Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG BỆNH VIỆN BẠCH MAI 1. Khái niệm nghiên cứu 1. Công tác xã hội Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH: Theo Hiệp hội CTXH quốc tế 2014 (IFSW): Công tác xã hội là một nghề dựa trên thực tiễn và một chuyên ngành học thuật nhằm thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội, sự gắn kết xã hội, trao quyền và giải phóng con người. Nguyên tắc công bằng xã hội, quyền con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự đa dạng là trọng tâm của công tác xã hội.
Được củng cố bởi các lý thuyết về công tác xã hội, khoa học xã hội, nhân văn và kiến thức bản địa, công tác xã hội thu hút mọi người và các cấu trúc để giải quyết các thách thức trong cuộc sống và nâng cao phúc lợi. Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. [Theo quyết định 32/2010/QĐ-TTg] Bản dịch định nghĩa mới về CTXH của Quốc tế - theo tác giả Lê Chí An dịch: “CTXH là một nghề thực hành và là một khoa học thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển xã hội, sự cố kết xã hội, tăng quyền lực và giải phóng người dân. Các nguyên tắc công bằng xã hội, quyền con người, tinh thần trách nhiệm chung và tôn trọng sự đa dạng là trọng tâm của nghề CTXH.
Vận dụng những lý thuyết của CTXH, khoa học xã hội, khoa học nhân văn và kiến thức 15 bản địa; CTXH vận động thu hút người dân và các tổ chức nhận diện những thách thức trong cuộc sống và tăng cường an sinh cho con người.” Tóm lại CTXH là một nghề nhằm giúp đỡ cá nhân, nhóm và cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó. Nghề CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày một tốt hơn. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm giữa con người và môi trường của họ. CTXH là một nghề chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người có nguy cơ bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già…).
Sứ mạng của ngành CTXH là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu: Những rào cản trong xã hội Sự bất công Sự bất bình đẳng CTXH tiếp cận các vấn đề này thông qua các hoạt động nhằm giúp đỡ các cá nhân và gia đình, nhóm và cộng đồng tự giải quyết các vấn đề của mình với hệ thống lý thuyết và thực hành riêng. Công tác xã hội trong bệnh viện Công tác xã hội trong bệnh viện là các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh. Mục đích là hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn về xã hội để đạt được hiệu quả chăm sóc sức khỏe tốt nhất. Nhân viên Công tác xã hội trong bệnh viện là cầu nối để giải quyết các mâu thuẫn giữa NB và 16 nhân viên y tế, giữa người bệnh và người bệnh, người bệnh và người nhà người bệnh… Công tác xã hội trong bệnh viện có nhiệm vụ bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của NB thông qua việc tư vấn các vấn đề xã hội có liên quan cho NB và gia đình của họ trong quá trình điều trị; tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ trên cơ sở tìm hiểu và phân tích các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe của NB; kết nối các dịch vụ hỗ trợ cho từng NB; nghiên cứu cung cấp bằng chứng từ thực tế hoạt động để đề xuất chính sách; hỗ trợ giải tỏa tâm lý cho NB, người nhà và nhân viên y tế… 1.
Nhân viên công tác xã hội Xuất phát từ nhiều cách quan niệm, cách hiểu về CTXH nên cũng có nhiều cách gọi khác nhau về người làm CTXH. Sự đa dạng trong các hoạt động xã hội là cơ sở dẫn đến sự phong phú của việc nhận diện người làm CTXH. Từ khi CTXH chuyên nghiệp ra đời, người ta mới thực sự chú ý đến khái niệm NVCTXH. Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, người làm CTXH được gọi với những tên gọi khác nhau như: NVXH, cán sự xã hội, cán bộ xã hội, NV CTXH, cán bộ làm CTXH… Dù cách gọi tên như thế nào thì người làm CTXH chuyên nghiệp phải là những người được đào tạo chuyên nghiệp và trong quá trình thực hành tác nghiệp phải dựa trên nền tảng lý thuyết, hệ thống kiến thức khoa học được trang bị và sử dụng phương pháp, kỹ năng chuyên nghiệp của nghề nghiệp chuyên môn CTXH.
