CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm người cao tuổi - Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO), người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên. - Theo pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam (số 23/2000/PL- UBTVQH, ra ngày 28/04/2000) nhận định: "Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội".
- Tại Việt Nam quy định công dân nào 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi. Một số nước độ tuổi về già được quy định khi người đó có cống hiến gì cho xã hội và gia đình hay không. - Hiểu được khái niệm này, giúp giới hạn đối tượng mà bảng hỏi, khảo sát, việc phân tích cần phải hướng tới, là những người trên 60 tuổi. Ngoài ra, xác định được các yếu tố ảnh hưởng (tâm lý, sức khoẻ, sở thích, gia đình…) đến nhu cầu, khả năng tiếp cận các không gian sinh hoạt cộng đồng dành cho người cao tuổi hiện nay.
Khái niệm không gian - Theo triết học Mac-Lenin: không gian chỉ hình thức tồn tại của khách thể vật chất ở vị trí nhất định, kích thước nhất định và ở một khung cảnh nhất định trong tương quan với những khách thể khác. - Mặt khác, theo Gottfried Leibniz (1646-1716) quan niệm không gian là tập hợp các mối quan hệ về nơi, chỗ giữa các vật. - Việc đưa ra khái niệm không gian nhằm tạo tiền đề cho việc thiết kế mô hình không gian sinh hoạt cộng đồng dành cho người cao tuổi trong chung cư. Tạo nên sự hài hòa trong việc liên kết, phối hợp các yếu tố cùng tồn tại trong một không gian.
Khái niệm không gian mở 16 Không gian mở là khoảng trống không sử dụng vào mục đích xây dựng các công trình bất động sản, liền kề với không gian ở trong khu ở với nhiều cấp độ khác nhau trong khu ở, nó kết hợp với một hệ thống đường nội bộ có thiết kế hợp lý tạo ra được một khu vực có tính công cộng ở mọi cấp độ đô thị, từ cấp vùng cho đến cấp khu. Không gian mở được tạo nên thông qua ngôn ngữ biểu hiện của các công trình kiến trúc và cách tổ chức cảnh quan quy hoạch đô thị. Không gian mở đồng thời cũng thể hiện các yếu tố như: con người, các mối quan hệ xã hội, trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, thể chế chính trị của xã hội.2 Khái niệm này được áp dụng trong việc thiết kế một không gian sinh hoạt cộng đồng ngoài trời dành cho người cao tuổi. Thông qua việc kết hợp các yếu tố về vật chất, công trình, con người, cảnh quan theo những tiêu chuẩn nhất định.
Nhằm xây dựng và phát huy được các mối quan hệ giữa người cao tuổi và môi trường sống xung quanh bên trong chung cư. Khái niệm không gian sinh hoạt công cộng Không gian công cộng là không gian phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người. Có hai thể loại không gian công cộng chính: - Không gian "vật thể" ví dụ như quảng trường, đường phố, công viên… - Không gian "phi vật thể" ví dụ như các diễn đàn trên Internet, hay các cuộc đối thoại tranh luận trên báo chí, tivi… Sự hình thành, phát triển, và thay đổi của không gian công cộng phụ thuộc vào sự phát triển và đặc điểm của đời sống công cộng, vốn không giống nhau giữa các nền văn hóa khác nhau và ở các thời điểm khác nhau. Trong không gian công cộng, người sử dụng vừa là người quan sát, lại vừa là người tham gia các hoạt động chung.
Hình thức hay hoạt động của mỗi người trong không gian công cộng thường gây ảnh hưởng tới những người 2 Theo bách khoa tòan thư Wikipedia 17 khác. Vì thế, không gian công cộng được coi là nơi diễn ra các xung đột xã hội cũng như là nơi của các hòa giải xã hội giữa các tổ chức cá nhân.3 Thông qua khái niệm này, sẽ góp phần làm tiền đề, cơ sở cho việc phân biệt các loại không gian, tìm hiểu và xác định được vai trò của không gian sinh hoạt cộng đồng đối với mọi người, đặc biệt đối với người cao tuổi trong bối cảnh đô thị hoá hiện nay 1. Khái niệm chung cư Định nghĩa “chung cư” theo Encyclopedia Britanica 2006: Trong tiếng Anh hiện đại, từ “condominium” (được viết tắt là “condo”), là từ được sử dụng phổ biến để chỉ một công trình chung cư thay thế cho từ “apartment”. Khái niệm “chung cư” (condominium) là một khái niệm cổ đã được người La Mã cổ đại sử dụng từ thế kỷ thứ 6 trước CN, trong tiếng Latin “con” có nghĩa là “của chung” và “dominium” là “quyền sở hữu” hay “sử dụng”.
