Nghiên cứu về cách sử dụng thời gian của người cao tuổi tại thành phố Cần Thơ

Luận án tiến sĩ phân tích khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi tại thành phố Cần Thơ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

201
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHUÔN MẪU SỬ DỤNG THỜI GIAN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.2. Khoảng trống và những gợi mở cho nghiên cứu của Luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ KHUÔN MẪU SỬ DỤNG THỜI GIAN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2. Cơ sở thực tiễn

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KHUÔN MẪU SỬ DỤNG THỜI GIAN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

3.1. Cách thức sử dụng thời gian của người cao tuổi (60-75 tuổi) ở thành phố Cần Thơ

3.2. Nhận diện khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi (60-75 tuổi) ở thành phố Cần Thơ

4. CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHUÔN MẪU SỬ DỤNG THỜI GIAN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ KIẾN NGHỊ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.1. Nhóm các yếu tố cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi

4.2. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi ở thành phố Cần Thơ

4.3. Kiến nghị hàm ý chính sách

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu về khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi

Nghiên cứu về khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi (NCT) tại Cần Thơ đã chỉ ra rằng, việc phân tích thời gian không chỉ giúp hiểu rõ hơn về chất lượng cuộc sống của NCT mà còn là cơ sở để xây dựng các chính sách chăm sóc phù hợp. Trong bối cảnh già hóa dân số, việc nghiên cứu này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, NCT càng tham gia vào các hoạt động thư giãn và xã hội thì càng cải thiện được sự hài lòng trong cuộc sống. Điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa thời gian sử dụngsức khỏe của NCT. Theo đó, việc hiểu rõ thói quen sinh hoạt của NCT sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn sâu sắc hơn về nhu cầu và mong muốn của nhóm đối tượng này.

1.1. Khoảng trống và những gợi mở cho nghiên cứu của Luận án

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về NCT, nhưng vẫn còn thiếu sót trong việc phân tích khuôn mẫu sử dụng thời gian của họ. Đặc biệt, các nghiên cứu chưa gắn kết với bối cảnh già hóa dân số tại Cần Thơ. Điều này tạo ra một khoảng trống lớn trong nghiên cứu, cần được lấp đầy để có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả cho việc chăm sóc NCT. Nghiên cứu này không chỉ nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống mà còn cung cấp bằng chứng thực tiễn để xây dựng các chương trình hỗ trợ cho NCT, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

II. Cơ sở lý luận cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Luận án đã xây dựng một cơ sở lý luận vững chắc về khuôn mẫu sử dụng thời gian của NCT, bao gồm các khái niệm và lý thuyết liên quan. Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là khảo sát xã hội học, nhằm thu thập dữ liệu thực tiễn từ NCT tại Cần Thơ. Các yếu tố như tuổi, giới tính, và tình trạng sức khỏe được xem xét để phân tích ảnh hưởng đến thời gian sử dụng của NCT. Kết quả cho thấy, thời gian sử dụng của NCT không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố cá nhân mà còn bị chi phối bởi các yếu tố xã hội như chính sách chăm sócphúc lợi xã hội. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp cho NCT.

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án bao gồm khảo sát định lượng và định tính. Khảo sát định lượng giúp thu thập dữ liệu từ một mẫu lớn NCT, trong khi khảo sát định tính cho phép hiểu sâu hơn về thói quen sinh hoạtsức khỏe của họ. Việc kết hợp hai phương pháp này giúp tạo ra một bức tranh toàn diện về khuôn mẫu sử dụng thời gian của NCT tại Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin hữu ích cho việc xây dựng chính sách mà còn góp phần nâng cao nhận thức về sức khỏechất lượng cuộc sống của NCT.

III. Thực trạng khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi thành phố Cần Thơ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người cao tuổi tại Cần Thơ thường dành phần lớn thời gian cho các hoạt động chăm sóc bản thân và làm việc nhà. Thời gian dành cho các hoạt động thư giãn và tạo ra thu nhập thường bị hạn chế. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình hỗ trợ nhằm khuyến khích NCT tham gia vào các hoạt động xã hội và thư giãn. Các yếu tố như tình trạng sức khỏe, mức sống, và tuổi tác có ảnh hưởng lớn đến thời gian sử dụng của NCT. Việc nhận diện rõ ràng các khuôn mẫu này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn cho việc chăm sóc NCT.

