Tổng quan nghiên cứu

Công tác chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng là một trong những trọng tâm hàng đầu trong chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đến năm 2014, cả nước có khoảng 6.900 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 7.000 cán bộ lão thành cách mạng, hơn 50.000 thương binh, bệnh binh cao tuổi và trên 55.600 căn nhà tình nghĩa được xây mới trong phong trào đền ơn đáp nghĩa. Tuy nhiên, trước áp lực già hóa dân số và di chứng chiến tranh, người có công đang đối mặt với nhiều nguy cơ suy giảm sức khỏe thể chất cùng các biến đổi tâm sinh lý phức tạp.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ thực tế công tác điều dưỡng hiện nay chủ yếu tập trung vào chăm sóc y tế lâm sàng, chưa tích hợp đầy đủ vai trò của công tác xã hội chuyên nghiệp để nâng đỡ tinh thần và kết nối mạng lưới xã hội. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng sức khỏe, mức độ đáp ứng nhu cầu và làm rõ chức năng, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong quy trình trợ giúp người có công. Địa bàn khảo sát thực địa được thực hiện tại Trung tâm Nuôi dưỡng và Điều dưỡng Người có công Hà Nội thuộc phường Mộ Lao, quận Hà Đông trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện khung can thiệp an sinh và nâng cao chất lượng sống cho hơn 3.700 lượt người điều dưỡng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hai khung lý thuyết trụ cột của khoa học xã hội để phân tích toàn diện nhu cầu và mạng lưới trợ giúp người có công. Thứ nhất là Thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow với hệ thống 5 tầng bậc. Trong môi trường điều dưỡng, nhu cầu sinh lý và an toàn thể chất là điều kiện tiên quyết để duy trì sự sống, trước khi đối tượng hướng đến các nhu cầu bậc cao như tương tác tình cảm, sự tôn trọng và khẳng định giá trị bản thân. Thứ hai là Thuyết hệ thống sinh thái trong công tác xã hội được phát triển bởi các học giả Siporin, Pincus và Minahan. Lý thuyết này phân tích người có công trong mối tương quan hữu cơ với ba hệ thống: hệ thống vi mô phi chính thức gồm gia đình và người thân (nơi có khoảng 56,7% người cao tuổi nương tựa khi ốm đau), hệ thống chính thức gồm Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, và hệ thống vĩ mô gồm các trung tâm điều dưỡng, bệnh viện công lập.

Bên cạnh đó, tác giả chuẩn hóa ba khái niệm công cụ then chốt: Người có công theo quy định tại Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13; Khái niệm Sức khỏe toàn diện theo Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bao gồm sự thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội; cùng chuẩn mực Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Nhân viên Công tác Xã hội Quốc tế (IFSW).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính khái quát. Cỡ mẫu định lượng gồm 60 người có công thuộc đoàn điều dưỡng tỉnh Bắc Ninh, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng trong đợt điều dưỡng từ ngày 20 đến 27 tháng 5 năm 2014. Cỡ mẫu định tính bao gồm 8 cuộc phỏng vấn sâu chuyên đề, phân bổ cho 1 cán bộ quản lý trung tâm, 2 nhân viên chăm sóc y tế và 5 người có công đại diện cho các diện thương tật khác nhau.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp quan sát thực địa về điều kiện cơ sở vật chất trên khuôn viên 7.000 m2 và phương pháp phân tích thứ cấp các văn bản pháp quy như Nghị định số 31/2013/NĐ-CP. Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích nội dung chuyên sâu là nhằm đối sánh khách quan giữa nhu cầu thực tế của thân chủ với năng lực cung ứng dịch vụ của 59 cán bộ, nhân viên trung tâm trong mốc thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích 60 mẫu khảo sát cho thấy cơ cấu người có công tại trung tâm đa dạng: thương binh chiếm 31,7% (19 người), bệnh binh chiếm 23,3% (14 người), thân nhân liệt sĩ chiếm 15,0% (9 người), anh hùng lực lượng vũ trang chiếm 11,7% (7 người), người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc hóa học chiếm 8,3% (5 người), anh hùng lao động chiếm 6,7% (4 người) và cán bộ tù đày chiếm 3,3% (2 người). Về phân bố giới tính, nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 80,0%, trong khi nữ giới chiếm 20,0%.

