cần sa liều cao), nhóm kích thích (Methamphetamine, ma túy tổng hợp) và nhóm an thần (rượu, Heroin). Về mô hình nghiện, Anthony Thorley (2004) đưa ra mô hình 3 phạm trù không loại trừ nhau: phê, sử dụng thường xuyên và nghiện, chứng minh nghiện là một bệnh lý mãn tính tái diễn của não bộ thông qua các kỹ thuật chụp cộng hưởng từ và PET. Robert Ali và cộng sự (2009) phát triển mô hình tương tác kết hợp quan điểm của Zinberg với nguyên tắc của Thuyết học tập xã hội để giải thích trải nghiệm sử dụng chất. M. Hunt (2004) trong các nghiên cứu đăng trên Tạp chí Y tế Công cộng Hoa Kỳ và Tạp chí Lão khoa làm rõ nhu cầu điều trị và chăm sóc sức khỏe tâm thần tăng cao ở người cao tuổi sử dụng chất gây nghiện.

Về dịch vụ can thiệp xã hội và trị liệu, C. Robert (1976) cùng Geoffrey L. Cohen và David K. Sherman (2014) phân tích các liệu pháp can thiệp nhóm, gia đình và tâm lý xã hội. Becker và Zinberg (1986) trong công trình Drug, Set, and Setting luận giải hành vi dùng thuốc được định hình từ môi trường tương tác xã hội. Craig Reinarman và Harry G. Levine (1997) đưa ra khái niệm "drug scare" (sợ hãi ma túy) trong cuốn Crack In America: Demon Drugs and Social Justice. Về tham vấn, Richard Rawson, Jeanne Obert và Mickey McCann (1984) xây dựng mô hình Matrix điều trị ngoại trú cho người nghiện chất kích thích; P. Amrhein (2003) phân tích vai trò của ngôn ngữ cam kết trong phỏng vấn tạo động lực; Gerald Corey (2011) và B. Saunders (1991) nhấn mạnh các kỹ thuật can thiệp tâm lý ở giai đoạn tiền dự định. Về việc làm và y tế, H. Klee và cộng sự (2002), L. G. Bauld và cộng sự (2010), M. L. Dennis (1993) khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa kỹ năng nghề nghiệp, việc làm ổn định với khả năng duy trì không tái nghiện. Viện Nghiên cứu Hoa Kỳ (AIR, 2004) ban hành phác đồ TIP 40 hướng dẫn điều trị bằng Buprenorphine; Francis Heng (2011) mô tả 6 hình thức điều trị tại Singapore; Pan S. và cộng sự (2015) tại Trung Quốc chứng minh hiệu quả phối hợp giữa trị liệu nhận thức hành vi (CBT) và điều trị thay thế bằng Methadone trên 240 bệnh nhân. Dogoff Feldstein (1980) và S. Howard (1999) phân tích chính sách an sinh và dịch vụ xã hội tại Mỹ.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung làm rõ đặc điểm nhân cách và tâm sinh lý người nghiện: Phan Thị Mai Hương (2005) nghiên cứu tương quan giữa nhân cách và hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy; Mai Xuân Phương (2013) phân chia quá trình phục hồi tâm sinh lý thành 5 giai đoạn (cắt cơn: ngày 1–15; lạc quan tếu: ngày 16–45; bế tắc: ngày 46–120; tự điều chỉnh: ngày 121–180; bắt đầu phục hồi: trên 180 ngày); Trần Nhu và Hồ Bá Thâm (2008) phân tích nhu cầu dạy nghề và lao động trị liệu tại TP. Hồ Chí Minh; Vũ Đức Việt (2013) nghiên cứu mạng lưới hỗ trợ xã hội giữa những người nghiện chích ma túy; Tiêu Thị Minh Hường (2014) làm rõ sự lệ thuộc và mất kiểm soát hành vi của người nghiện. Các nghiên cứu về truyền thông và dịch vụ gồm có Viện PSD (2014) khảo sát nhận thức học sinh - sinh viên; Viện ISDS (2011, 2012) phân tích các hình thức kỳ thị, phân biệt đối xử và tổng kết các mô hình câu lạc bộ "Bạn giúp bạn", câu lạc bộ B39; Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (2008), Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (1995), Thành đoàn Hà Nội (2008) và Nguyễn Thị Bích Điểm (2007) đề xuất các biện pháp phòng ngừa học đường.

