CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 1. Khái niệm nghiên cứu: 1. Khái niệm “Công tác xã hội” Công tác xã hội ở Việt Nam hình thành và phát triển như một ngành, nghề chuyên môn, khoa học.
Đây là một xu thế tất yếu của quá trình lịch sử biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và nhân tố cơ bản hình thành giá trị đạo đức nghề nghiệp CTXH chính là bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo cao cả của dân tộc. Dưới đây là một số định nghĩa về CTXH: Theo Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia (NASW): CTXH là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích cá nhân. Theo Foundation of Social Work Practice (Cơ sở thực hành CTXH): CTXH là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội. CTXH được coi như một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những nghiên cứu đã được chứng minh.
Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa. Theo JoanRobertson – Chủ nhiệm khoa CTXH Trường Đại học Wisconsin, Hoa Kỳ: CTXH là một quá trình giải trình giải quyết các vấn đề hợp lý nhằm thay đổi theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở các cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội. Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (International Federation of Social Workers) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH21 chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Định nghĩa của Crouch.C “Social Work Defined” (1979): CTXH là sự cố gắng hỗ trợ những người không làm chủ các phương tiện sinh tồn tiếp cận được với chúng và đạt được mức độ độc lập cao nhất có thể có được”. 9 Thang Long University Library Theo Từ điển XHH (G.Trommsdorff – NXB Thế giới, Hà Nội, 2001): CTXH là một dịch vụ đã chuyên môn hóa – một việc giúp đỡ có tính cá nhân – để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt. Theo tác giả (Nguyễn Thị Oanh,2004): CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp.
Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình. Theo đề án số 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Trong phạm vi đề án 32 - nghị quyết số 22/NQ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng 5 năm 2009 thì CTXH được hiểu rằng: “Nghề CTXH là những hoạt động mang tính chuyên nghiệp, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề, giúp các đối tượng tự vươn lên trong cuộc sống và hoà nhập cộng đồng” Với nhiều khái niệm, định nghĩa đã nêu trên, tôi nhận thấy khái niệm CTXH của Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia (NASW) phù hợp với xã hội Việt Nam hiện nay. Do đó, tôi chọn khái niệm này để áp dụng vào quá trình nghiên cứu của mình.
Khái niệm “Công tác xã hội cá nhân” CTXH cá nhân là hoạt động dịch vụ xã hội trực tiếp hướng đến các TC do các NVCTXH thực hiện. Làm việc 1:1 giữa NVCTXH và thân chủ. Các nhân viên này phải có các kỹ năng trong việc giải quyết các vấn đề về nguồn lực, các vấn đề về xã hội và xúc cảm. Đây là một hoạt động mang tính chuyên ngành để qua đó các nhu cầu của thân chủ được đánh giá trong các bối cảnh xã hội và quan hệ xã hội của cá nhân đó.
NVCTXH cá nhân hướng đến nâng cao sức mạnh của các thân chủ nhằm giải quyết các vấn đề và đối mặt các vấn đề một cách hiệu quả trong môi trường sống của thân chủ. Các dịch vụ thông qua nhân viên xã hội bao trùm nhiều vấn đề từ việc trợ giúp về vật chất đến các vấn đề tham vấn phức hợp. (Trích từ Specht và Vickery, Integrating Social Work Methods. 1977 Allen and Unwin.
Theo cách hiểu khác thì: CTXHCN là phương pháp giúp đỡ cá nhân có vấn đề về chức năng tâm lý xã hội. Nó đi sâu vào tiến trình giải quyết vấn đề gồm 7 bước. Đó là xác định vấn đề, thu thập thông tin, thẩm định chẩn đoán, kế hoạch trị liệu, thực hiện kế hoạch, lượng giá (tiếp tục giúp đỡ hay chấm dứt) và cuối cùng là kết thúc ca. Đây là những bước chuyển tiếp theo thứ tự logic, nhưng trong quá trình giúp đỡ, có những bước 10 kéo dài suốt quá trình như: thu thập dữ kiện, thẩm định và lượng giá.
Đây là tiến trình mà tôi áp dụng khi nghiên cứu đề tài. Khái niệm “Nhân viên công tác xã hội” Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc tế -IFSW, Nhân viên công tác xã hội (tiếng Anh là social worker) là những người hoạt động trong nhiều lĩnh vực, được đào tạo chính quy và cả bán chuyên nghiệp, được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH để trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”. Theo DuBois and Miley: Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội (2005). Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: “Nhân viên CTXH là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH để sử dụng những kiến thức và kỹ năng của mình để: Giúp cho xã hội thấy rõ trách nhiệm của mình đối với sự phát triển chung của xã hội.
Giúp thân chủ: Cung cấp các dịch vụ xã hội; Tăng cường khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề của mình; Tiếp cận các nguồn lực; Thiết lập những mối quan hệ thuân lợi giữa họ và môi trường của họ”. Vì vậy vai trò của NVCTXH là vô cùng quan trọng thông qua những điểm sau: Vai trò là người vận động nguồn lực trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng.) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề. Vai trò là người kết nối - khai thác, giới thiệu thân chủ tiếp cận tới các dịch vụ, chính sách nguồn tài nguyên đang sẵn có trong cộng đồng. Vai trò là người biện hộ/ vận động chính sách giúp bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách mà họ là đối tượng được hưởng.
Vai trò là người giáo dục cung cấp kiến thức kỹ năng nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu 11 Thang Long University Library biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết. Vai trò là người tham vấn giúp cho những đối tượng có khó khăn về tâm lý, tình cảm và xã hội vượt qua được sự căng thẳng, khủng hoảng duy trì hành vi tích cực đảm bảo chất lượng cuộc sống. Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp đối tượng như trực tiếp cung cấp dịch vụ chăm sóc đối tượng yếu thế. Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã cộng đồng được xác định, nhân viên công tác xã hội giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng.
Vai trò người tạo sự thay đổi về đời sống cũng như tư duy của người yếu thế và người dân trong cộng đồng nghèo vươn lên làm chủ cuộc sống. Vai trò là người nhà đào tạo, nghiên cứu và quản lý hành chính giúp đào tạo thế hệ nhân viên CTXH, đưa ra những nghiên cứu lý luận và xây dựng mô hình giúp đỡ đối tượng và quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng. Khái niệm “Thanh thiếu niên” Thanh thiếu niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh thiếu niên.
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh thiếu niên là một giai đoạn xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời”.