Ở Việt Nam, người làm công tác xã hội được biết đến phổ biến muộn hơn (từ sau năm 2000), nhưng tương đối thống nhất với tên gọi NVCTXH và gọi tắt là NVXH (social worker). NVCTXH là những người có trình độ chuyên môn, được trang bị kiến thức, kỹ năng về CTXH chuyên nghiệp và sử dụng kiến thức, kỹ năng đó 17 trong quá trình tác nghiệp trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng) có vấn đề xã hội giải quyết vấn đề gặp phải, vươn lên trong cuộc sống. Nha n vie n CTXH là những ngu ời đu ợc đào tạo mọ t cách chuye n nghiẹ p về co ng tác xã họ i có bằng cấp chuye n mo n. Đó là những cán bọ chuye n gia có khả na ng pha n tích các vấn đề xã họ i, biết tổ chức vạ n đọ ng, giáo dục, biết cách thức hành đọ ng nhằm mục đích tối u u hóa sự thực hiẹ n vai trò chủ thể của con ngu ời trong mọi lĩnh vực của đời sống xã họ i, góp phần tích cực vào quá trình cải thiẹ n, ta ng cu ờng chất lu ợng sống của cá nha n nhóm và cọ ng đồng.
Họ sử dụng các kiến thức, kỹ na ng CTXH để trợ giúp cá nha n, gia đình và cọ ng đồng na ng cao khả na ng giải quyết vấn đề trong cuọ c sống; tạo co họ i để các đối tu ợng tiếp cạ n đu ợc nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tu o ng tác giữa các cá nha n, giữa cá nha n với mo i tru ờng; tạo ảnh hu ởng tới chính sách xã họ i tho ng qua hoạt đọ ng nghie n cứu và thực tiễn (C. Nha n vie n CTXH chuye n nghiẹ p kho ng chỉ biết hu ớng vào các nhóm đối tu ợng yếu thế nhằm hỗ trợ bảo vẹ ta ng cu ờng na ng lực tự chủ của họ mà còn xa y dựng những chu o ng trình giải pháp nhằm bảo vẹ xã họ i. Ngu ời nha n vie n CTXH chuye n nghiẹ p phải là ngu ời biết kết hợp chạ t chẽ lý thuyết và thực tiễn, thành thạo các phu o ng pháp và kỹ na ng chuye n mo n. Nha n vie n CTXH sử dụng kiến thức, kỹ na ng chuye n mo n đu ợc đào tạo để giúp đối tu ợng ta ng na ng lực và quyền lực trong viẹ c giải quyết vấn đề của họ.
Đa y có thể coi là quá trình nha n vie n CTXH giúp đối tu ợng phát hiẹ n đu ợc những khả na ng tiềm tàng, những điểm mạnh và na ng lực sẵn có của bản tha n (cá nha n, gia đình, cọ ng đồng) và kết nối với các 18 nguồn lực xã họ i trong viẹ c tự giải quyết các vấn đề xã họ i của mình. Be n cạnh đó mọ t ngu ời nha n vie n CTXH chuye n nghiẹ p phải là ngu ời có những tri thức, kiến thức lie n ngành để pha n tích các đạ c điểm, trạng thái ta m lý của cá nha n nhằm chẩn đoán và trị liẹ u với các nhóm đối tu ợng trong xã họ i. Trong đề tài nghie n cứu này, chúng to i coi nha n vie n CTXH hiẹ n đang là những ngu ời hoạt đọ ng chính thức trong lĩnh vực CTXH tại các tổ chức, đo n vị. Họ hoạt đọ ng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ở các cấp các ngành khác nhau.
Nha n vie n CTXH là những ngu ời hoạt đọ ng trong lĩnh vực CTXH ít nhất từ 1 – 2 na m trở le n. Nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện Nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện với tư cách là cầu nối để giải quyết các mâu thuẫn giữa NB và nhân viên y tế, giữa người bệnh và người bệnh, người bệnh và người nhà người bệnh…sẽ tham gia vào các ê kíp chăm sóc và cộng tác với các chuyên viên, nhân viên y tế, tình nguyện viên và các đoàn thể khác trong và ngoài cơ sở hoạt động; là các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh. Nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ vận động nguồn lực trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng,.) tìm kiếm nguồn lực giải quyết vấn đề. Giới thiệu thân chủ tiếp cận với các dịch vụ, chính sách, nguồn tài nguyên sẵn có trong cộng đồng; Là người vận động chính sách giúp bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách mà họ là đối tượng được hưởng; Là người tư vấn giúp cho những đối tượng có 19 khó khăn về tâm lý, tình cảm và xã hội vượt qua được sự căng thẳng, khủng hoảng duy trì hành vi tích cực đảm bảo chất lượng cuộc sống,… nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội.