MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2014, tổng dân số Việt Nam là 90,5 triệu người. Trong những năm qua, mức sinh của nước ta đã giảm đáng kể và tuổi thọ trung bình ngày càng tăng do thành công của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự phát triển trong y học cũng như đời sống người dân được cải thiện đã làm thay đổi cơ cấu tuổi dân số theo xu hướng trở nên già hóa. Theo phân loại chuẩn Liên hợp quốc, hiện tượng già hóa có thể được xem xét qua tỷ trọng của nhóm dân số già (thường là từ 65 tuổi trở lên).
Tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đã chiếm tới 7,1%, dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm 10,2%. Dự báo cho thấy già hóa ở nước ta tiếp tục tăng rất nhanh trong thời gian tới và sẽ trở thành vấn đề lớn nếu chúng ta không chuẩn bị trước một hệ thống an sinh xã hội thật tốt dành cho người già. Người cao tuổi có nhiều nhu cầu cơ bản về ãn mặc, ở, đi lại, sức khỏe, học tập, vãn hóa, thông tin giao tiếp, các món ãn tinh thần cần thiết nhất cho độ tuổi này, do vậy cần đảm bảo đúng các tiêu chuẩn cho phép tối thiểu. Tỷ lệ dân số người cao tuổi sống ở thành thị và nông thôn có sự chênh lệch lớn, số lượng người cao tuổi sống ở nông thôn đông hơn ở thành thị.
Do điều kiện phát triển kinh tế nên đời sống người cao tuổi ở nông thôn khó khăn hơn ở thành thị, thiếu các dịch vụ và cơ sở chăm sóc xã hội do vậy việc chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi ở nông thôn còn hạn chế. Theo số liệu thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ, tuổi thọ khỏe mạnh của NCT Việt Nam là 66, xếp thứ 116/172 nước trên thế giới, trong khi tuổi thọ trung bình hiện tại là 74 đứng thứ 58/177 nước, đây là một thách thức không hề nhỏ cho hệ thống chăm sóc, trợ giúp NCT [35]. Xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội là địa phương thường xuyên tổ chức các hoạt động chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò NCT. Theo thống kê đến cuối năm 2016, xã Long Xuyên có tổng số 1.022 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NCT, số NCT nghèo có 83 người, NCT cận nghèo có 102 người, NCT cô đơn có 39 người.
Hầu hết NCT tại xã Long Xuyên hiện đều đang tham gia sinh hoạt các hoạt động cộng đồng do địa phương tổ chức cho NCT như: chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần… Các hoạt động này được địa phương tổ chức thường xuyên và trợ giúp cho đối tượng NCT tham gia khá hiệu quả. Đội ngũ cán bộ xã Long Xuyên tham gia vào hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT rất đông đảo, thuộc nhiều tầng lớp, cơ quan đoàn thể khác nhau như: Hội NCT, Cán bộ chính sách xã hội, Mặt trận tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, cán bộ y tế xã, tình nguyện viên trợ giúp NCT tại cộng đồng… Xã Long Xuyên từ nhiều năm qua luôn phát huy truyền thống tốt đẹp, gia đình và cộng đồng cùng chung tay chăm sóc và phát huy vai trò NCT, các phong trào về NCT thường xuyên được triển khai trong cộng đồng. Cùng với xu hướng già hóa dân số nhanh và nhiều vấn đề nảy sinh từ phía NCT, rất cần có những chính sách và hoạt động chăm sóc, trợ giúp cho đối tượng là NCT hiện đang sinh sống tại cộng đồng, chú trọng tới nhóm NCT thiệt thòi, dễ bị tổn thương tại cộng đồng nhằm bảo đảm những quyền, lợi ích hợp pháp cho NCT, đáp ứng nhu cầu về mọi mặt cho NCT. Hoạt động chăm sóc NCT tại cộng đồng đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của số đông NCT và nguyện vọng của xã hội, có những tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống cho NCT ở nhiều địa phương, trong đó có NCT tại địa bàn nghiên cứu thuộc xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc người cao tuổi (Nghiên cứu tại xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội). Nghiên cứu sẽ cung cấp những cơ sở, luận cứ khoa học quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho NCT, đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên CTXH trong 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động chăm sóc NCT, trợ giúp NCT để hoạt động này diễn ra chuyên nghiệp hơn. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Những nghiên cứu về người cao tuổi và hoạt động chăm sóc người cao tuổi trên thế giới Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về NCT nhằm đề xuất các mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT phù hợp.
Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề NCT được triển khai từ những năm 1980 trở lại đây, như: “Chương trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh tế, xã hội của sự già hóa dân cư” [26], do Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiến hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. ; hay nghiên cứu về “Sự phát triển chính sách địa phương đối phó với sự già hóa dân cư” [13] do Hội đồng châu Á - Thái Bình Dương tiến hành từ năm 1992 đến năm 1994 tại 6 nước, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra được xu hướng già hóa dân số và đề ra những định hướng về mặt chính sách cho vấn đề già hóa dân số. Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly and Who Prerceives Them” [52] (Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe NCT và nhận thức về chúng” của Anntte L. Ives và John A.
Nghiên cứu này được tiến hành từ năm 1993 - 1994 tại Viện Nghiên cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm 5.888 người đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên từ danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: quận Forsyth, quận Sacramento, quận Washington và quận Alleghny. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các rào cản chủ yếu như sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, không 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có bảo hiểm, các rào cản về tâm lý và thể chất khác… Nghiên cứu này không chỉ khái quát thực trạng chăm sóc sức khỏe đối với NCT, những rào cản tác động đến việc NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc riêng ở nước Mỹ. Chúng ta cũng có thể nhận thấy những rào cản này ngay trong xã hội Việt Nam. Những rào cản này sẽ được đề tài quan tâm, chỉ ra hướng khắc phục.Nizamuddin trong Report prepared for the Asian Population Conference - Pacific Fifth [56], Bangkok - Thái Lan (11- 14/12/2002), báo cáo đã đề cập tới vấn đề già hóa dân số và đề xuất những giải pháp cho tình hình già hóa dân số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề quá độ nhân khẩu học đưa đến già hóa dân số, một hậu quả không thể tránh khỏi của giảm sinh nhanh và duy trì cải thiện mức tử vong là già hoá dân số; những tác động về mặt kinh tế - xã hội của già hóa dân số; các chính sách và chương trình, các mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT đã có và sự tham gia của cộng đồng trong việc ứng phó với vấn đề già hóa.
Báo cáo cũng nhấn mạnh vấn đề hỗ trợ của gia đình và vai trò cùng chung sống, bởi tại hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương gia đình vẫn là nền tảng của cơ cấu xã hội, trong đó việc chăm sóc NCT là trách nhiệm đặc biệt của gia đình, gia đình giữ vai trò nền tảng này, nghiên cứu còn nhấn mạnh chức năng cả gia đình tròn chăm sóc NCT. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đô thị hoá, di cư và xu hướng ngày càng tăng của các gia đình hạt nhân, việc thu xếp cùng chung sống với NCT đang ngày càng trở thành vấn đề khó khăn. Để giải quyết xu hướng đang thay đổi này trong cấu trúc gia đình, nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế đã xây dựng nhà ở và các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng cho NCT. Tại Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hóa [21] được tổ chức tại Madrid, Tây Ban Nha (do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc triệu tập) năm 2002, Hội nghị tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra tuyên bố chính trị bao gồm 19 điều, trong đó điều 14 đã khẳng định vai trò của NCT trong đời sống, tầm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan trọng của cộng đồng, các cơ quan và tổ chức trong việc chăm sóc, hỗ trợ NCT; giúp NCT được tiếp cận các quyền bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần; Hội nghị cũng nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có các chính sách và bổ sung chính sách về chăm sóc, điều trị và trợ giúp NCT về mọi mặt.
Hội nghị đã đưa ra những chiến lược hành động cụ thể, thiết thực mang tính toàn cầu trong việc can thiệp, trợ giúp và chăm sóc NCT nói chung, nó sẽ được vận dụng phù hợp vào từng điều kiện cụ thể ở từng quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào tình hình NCT của quốc gia đó. Theo tác giả John J.Macionis trong tác phẩm Sociology (2004) [55], tại Chương Lão hóa và người lớn tuổi cho biết kết quả nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Pháp (INED), thực hiện tại các nước thành viên Châu âu (EU) bao gồm Bồ Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia,… nghiên cứu đã chỉ ra tình hình NCT ở phía nam EU thì thích sống với những người thân trong gia đình. Các nước phía bắc EU thì tình trạng NCT sống tại các trung tâm dưỡng lão đang có xu hướng ngày càng tăng. Cụ thể nghiên cứu đã chỉ ra ở Hà Lan, chỉ có 8% số NCT trên 75 tuổi đã ly hôn, góa bụa, hoặc độc thân sống chung với các thành viên khác trong gia đình, số còn lại sống trong cơ sở xã hội.
Cộng hòa Séc và Bồ Đào Nha có đến 50% NCT sống chung với người thân.