Vị trí của luận án: Luận án xác định khoảng trống học thuật khi đa số nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận dưới góc độ y học thuần túy, tâm lý học nhân cách hoặc tội phạm học, mà chưa khảo sát có hệ thống dưới góc độ dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp. Luận án định vị là công trình nghiên cứu toàn diện về thực trạng tổ chức, nhu cầu và mức độ tiếp cận 5 nhóm dịch vụ công tác xã hội tại các cơ sở cai nghiện tập trung, đồng thời trực tiếp kiểm chứng mô hình thực nghiệm tham vấn nhóm hỗ trợ học viên thay đổi nhận thức, hành vi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, quan điểm hệ thống, quan điểm lịch sử và quan điểm thực tiễn. Theo quan điểm duy vật biện chứng, tác giả xem xét mâu thuẫn nội tại giữa mong muốn cai nghiện và sự lệ thuộc chất của người sử dụng ma túy, cũng như mối quan hệ giữa người học viên với cán bộ cơ sở. Dưới quan điểm hệ thống, người sử dụng ma túy được coi là một tiểu hệ thống chịu tác động qua lại từ các hệ thống lớn hơn gồm gia đình, cơ sở điều trị, chính sách pháp luật và môi trường việc làm.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp:

  • Khái niệm về ma túy, người sử dụng ma túy và tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện theo Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 (gồm 6 tiêu chuẩn, thỏa mãn từ 3 tiêu chuẩn trở lên trong vòng 12 tháng: dung nạp, hội chứng cai, thèm muốn mãnh liệt, khó khăn kiểm soát hành vi, xao nhãng thú vui/công việc, tiếp tục dùng dù biết rõ tác hại); Luật Phòng, chống ma túy năm 2000. Tác giả phân định 4 mức độ sử dụng: dùng thử/dùng có mục đích, dùng thường xuyên/dùng nhiều, lạm dụng chất và nghiện.
  • Khái niệm dịch vụ công tác xã hội với người sử dụng ma túy: Được định vị là một dạng dịch vụ xã hội chuyên nghiệp nhằm trợ giúp thân chủ nâng cao năng lực, phục hồi chức năng xã hội, kiểm soát nhận thức và hành vi để cai nghiện và dự phòng tái nghiện.
  • Các lý thuyết ứng dụng: Thuyết Nhận thức - Hành vi (CBT), Thuyết Học tập xã hội (Social Learning Theory) và Mô hình Tiếp cận tạo động lực thay đổi hành vi.
  • Khung thể chế, chính sách: Quyết định 32/2010/QĐ-TTg về phát triển nghề công tác xã hội, Nghị định 82/2013/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNV quy định chức năng trung tâm công tác xã hội và Thông tư 43/2015/TT-BYT về công tác xã hội trong bệnh viện.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, dữ liệu báo cáo chuyên ngành.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin (1884): $n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$ với sai số $e = 0,05$. Từ tổng thể 2.225 học viên đang quản lý tại 07 cơ sở cai nghiện Hà Nội (năm 2017 theo số liệu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội), cỡ mẫu xác định là 368 người sử dụng ma túy.
Cơ sở cai nghiện Số lượng mẫu điều tra (người) Tỷ lệ (%)
Cơ sở cai nghiện số 01 (Ba Vì, Hà Nội) 214 58,15
Cơ sở cai nghiện số 05 (Nam Từ Liêm, Hà Nội) 154 41,85
Tổng cộng 368 100,00
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 20 người sử dụng ma túy, 10 cán bộ quản lý/nhân viên xã hội và 05 thân nhân người sử dụng ma túy để thu thập thông tin định tính bổ trợ.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia điều trị nghiện, giảng viên công tác xã hội và thảo luận tại các hội thảo khoa học.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS tính điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn, phân tích hệ số tương quan Spearman ($r$), kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha và phân tích phương sai ANOVA.
  • Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức can thiệp mô hình tham vấn nhóm chuyên nghiệp trên 7 người sử dụng ma túy tại cơ sở trong vòng 6 tháng, định kỳ 2 tuần/buổi, tổng cộng 12 buổi tham vấn; sau đó đánh giá so sánh trước - sau thực nghiệm và so sánh với nhóm đối chứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài. Về các nghiên cứu ngoài nước, chương phân tích các công trình về cơ chế nghiện, dược lý học và các mô hình trị liệu hành vi (như mô hình Matrix của Rawson, phỏng vấn tạo động lực của Amrhein, các can thiệp Buprenorphine và Methadone phối hợp CBT). Về nghiên cứu trong nước, tác giả điểm lại các luận án và đề tài cấp bộ nghiên cứu về đặc điểm nhân cách, tâm lý học viên cai nghiện (Phan Thị Mai Hương, Mai Xuân Phương, Trần Nhu), các mô hình giảm kỳ thị tại cộng đồng của Viện ISDS và hoạt động truyền thông phòng chống tệ nạn học đường của Trung ương Đoàn và Thành đoàn Hà Nội. Qua việc phân tích, chương 1 khẳng định sự thiếu vắng các nghiên cứu độc lập, chuyên sâu khảo sát trực tiếp hệ thống dịch vụ công tác xã hội trong các cơ sở cai nghiện công lập tại Việt Nam, từ đó xác lập tính cần thiết của đề tài luận án.