Về độ tuổi, nhóm từ 60 đến 69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 38,3% (23 người), nhóm 70 đến 79 tuổi chiếm 26,7% (16 người), nhóm 50 đến 59 tuổi chiếm 25,0% (15 người), và nhóm từ 80 tuổi trở lên chỉ chiếm 10,0% (6 người). Về trình độ học vấn, có 38,3% dừng lại ở bậc tiểu học, 23,3% tốt nghiệp trung học cơ sở, 10,0% không biết chữ và chỉ có 1,7% đạt trình độ đại học. Mặc dù trung tâm đón tiếp khoảng 3.793 lượt người mỗi năm (theo số liệu năm 2013) với mức chi điều dưỡng 2.000.000 đồng/người/lần theo Nghị định số 31/2013/NĐ-CP, công tác hỗ trợ tâm lý chuyên sâu và quản lý trường hợp cá nhân vẫn chưa được triển khai đồng bộ.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện về cơ cấu bệnh tật và độ tuổi có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột và bảng tỷ lệ phần trăm, phản ánh quy luật suy giảm thể lực và gánh nặng bệnh mạn tính ở người cao tuổi. Trình độ học vấn tập trung chủ yếu ở bậc tiểu học và trung học cơ sở (tổng cộng chiếm 61,6%) phản ánh hoàn cảnh chiến tranh gian khó của đất nước nhiều thập kỷ trước, điều này tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận thông tin y tế của người có công.

Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại huyện Hoài Ân tỉnh Bình Định (nơi có 36,9% ý kiến phản ánh về sự thiếu hụt nhân lực y tế tận tâm) và nghiên cứu tại tỉnh Bắc Giang (với 48,7% hoạt động chăm sóc phụ thuộc vào gia đình). Nguyên nhân chính của những hạn chế tại trung tâm là do 20 cán bộ thuộc phòng Y tế - Điều dưỡng chủ yếu được đào tạo nghiệp vụ y khoa thông thường, thiếu vắng các kỹ năng tham vấn xã hội, đánh giá tâm lý khủng hoảng và xây dựng kế hoạch can thiệp xã hội chuyên sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho người có công, luận văn đưa ra 4 giải pháp hành động cụ thể:

  1. Nâng cấp hạ tầng và thiết bị vật lý trị liệu trên khuôn viên 7.000 m2. Ban Giám đốc Trung tâm cần chủ trì đầu tư khu phục hồi chức năng chuyên biệt, bảo đảm 100% người có công có nhu cầu được tiếp cận máy móc hỗ trợ vận động hiện đại trong giai đoạn 2015-2017.
  2. Đào tạo chuẩn hóa năng lực công tác xã hội cho đội ngũ nhân viên. Tổ chức các khóa tập huấn về quản lý trường hợp và tư vấn tâm lý cho 20 cán bộ phòng Y tế - Điều dưỡng và 19 cán bộ phòng Quản lý - Nuôi dưỡng, bảo đảm 100% nhân sự hoàn thành chứng chỉ kỹ năng trong vòng 12 tháng.
  3. Đa dạng hóa liệu pháp chăm sóc sức khỏe tinh thần và kết nối mạng lưới sinh thái. Trung tâm cần thiết lập định kỳ tối thiểu 3 hoạt động trị liệu nhóm, giao lưu thơ ca trong mỗi kỳ điều dưỡng 5 ngày, phối hợp chặt chẽ với Đoàn Thanh niên và Hội Cựu chiến binh địa phương.
  4. Tham mưu hoàn thiện chính sách hỗ trợ và cơ chế tài chính. Kiến nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Bộ Tài chính điều chỉnh mức chi điều dưỡng tập trung vượt ngưỡng 2.000.000 đồng/người/lần theo Nghị định số 31/2013/NĐ-CP để khắc phục yếu tố trượt giá và nâng cao chất lượng dinh dưỡng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách an sinh (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội): Sử dụng cứ liệu thực tiễn để rà soát, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi định mức kinh phí và xây dựng khung vị trí việc làm công tác xã hội trong các cơ sở bảo trợ.
  2. Ban lãnh đạo và cán bộ chuyên trách tại các trung tâm điều dưỡng người có công trên toàn quốc: Vận dụng mô hình can thiệp đa chiều nhằm cải tiến quy trình đón tiếp, nâng cao hiệu quả điều dưỡng cho hơn 3.700 lượt người hàng năm.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Y tế công cộng: Tiếp cận bộ số liệu thực chứng N=60 và phương pháp luận ứng dụng thuyết hệ thống sinh thái, thuyết Maslow phục vụ học tập, nghiên cứu chuyên sâu.
  4. Các tổ chức đoàn thể xã hội (Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Đoàn Thanh niên): Tham khảo các giải pháp kết nối mạng lưới trợ giúp sinh thái nhằm xây dựng các chương trình chăm sóc dựa vào cộng đồng cho 80,0% nam giới và 20,0% nữ giới thuộc diện chính sách.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn tập trung khảo sát trên nhóm đối tượng cụ thể nào? Nghiên cứu thực hiện khảo sát trên 60 người có công thuộc đoàn điều dưỡng tỉnh Bắc Ninh năm 2014 tại Hà Nội, trong đó thương binh chiếm 31,7%, bệnh binh chiếm 23,3%, thân nhân liệt sĩ chiếm 15,0%, cùng các thương bệnh binh và nạn nhân chất độc hóa học.

  2. Tại sao cần kết hợp công tác xã hội với chăm sóc y tế cho người có công? Theo định nghĩa của WHO, sức khỏe bao gồm thể chất, tinh thần và xã hội. Người có công với 38,3% ở độ tuổi 60-69 thường mang di chứng thương tật và khủng hoảng tâm lý tuổi già, đòi hỏi nhân viên công tác xã hội tham vấn tâm lý thay vì chỉ điều trị thể chất.

  3. Mức chi hỗ trợ điều dưỡng người có công tại thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu? Căn cứ Điều 53 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP, chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung được quy định là 2.000.000 đồng/người/lần và điều dưỡng tại nhà là 1.000.000 đồng/người/lần, được ngân sách nhà nước chi trả định kỳ.

  4. Nhân viên công tác xã hội đảm nhận những vai trò cốt lõi nào tại trung tâm? Nhân viên thực hiện vai trò trực tiếp gồm thu thập thông tin, đánh giá nhu cầu, quản lý trường hợp; đồng thời đảm nhiệm vai trò gián tiếp như tham vấn tâm lý, hòa giải và kết nối các nguồn lực xã hội trợ giúp đối tượng.

  5. Hạn chế lớn nhất về nguồn nhân lực tại trung tâm nghiên cứu là gì? Trong tổng số 59 cán bộ nhân viên của trung tâm, đội ngũ y tế gồm 20 người chủ yếu có chuyên môn y khoa thuần túy, chưa có cán bộ chuyên trách sở hữu văn bằng công tác xã hội chuyên nghiệp để can thiệp tâm lý chuyên sâu.

Kết luận

  • Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đã đạt độ bao phủ rộng lớn với hơn 96% xã phường làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa và nhiều cơ sở điều dưỡng được xây dựng đồng bộ.
  • Dữ liệu khảo sát trên 60 người có công phản ánh nhu cầu cấp thiết về chăm sóc sức khỏe tinh thần và giao lưu xã hội khi có tới 38,3% đối tượng thuộc độ tuổi 60-69 tuổi.
  • Quy mô khuôn viên 7.000 m2 cùng 59 cán bộ nhân viên tại trung tâm đã thực hiện tốt nhiệm vụ y tế nhưng cần bổ sung quy trình công tác xã hội chuyên sâu.
  • Ứng dụng thuyết hệ thống sinh thái và thuyết Maslow khẳng định tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội trong quản lý trường hợp và kết nối nguồn lực an sinh.
  • Các cơ quan chức năng cần sớm hoàn thiện quy chuẩn chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ công tác xã hội tại các cơ sở điều dưỡng công lập trong giai đoạn 2015-2020.

Luận văn là công trình khoa học có giá trị ứng dụng cao trong lĩnh vực an sinh xã hội. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy tham khảo chi tiết toàn văn đề tài để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn chăm sóc toàn diện cho người có công.