3.1. Cách thức sử dụng thời gian của người cao tuổi 60 75 tuổi ở thành phố Cần Thơ

NCT từ 60-75 tuổi tại Cần Thơ thường có xu hướng dành nhiều thời gian cho các hoạt động chăm sóc bản thân và làm việc nhà. Theo khảo sát, trung bình mỗi ngày, NCT dành khoảng 4-5 giờ cho việc chăm sóc bản thân và 3-4 giờ cho các công việc nhà. Thời gian dành cho các hoạt động thư giãn chỉ chiếm khoảng 1-2 giờ mỗi ngày. Điều này cho thấy, mặc dù NCT có nhiều thời gian rảnh rỗi, nhưng họ vẫn chưa tận dụng hiệu quả thời gian cho các hoạt động thư giãn và xã hội. Việc khuyến khích NCT tham gia vào các hoạt động này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn cải thiện sức khỏe tinh thần của họ.

IV. Các yếu tố ảnh hưởng đến khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi ở thành phố Cần Thơ và kiến nghị hàm ý chính sách

Nghiên cứu đã xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khuôn mẫu sử dụng thời gian của NCT, bao gồm tình trạng sức khỏe, mức sống, và tuổi tác. Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến thời gian dành cho các hoạt động chăm sóc bản thân mà còn đến khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội. Đặc biệt, NCT có sức khỏe tốt thường có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động thư giãn và xã hội. Từ những phát hiện này, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT, bao gồm việc phát triển các chương trình hỗ trợ chăm sóc sức khỏe và tạo ra các không gian vui chơi giải trí cho NCT.

4.1. Nhóm các yếu tố cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi

Các yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, và tình trạng sức khỏe có tác động lớn đến khuôn mẫu sử dụng thời gian của NCT. Ngoài ra, các yếu tố xã hội như chính sách chăm sócphúc lợi xã hội cũng đóng vai trò quan trọng. NCT sống trong môi trường có nhiều hoạt động xã hội thường có xu hướng sử dụng thời gian hiệu quả hơn. Do đó, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT, đồng thời khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động xã hội và thư giãn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHUÔN MẪU SỬ DỤNG THỜI GIAN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến đời sống của người cao tuổi Già hóa dân số là quá trình tất yếu của sự phát triển dân số và là thành tựu phát triển của nhân loại, cho nên không thể loại trừ quá trình này trong tiến trình lịch sử phát triển [28], [52], [68], [72], [102], [158]. Quá trình già hóa dân số toàn cầu đã làm thay đổi tỷ lệ lực lượng lao động, dân số phụ thuộc [151] và tạo ra không ít thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội [31], [22], [24], [145], [158], công tác chăm sóc và các mối quan hệ của NCT [57], [164]. Trong bối cảnh già hóa dân số hiện nay, số lượng NCT tăng nhanh và phải đối diện với nhiều nguy cơ về sức khỏe, thu nhập, việc làm, tinh thần… Các nghiên cứu trước đây đã khẳng định rằng, thu nhập của NCT là một trong những vấn đề đáng quan tâm, bởi đa số người già đều có thu nhập thấp và bấp bênh, trong đó nguồn thu nhập của NCT chủ yếu là từ hỗ trợ của con cháu, hỗ trợ của nhà nước, lương hưu và tự buôn bán/kinh doanh [1-2], [35], [57-58], [67].

Thu nhập của NCT có sự khác biệt giữa nam và nữ, thành thị và nông thôn [1], [56]. Tuy nhiên, tỷ lệ NCT có lương hưu còn rất ít và độ bao phủ hỗ trợ xã hội còn thấp [67]. Trong khi đó, thu nhập của NCT ở các nước OECD chủ yếu là lương hưu [142, tr132]. Để đảm bảo cuộc sống, NCT phải tiếp tục bươn chải để kiếm sống.

Trong khi đó, cơ hội việc làm của họ là một trong những vấn đặt ra hiện nay. Không phải NCT nào cũng có may mắn tìm kiếm được việc làm phù hợp sức khỏe và tuổi tác của họ [58], bởi vì tình trạng định kiến, phân biệt tuổi tác có thể ngăn cản họ ở lại hoặc quay trở lại làm việc [109, tr34]. Đa số NCT tìm kiếm những công việc có thu nhập thấp, bấp bênh [35]. Thông tin việc làm dành cho NCT cũng rất hạn chế và đa số NCT có việc làm chủ yếu dựa mối quan hệ quen biết [35].

Xu hướng sống đơn thân và cô đơn cũng là một hiện tượng xã hội của NCT trong bối cảnh già hóa dân số [62], [124], đặc biệt đối với những NCT mà bạn đời của TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 họ đã mất hoặc những NCT ít bạn bè và giới hạn tương tác với người khác [124]. Katsumi [31] đã phân tích những vấn đề mà xã hội siêu già hóa, ít trẻ em ở Nhật Bản sẽ phải đối mặt từ lý thuyết chuyển đổi dân số, trong đó “xã hội vô cảm”, thiếu sự gắn kết giữa người và người đang là hiện tượng đáng lưu ý. Theo Age UK, có hơn 2,5 triệu người Anh từ 75 tuổi trở lên sống cô đơn và hơn 1 triệu người nói rằng hơn 1 tháng họ không nói chuyện với bạn bè, hàng xóm hoặc thành viên trong gia đình [176]. Phan Thuận [57] cũng đã khắc họa lên đời sống đơn thân của NCT ở ĐBSCL, trong nữ giới cao tuổi đang sống đơn thân cao hơn so với nam giới trong bối cảnh già hóa dân số.

Người cao tuổi có tính độc lập ngày càng cao [62]. Điều này buộc NCT phải tự bương chãi, tự chăm sóc bản thân. Sự cô đơn của NCT có tác động tiêu cực đến đời sống của NCT. Sự cô đơn có liên quan đến bệnh mất trí sức, trầm cảm, giảm chất lượng chất ngủ, giảm hoạt động thể chất [124].

Những người sống cô lập và cô đơn thường gặp nhiều bệnh tật như cao huyết áp, tim mạch, béo phì, hệ thống miễn dịch giảm, phiền muộn, lo âu, giảm trí nhớ, bệnh đãng trí và thậm chí chết [177]. Trong khi đó, những người lạc quan, có sự gắn kết nhiều người khác thì có xu hướng sống lâu hơn, máu huyết lưu thông tốt và có mục đích sống lạc quan hơn. Những hoạt động này giúp cho NCT duy trì sức khỏe, cải thiện nhận thức [177]. Tương tự, một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, hậu quả nghiêm trọng của sự cô đơn trong tuổi già là phiền muộn, tử tự, nghiện rượu.

Những tác động tiêu cực liên quan đến cô đơn cũng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống [75]. Câu hỏi đặt ra rằng, nguyên nhân nào khiến cho NCT cảm thấy cô đơn? Nghiên cứu tổng quan của Adu-bediaka [74] cho thấy, sự cô đơn của NCT liên quan đến vấn đề già hóa dân số. Đó là khi người già thu hẹp mối quan hệ xã hội, hoặc bị mất bạn bè, người thân và thậm chí bạn đời của họ. Mặc dù vậy, chủ đề này chưa vẫn chưa khai thác một cách thỏa đáng về thực trạng cô đơn, đơn thân của NCT, đặc biệt là ở Việt Nam.

Có thể nói, số lượng NCT ngày càng tăng lên trong khi đó nhóm dân số tiềm năng đang có xu hướng giảm một cách nhanh chóng ở các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Điều này đã và đang tác động đến công tác chăm sóc NCT TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 ở các quốc gia có dân số già hoặc già hóa. Câu hỏi đặt ra “làm thế nào để cho NCT có cuộc sống yên vui trong chuỗi ngày cuối đời” đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các nghiên cứu quốc tế và trong nước đã phác họa lên “chân dung” của NCT với nhiều chiều cạnh như thu nhập thấp và bấp bênh, thiếu việc làm, sự cô đơn… Các đặc điểm này đã ảnh hưởng cuộc sống viên mãn của NCT trong những năm tháng cuối đời.

Điều này cũng có nghĩa là chưa thực hiện thành công mục tiêu già hóa tích cực. Vì thế, để giúp cho NCT thoát cảnh cô đơn, tăng sự dẻo dai, giảm tiêu cực trong đời sống cũng như nâng cao chất lượng sống và tăng mức độ hài lòng đối với cuộc sống của NCT thì cần khuyến khích NCT tích cực cân bằng thời gian cho những hoạt động trong đời sống của NCT. Các nghiên cứu về thực trạng khuôn mẫu sử dụng thời gian của người cao tuổi 1. Nhận diện các loại hình hoạt động của người cao tuổi tham gia Hoạt động của NCT trong đời sống hàng ngày là một trong những chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, bởi nó có một ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng sống của NCT.

Mặc dù các nghiên cứu diễn ra ở không gian và thời gian khác nhau nhưng các nghiên cứu này có sự thống nhất rằng, hoạt động hàng ngày của NCT bao gồm các hoạt động như sau: * Hoạt động chăm sóc bản thân Hoạt động chăm sóc bản thân là một trong những hoạt động cần thiết trong KMSDTG của NCT. Theo Zhow Hui-fen và cộng sự [175], hoạt động chăm sóc bản thân là những hoạt động vệ sinh cá nhân, ngủ, ăn uống, chăm sóc sức khỏe. Trước đó, các nghiên cứu của Mckinnon [139], Kent và Stewart [126] cũng cho rằng, hoạt động chăm sóc cá nhân là bao gồm các hoạt động như ngủ, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe, ăn uống, tắm giặt… * Hoạt động làm việc làm nhà Hoạt động làm việc nhà (housework activities) là những hoạt động không được trả lương. Hoạt động làm việc nhà là một phần của đời sống NCT và nó trở thành hoạt động chính của hoạt động sản xuất sau khi nghỉ hưu [132].

