CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET LIEN QUAN DEN HOẠT ĐỘNG TÍNH GIÁ DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG 1. DON VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LAP VA DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CONG 1. Đơn vị sự nghiệp công lập a. Khái quát đơn vị sự nghiệp công lập Theo Luật viên chức 2010, “don vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thầm quyên của Nhà nước, tổ chức chỉnh trị xã hội thành lập theo quy định pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước”.
Đơn vị SNCL gồm: - Đơn vị SNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (được gọi là đơn vị SNCL được giao quyền tự chủ). - Don vị SNCL chưa được giao quyén tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (được gọi là đơn vị SNCL chưa được giao quyền tự chủ). Đặc diém của don vị sự nghiệp công lập - Là một tổ chức được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp hoặc pháp luật về tổ chức, hoạt động và quan lý hội. - Do Nhà nước đầu tư và xây dựng cơ sở vật chất đề hoạt động.
Tùy từng loại hình đơn vị SNCL mà Nhà nước có sự hỗ trợ ngân sách ở những mức độ khác nhau. - Được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ SNC trong những lĩnh vực mà Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng chủ yếu cho nhân dân. - Cơ chế hoạt động của các đơn vị SNCL đang ngày càng được đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập. - Các đơn vị SNCL hoạt động theo chế độ thủ trưởng.
Tuy nhiên, dé đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tránh tình trạng lạm quyền, vượt quyền đồng thời phòng chống tham nhũng, pháp luật quy định việc thành lập Hội đồng quan lý tại các đơn vị SNCL tự bảo đảm chỉ thường xuyên và chi đầu tư và các đơn vị SNCL khác trong trường hợp cần thiết. - Nhân sự tại đơn vị SNCL chủ yếu được tuyén dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo hợp đồng làm việc, được quản lý, sử dụng với tư cách là viên chức. Tuy nhiên, hiện nay dé đáp ứng nhu cầu vị trí việc làm trong các đơn vị SNCL, Nhà nước đã cho phép các đơn vị SNCL được kí kết Hợp đồng lao động với các vị trí hỗ trợ, phục vụ lẫn thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Tuy theo các tiêu thức khác nhau, đơn vị SNCL có thể phân loại theo các nhóm các nhau.
Theo mức độ tự chủ tài chính, đơn vị SNCL được phân loại thành 4 nhóm: - Don vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (được gọi là nhóm I): Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển của đơn vị. - Don vị SNCL tự bao đảm chi thường xuyên (được gọi là nhóm 2): Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động tự bảo đảm được kinh phí hoạt động thường xuyên của đơn vi. - Đơn vị SNCL tự bảo đảm một phan chi thường xuyên (được gọi là nhóm 3): Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động nhưng chưa tự bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của don vi. Phần kinh phí chi thường xuyên đơn vị chưa tự bảo đảm được NSNN cấp.
- Don vị SNCL do nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (được gọi là nhóm 4): Là đơn vị có nguồn thu từ các hoạt động thấp hoặc không có nguồn thu, NSNN phải bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động của đơn vị. Đặc điểm nguôn thu, nhiệm vụ chỉ của đơn vị sự nghiệp công lập Dù hoạt động trong bat cứ lĩnh vực nao thì đơn vị SNCL cũng có đặc điểm về nguồn thu và nhiệm vụ chỉ như sau: - Được tự chủ sử dụng tai sản và các nguồn lực ở đơn vị dé cung cấp thực hiện nhiệm vụ, phù hợp với lĩnh vực chuyên môn được cấp có thâm quyền giao theo nguyên tắc: thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. - Được quyết định giá dịch vụ bảo đảm bù dap chi phí và có tích lũy hợp lý; trường hợp dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì thực hiện theo mức giá cụ thể, khung giá do co quan có thắm quyền quy định theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP. - Được tự chủ quyết định các khoản chi để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn bảo dam tính hợp lý, hợp lệ và phải quy định trong quy chế chỉ tiêu nội bộ; phải tổ chức công tác kế toán theo đúng quy định của pháp luật về kế toán; mở số sách kế toán, sử dụng, quản lý chứng từ, tổ chức hạch toán, theo dõi riêng bảo đảm ghi nhận day đủ, chính xác doanh thu và phân bồ đầy đủ, chính xác chỉ phí đối với từng hoạt động; phải đăng ký, kê khai, nộp đủ thuế và các khoản thu ngân sách khác (nếu có) theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ kiểm toán nội bộ đầy đủ, định kỳ; thực hiện chế độ BCTC đúng, kịp thời với các cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan có liên quan theo quy định; thực hiện chế độ công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện công tác tài chính - kế toán.