Ngày nay, condominium là một hình thức quyền sở hữu chứ không phải là hình thức tài sản nguyên vẹn. Theo Điều 70 của Luật Nhà ở 2005: Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân. Nhà chung cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư. - Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm: a) Phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó.
b) Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật. c) Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ, phần diện tích thuộc sở hữu riêng. - Phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm: 3 Theo bách khoa tòan thư Wikipedia 18 a) Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng quy định tại khoản 2 điều này. b) Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, nơi để xe, hệ thống cấp điện, nước, ga, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hoả và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào.
c) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó. Qua việc nắm rõ khái niệm chung cư cũng như xác định các không gian sở hữu chung, riêng để có thể nhận thấy được thực trạng sử dụng, tình hình sử dụng các khoảng không gian dành cho sinh hoạt chung, sự tác động của các nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Từ thực trạng đó, có được cái nhìn tổng thể, nắm rõ quy định nhằm đề ra phương án xây dựng một không gian sinh hoạt cộng đồng dành cho người cao tuổi trong từng trường hợp cụ thể tại chung cư tiến hành nghiên cứu. Phân loại chung cư - Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng.
- Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. - Căn cứ Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản. - Căn cứ vào Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng (QCXDVN 01:2008/BXD) và Tiêu chuẩn thiết kế (TCXDVN 323: 2004). - Căn cứ vào nhu cầu thực tế và góp phần tạo điều kiện để các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có cơ sở phân hạng nhà chung cư 19 khi tham gia giao dịch trên thị trường bất động sản; Bộ Xây dựng hướng dẫn các tiêu chí để phân hạng chất lượng sử dụng nhà chung cư như sau: a) Nhà chung cư hạng 1 (cao cấp) là hạng có chất lượng sử dụng cao nhất; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ hoàn hảo.
b) Nhà chung cư hạng 2 là hạng có chất lượng sử dụng cao; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ tương đối hoàn hảo. c) Nhà chung cư hạng 3 là hạng có chất lượng sử dụng khá cao; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ khá. d) Nhà chung cư hạng 4 là hạng có chất lượng sử dụng trung bình; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc; hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt tiêu chuẩn, đủ điều kiện để đưa vào khai thác sử dụng. e) Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở chung cư hạng 3, thuộc dạng chung cư tái định cư.
Đây cũng là dạng chung cư và loại hình chung cư phổ biến hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh, cũng là đối tượng chung cư mà nhóm nghiên cứu. Khái niệm tổ chức không gian sinh hoạt cộng đồng cho người cao tuổi. “Tổ chức không gian được sử dụng trong đô thị chỉ sự phân bố, sắp đặt các khu dân cư, công sở, nhà máy, cảnh quan môi trường trên tổng bề mặt thành phố và theo ý đồ nhất định.” Bên cạnh đó, tổ chức không gian sinh hoạt cộng đồng cho người cao tuổi nhằm chỉ sự phân bố, sắp đặt các khu vực sao cho phù hợp với cảnh quan, kiến trúc của khu chung cư. Đồng thời đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu về 20 sinh hoạt, cố kết cộng đồng của người cao tuổi.”4 Thông qua đó, thể hiện được sự quan trọng trong việc tạo nên một không gian sinh hoạt cộng đồng dành cho người cao tuổi trong tổng thể sắp xếp và cân bằng trong xây dựng các công trình đô thị.
Ngoài ra, không gian sinh hoạt cộng đồng cần tạo điều kiện, đáp ứng nhu cầu song song với việc cố kết với cộng đồng dân cư.