Hoạt động TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 này thường bao gồm những hoạt động như chăm sóc con cháu, chăm sóc các thành viên trong gia đình, chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp nhà cửa, làm việc, chăm sóc thú cưng… [72], [128], [139], [175]. * Hoạt động tạo ra thu nhập Hoạt động tạo ra thu nhập là một trong những hoạt động cơ bản của hoạt động lao động của NCT [104-106], [108], [120], [128], [138]. Đó là những hoạt động giúp cho NCT có được thu nhập. Theo Mckinnon [139], hoạt động tạo ra thu nhập bao gồm hoạt động được trả lương, hoạt động tự sản xuất.

Zhow Hui- fen và cộng sự [175], hoạt động tạo ra thu nhập là hoạt động bao gồm những hoạt động làm việc vì lương hoặc lợi ích, tham gia hoạt động đào tạo… * Hoạt động thư giãn Các nghiên cứu trước đây đã chia hoạt động thư giãn theo hai nhóm: thụ động và chủ động. Hoạt động thụ động gồm có: xem tivi hoặc phim, nghe nhạc/đài…; hoạt động chủ động gồm có tham gia các hoạt động tôn giáo, tổ chức xã hội và hoạt động liên quan đến công dân, giao tiếp và hòa nhập xã hội, tham gia vào các hoạt động thư giãn thể chất, sử dụng công nghệ [71],[127]. Trước đó, nghiên cứu của Gautheir và Smeeding [105] về phân tích KMSDTG của nhóm dân số từ 55-64 tuổi tại 6 quốc gia: Australia, Canada, Phần Lan, Ý, Thụy sỹ và Mỹ đã cho thấy, hoạt động trong thời gian rỗi bao gồm những hoạt động thư giãn chủ động và và thư giãn thụ động. Trong khi đó, Verghese và cộng sự [165, tr.2513] thì không phân chia thành thụ động và chủ động mà phân chia hoạt động trong thời gian rỗi gồm có hai loại: (1) Hoạt động thư giãn nhận thức và (2) Hoạt động thể chất.

Một quan niệm khác về hoạt động thư giãn của nhóm tác giả Horgas và cộng sự [120, tr559] không “gọi tên” mà phân tích một cách cụ thể, gồm: đọc sách, xem tivi, hoạt động văn hóa, hoạt động giáo dục, hoạt động thể thao, giải trí, làm việc, đi dạo, du ngoạn, viết lách, chơi game, nghe radio, đi nhà thờ, hoạt động chính trị và hoạt động thư giãn khác. Cùng quan niệm này, Sniadek và Zajadacz [155] cũng TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 13 cho rằng, hoạt động thư giãn của NCT là những hoạt động như đi nhà thờ, đọc sách, chơi thể thao, đi du lịch…. Ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây đã cho rằng các hoạt động trong thời gian rỗi bao gồm đọc sách báo, xem tivi, nghe đài, nói chuyện với bạn bè, đi ăn uống với bạn bè chơi cờ/bài, chơi thể thao, xem phim/ca nhạc, đi đền/chùa/nhà thờ, đi chơi xa [30], [13], [41], [43]. Bế Quỳnh Nga [43] xem tham gia hoạt động chính trị cũng là một dạng hoạt động trong thời gian rỗi của NCT.

Thời gian cho các hoạt động của người cao tuổi Người cao tuổi thường bắt đầu một ngày từ 5-6 giờ và kết thúc từ 20-21 giờ [139], 174]. Quỹ thời gian của cá nhân được chia làm 3 phần cơ bản, đó là thời gian dành cho hoạt động sản xuất, thời gian dành cho sinh hoạt cần thiết và thời gian rỗi [29].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu về cách sử dụng thời gian của người cao tuổi tại thành phố Cần Thơ" của tác giả Phan Thuận, được thực hiện tại Trường Đại Học Cần Thơ vào năm 2021, tập trung vào việc phân tích và đánh giá cách thức mà người cao tuổi tại Cần Thơ sử dụng thời gian trong cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thói quen và hoạt động của người cao tuổi mà còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thời gian của họ, từ đó giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm đối tượng này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tổ chức thời gian và các hoạt động xã hội, từ đó có thể áp dụng vào việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho người cao tuổi.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực công tác xã hội và chăm sóc người cao tuổi, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Dịch vụ Công tác Xã hội cho Người Cao Tuổi tại Bà Rịa - Vũng Tàu: Luận Văn Thạc Sĩ, nơi nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao tuổi, hay Nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi trong công tác xã hội, cung cấp cái nhìn tổng quan về các hoạt động chăm sóc và hỗ trợ cho người cao tuổi. Ngoài ra, bài viết Chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại Việt Nam, từ đó có thể liên hệ với những vấn đề được nêu trong nghiên cứu của Phan Thuận.