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm cốt lõi: chất ma túy, tác hại nhiều mặt của ma túy đối với thể chất, tâm lý, kinh tế gia đình và trật tự an toàn xã hội (dẫn số liệu 100% gia đình có người nghiện bị sa sút kinh tế, 27% tan vỡ hạnh phúc, 24% thân nhân từ bỏ người nghiện; 70% người nghiện liên quan đến các vi phạm trật tự xã hội). Chương phân tích đặc điểm người sử dụng ma túy theo tiêu chuẩn ICD-10 và 4 mức độ sử dụng chất; định nghĩa dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy; phân loại 5 dịch vụ can thiệp thành phần:

  1. Dịch vụ giáo dục - truyền thông.
  2. Dịch vụ tham vấn (cá nhân, nhóm, gia đình).
  3. Dịch vụ hỗ trợ chăm sóc y tế (cắt cơn, giải độc, điều trị bệnh nhiễm trùng cơ hội).
  4. Dịch vụ hỗ trợ học nghề, tìm việc làm.
  5. Dịch vụ hỗ trợ pháp lý.

Chương 2 cũng trình bày quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội, các tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả dịch vụ, hệ thống hóa khung pháp lý hiện hành liên quan đến công tác xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội tại Việt Nam, đồng thời xác lập khung phân tích gồm 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng: (1) cơ chế, chính sách, pháp luật; (2) điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị; (3) năng lực, phẩm chất nhân viên xã hội; (4) đặc điểm tâm lý và mức độ nghiện của thân chủ; (5) hoàn cảnh kinh tế gia đình; (6) các mối quan hệ bạn bè, xã hội.

Chương 3: THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY TẠI CÁC TRUNG TÂM CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM THAM VẤN NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

Chương 3 trình bày kết quả phân tích dữ liệu điều tra định lượng trên 368 người sử dụng ma túy tại hai cơ sở cai nghiện và phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng liên quan:

  • Hiểu biết và nhận thức: Tỷ lệ học viên hiểu biết đầy đủ và chính xác về dịch vụ công tác xã hội còn ở mức thấp; đa phần nhầm lẫn công tác xã hội với các hoạt động quản lý hành chính, giám sát lao động hoặc từ thiện thông thường. Tuy nhiên, khi được giải thích, nhu cầu tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tâm lý và chuẩn bị tái hòa nhập đạt mức rất cao.
  • Thực trạng cung cấp 5 nhóm dịch vụ:
    • Dịch vụ giáo dục - truyền thông: Chủ yếu diễn ra dưới hình thức sinh hoạt tập trung định kỳ hoặc phát thanh nội bộ; nội dung thiên về phổ biến nội quy và quy định pháp luật, thiếu kỹ năng sống và kỹ năng phòng ngừa tái nghiện.
    • Dịch vụ tham vấn: Hoạt động tham vấn chuyên sâu cá nhân và tham vấn nhóm còn sơ khai, phần lớn là trao đổi nhắc nhở vi phạm của cán bộ quản giáo; số lượng nhân sự có chứng chỉ công tác xã hội chuyên nghiệp rất hạn chế.
    • Dịch vụ hỗ trợ y tế: Thực hiện tương đối tốt khâu cắt cơn giải độc ban đầu và cấp phát thuốc thông thường, nhưng khâu hỗ trợ tâm thần chuyên sâu cho người dùng ma túy tổng hợp còn thiếu thiết bị và phác đồ đồng bộ.
    • Dịch vụ học nghề, việc làm: Đào tạo nghề còn đơn điệu (chủ yếu là gia công đơn giản, cơ khí cơ bản, may mặc), chưa gắn kết với nhu cầu thị trường lao động thực tế bên ngoài; kết nối việc làm sau cai còn mang tính tự phát.
    • Dịch vụ hỗ trợ pháp lý: Mức độ tiếp cận thấp nhất trong 5 dịch vụ; học viên ít được tư vấn về quyền công dân, thủ tục xóa án tích hay thủ tục hành chính khi trở về địa phương.
  • Đánh giá chất lượng và yếu tố ảnh hưởng: Mức độ hài lòng của học viên đối với các dịch vụ còn ở mức trung bình. Các yếu tố tác động mạnh nhất đến hiệu quả cung ứng gồm năng lực cán bộ cung cấp dịch vụ, điều kiện cơ sở vật chất phòng ốc trị liệu, chế độ chính sách hỗ trợ và bản thân mức độ phụ thuộc thuốc cùng động lực nội tại của người học viên.
  • Kết quả thực nghiệm tham vấn nhóm: Nhóm thực nghiệm gồm 7 học viên trải qua 12 buổi tham vấn có cấu trúc (buổi 1 thiết lập mối quan hệ, các buổi tiếp theo tập trung nhận diện xúc cảm tiêu cực, kiểm soát cơn thèm nhớ ma túy, rèn luyện kỹ năng từ chối và lập kế hoạch tái hòa nhập). Kết quả đo lường trước và sau thực nghiệm cho thấy sự chuyển biến rõ nét: mức độ tự nhận thức và nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội tăng lên có ý nghĩa thống kê; sơ đồ tương tác nhóm từ buổi đầu tiên (rời rạc, thụ động) chuyển sang buổi thứ 10 và 12 trở nên cởi mở, tương tác đa chiều, chủ động chia sẻ trải nghiệm và cam kết duy trì hành vi không sử dụng ma túy so với nhóm đối chứng không tham gia thực nghiệm.

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY TỪ THỰC TIỄN CÁC TRUNG TÂM CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

Chương 4 xác định các định hướng phát triển dịch vụ công tác xã hội phù hợp với chủ trương của Chính phủ về đổi mới công tác cai nghiện theo hướng tự nguyện, nhân đạo và chuyên nghiệp hóa mạng lưới dịch vụ xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp hướng tới tăng cường năng lực công tác xã hội:
    • Kiện toàn tổ chức bộ máy, thành lập phòng hoặc tổ công tác xã hội chuyên biệt trong các cơ sở cai nghiện ma túy; chuẩn hóa vị trí việc làm và chức danh nhân viên công tác xã hội.
    • Bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm, quản lý trường hợp cho đội ngũ cán bộ, khắc phục tình trạng kiêm nhiệm.
    • Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phòng tham vấn riêng biệt đảm bảo tính bảo mật thông tin thân chủ; nâng cấp trang thiết bị y tế và xưởng thực hành nghề nghiệp.
    • Xây dựng quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuẩn hóa theo 6 bước: tiếp nhận và sàng lọc, đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch trợ giúp, thực hiện can thiệp, lượng giá và chuyển gửi/quản lý sau cai.
  2. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức và nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội:
    • Đổi mới nội dung và hình thức giáo dục truyền thông, lồng ghép kiến thức công tác xã hội vào chương trình sinh hoạt nội quy giúp học viên nhận diện đúng vai trò của nhân viên công tác xã hội.
    • Nâng cao nhận thức cho thân nhân người sử dụng ma túy, thiết lập mạng lưới tham vấn gia đình nhằm xóa bỏ định kiến, chuẩn bị môi trường đón nhận học viên hồi gia.
    • Tăng cường liên kết giữa cơ sở cai nghiện với các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và chính quyền địa phương để bảo đảm cơ hội học nghề thực chất, giới thiệu việc làm và xây dựng các câu lạc bộ hỗ trợ đồng đẳng sau cai tại cộng đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy trong bối cảnh các cơ sở cai nghiện tập trung tại Việt Nam. Xác lập nội hàm khoa học, cấu trúc và tiêu chí đánh giá chất lượng của 5 nhóm dịch vụ công tác xã hội chuyên biệt (giáo dục - truyền thông, tham vấn, y tế, việc làm, pháp lý), đóng góp tư liệu chuyên ngành cho công tác đào tạo công tác xã hội.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng cung cấp và tiếp cận dịch vụ công tác xã hội tại hai cơ sở cai nghiện đại diện của thành phố Hà Nội (Cơ sở 01 và Cơ sở 05), chỉ ra sự chênh lệch giữa nhu cầu thực tế của học viên và khả năng đáp ứng hạn chế của cơ sở.
    • Kiểm chứng thành công tính khả thi và hiệu quả của mô hình can thiệp tham vấn nhóm gồm 12 buổi, chứng minh sự biến chuyển tích cực về nhận thức, kỹ năng kiểm soát xúc cảm và giảm sự đề phòng của người sử dụng ma túy thông qua các kỹ thuật công tác xã hội chuyên môn.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện khung chính sách, tổ chức bộ máy, chuẩn hóa quy trình chuyên môn đến đào tạo nguồn nhân lực, làm căn cứ thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và ban giám đốc các cơ sở cai nghiện áp dụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi địa bàn khảo sát định lượng chỉ tập trung tại 02 cơ sở cai nghiện công lập thuộc thành phố Hà Nội (Cơ sở số 01 và Cơ sở số 05), chưa mở rộng khảo sát các cơ sở cai nghiện tự nguyện hoặc cơ sở điều trị tại các tỉnh thành khác.
  • Khách thể khảo sát là người sử dụng ma túy đang chấp hành quyết định cai nghiện tại cơ sở, chưa bao quát được nhóm người sử dụng ma túy tự do ngoài cộng đồng hoặc đang điều trị ngoại trú bằng Methadone.
  • Quy mô mẫu thực nghiệm tham vấn nhóm dừng lại ở 7 học viên tại một cơ sở, thời gian theo dõi giới hạn trong 6 tháng tại trung tâm, chưa có điều kiện theo dõi dọc (longitudinal study) dài hạn sau khi học viên tái hòa nhập cộng đồng để đánh giá chính xác tỷ lệ tái nghiện.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các mô hình cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy tại cộng đồng, các điểm tư vấn chăm sóc hỗ trợ điều trị nghiện cấp xã/phường.
  • Thực hiện các nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp dài hạn của dịch vụ công tác xã hội sau cai nghiện (từ 1 đến 3 năm sau khi trở về địa phương).
  • Đi sâu nghiên cứu các can thiệp chuyên biệt cho nhóm người sử dụng ma túy tổng hợp mới nổi và các rối loạn tâm thần đồng diễn.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Công tác xã hội, Tâm lý học, Xã hội học: Sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp (bảng hỏi Slovin, phân tích SPSS, phỏng vấn sâu, thực nghiệm nhóm) và cơ sở lý thuyết can thiệp chất gây nghiện.
  • Giảng viên đại học: Tham khảo khung phân tích 5 nhóm dịch vụ công tác xã hội và quy trình can thiệp tham vấn nhóm để xây dựng giáo trình, bài giảng chuyên đề "Công tác xã hội với người lạm dụng chất".
  • Các nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội các địa phương): Có cơ sở khoa học để xây dựng chuẩn chức danh nghề nghiệp, định biên nhân viên công tác xã hội trong các cơ sở cai nghiện và hoàn thiện quy trình cai nghiện phục hồi theo hướng nhân văn, giảm kỳ thị.
  • Ban giám đốc, cán bộ quản lý và nhân viên tại các cơ sở cai nghiện ma túy: Trực tiếp tham khảo bộ công cụ câu hỏi khảo sát, quy trình 12 buổi tham vấn nhóm và các giải pháp tổ chức dịch vụ hỗ trợ học nghề, việc làm thực chất.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khách thể và quy mô mẫu khảo sát định lượng trong luận án được xác định như thế nào? Mẫu khảo sát định lượng gồm 368 người sử dụng ma túy đang điều trị tại 2 cơ sở: Cơ sở cai nghiện số 01 (214 người) và Cơ sở cai nghiện số 05 (154 người) thuộc thành phố Hà Nội. Quy mô mẫu được tính toán dựa trên công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin (1884) với sai số $e = 0,05$ từ tổng thể 2.225 học viên đang được quản lý tại 07 cơ sở cai nghiện của Hà Nội vào năm 2017.