Dịch vụ sự nghiệp công a. Khái niệm dịch vụ sự nghiệp công Theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP, dịch vụ SNC được giải thích như sau: Dịch vụ SNC là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế - dân số; văn hóa, thé thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác 10 (gồm: nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tai, công thương, xây dựng, tư pháp, lao động thương binh và xã hội, sự nghiệp khác). Theo cơ chế tài chính, dịch vụ SNC được phân loại thành dịch vụ SNC sử dụng NSNN và dịch vu SNC không sử dụng NSNN. Trong đó, dịch vụ SNC sử dụng NSNN là dịch vụ SNC cơ bản, thiết yếu và dịch vụ SNC mang tính đặc thù của một số ngành, lĩnh vực thuộc danh mục do cấp có thẩm quyền ban hành, được Nhà nước bảo đảm kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí đề thực hiện.
Đặc điểm của dịch vụ sự nghiệp công - Dịch vụ SNC có tính xã hội, với mục tiêu chính phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng nhu cầu của công dân; không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo đảm công bằng và 6n định xã hội; mang tính quan chúng rộng rãi, mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của Nhà nước. - Dịch vụ SNC cung ứng loại “hàng hóa” đặc biệt do Nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm do tổ chức cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội bat kể sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật. - Việc trao đổi dịch vụ SNC không thông qua quan hệ thị trường day đủ. Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào NSNN.
Cũng có những dịch vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận. - Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ SNC là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loại hàng hóa công cộng; loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này. KHÁI QUAT VE CHI PHÍ DỊCH VU SU NGHIỆP CONG Dịch vu SNC được xem một loại hang hoá đặc biệt. Tương tự như qua trình sản xuất sản phẩm ở doanh nghiệp, hoạt động cung cấp dịch vụ SNC luôn tồn tại hai mặt là chi phí dịch vụ SNC va giá dịch vu SNC.
Hai đại lượng này đối lập nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chi phí SNC phản ánh mặt hao phí còn giá dịch vụ SNC phản ánh mặt kết quả. Cơ sở dé tập hợp chi phí SNC là những khoản hao phí đã bỏ ra, còn cơ sở dé tính giá thành là những số liệu chi phí SNC đã được tập hợp trong quá trình cung cấp dịch vụ SNC. Do vậy, để làm rõ về giá dịch vụ SNC, thì cần phải xem xét đến chi phí dịch vụ SNC bỏ ra để hoàn thành việc cung cấp dịch vụ cho đối tượng sử dụng.
Khái niệm chỉ phí dịch vụ sự nghiệp công Lê Thanh Dung (2022) đã cho rang “chi phí dịch vụ SNC là toàn bộ các hao phí can thiết được biểu hiện bằng tiền mà don vị SNCL phải bỏ ra trong một thời kỳ nhất định để thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ SNC cho người sử dụng dịch vụ ”. Bản chất của chỉ phí dịch vụ SNC là những hao phí cần thiết cho việc duy trì và phát triển hoạt động của đơn vị SNCL. Chi phí dịch vụ SNC có những đặc điểm của chi phí như sau: - Là hao phí tài nguyên hữu hình lẫn vô hình, vật chất và lao động. - Những hao phí này phải gắn liền với mục đích trong tương lai tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
- Phải được lượng hoá bằng tiền. - Được xác định trong một khoảng thời gian nhất định. Phân loại chi phí dịch vu sự nghiệp công Chi phí dịch vụ SNC phát sinh trong quá trình cung ứng dịch vụ SNC khá đa dạng, bao gồm nhiều chủng loại với những đặc điểm khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm ngành, đối tượng tập hợp chỉ phí. Tuy nhiên, có thể phân loại chi phí dịch vụ SNC theo các tiêu thức cơ bản như sau: 12 a.
Phân loại theo nội dung kinh tế của chỉ phí - Chi phí NVL, công cụ dụng cụ bao gồm toàn bộ giá trị NVL chính, NVL phụ, công cụ dụng cụ dùng trong hoạt động cấp dịch vụ SNC trong ky tại các don vị SNCL: lương thực, thực phẩm, vật dụng sinh hoạt, thuốc men, đồ dùng thiết yếu, vật tư tiêu hao, dụng cụ y tế.