  2. Luận án tập trung nghiên cứu những loại hình dịch vụ công tác xã hội cụ thể nào? Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào 5 nhóm dịch vụ công tác xã hội thiết yếu: (1) Dịch vụ giáo dục - truyền thông; (2) Dịch vụ tham vấn (cá nhân, nhóm, gia đình); (3) Dịch vụ hỗ trợ chăm sóc y tế; (4) Dịch vụ hỗ trợ học nghề, tìm việc làm; (5) Dịch vụ hỗ trợ pháp lý.

  3. Mô hình thực nghiệm tham vấn nhóm được triển khai theo quy trình ra sao? Mô hình thực nghiệm được thực hiện trên nhóm 7 người sử dụng ma túy tại cơ sở trong thời gian 6 tháng, sinh hoạt định kỳ 2 tuần một buổi với tổng cộng 12 buổi tham vấn. Nội dung tập trung nhận thức hành vi, xử lý xúc cảm, rèn luyện kỹ năng phòng ngừa tái nghiện và lập kế hoạch hồi gia. Kết quả được đánh giá thông qua so sánh trước - sau thực nghiệm và so sánh với nhóm đối chứng.

  4. Theo tài liệu tổng quan trong luận án, quá trình phục hồi tâm sinh lý của người nghiện ma túy trải qua các giai đoạn nào? Theo nghiên cứu của tác giả Mai Xuân Phương (2013) được luận án trích dẫn, quá trình phục hồi tâm sinh lý của người nghiện ma túy chia làm 5 giai đoạn: Giai đoạn cắt cơn (từ ngày 1 đến ngày 15); Giai đoạn lạc quan tếu (từ ngày 16 đến ngày 45); Giai đoạn bế tắc (từ ngày 46 đến ngày 120); Giai đoạn tự điều chỉnh (từ ngày 121 đến ngày 180); Giai đoạn bắt đầu phục hồi tâm sinh lý (trên 180 ngày).

  5. Những yếu tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội tại cơ sở cai nghiện? Luận án xác định 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng then chốt gồm: thể chế, chính sách, pháp luật; điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị của cơ sở; trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của nhân viên cung cấp dịch vụ; đặc điểm tâm lý và mức độ phụ thuộc chất của người sử dụng ma túy; hoàn cảnh kinh tế gia đình; và các mối quan hệ bạn bè, xã hội của thân chủ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thủy đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng cung cấp 5 nhóm dịch vụ công tác xã hội đối với người sử dụng ma túy tại hai cơ sở cai nghiện của thành phố Hà Nội. Bằng việc kết hợp phương pháp điều tra định lượng trên 368 học viên, phỏng vấn sâu và can thiệp thực nghiệm tham vấn nhóm 12 buổi, công trình chứng minh vai trò của các kỹ thuật công tác xã hội chuyên nghiệp trong việc hỗ trợ thay đổi nhận thức, cảm xúc và hành vi của người cai nghiện. Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn để đề xuất hai nhóm giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn và nhận thức xã hội, phục vụ công tác đổi mới hoạt động cai nghiện phục hồi tại Việt Nam. Công trình là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, cơ sở điều trị và giới nghiên cứu trong lĩnh vực công tác xã hội và chính sách an sinh.