Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về chính sách đối với người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam được đặt ra trong bối cảnh quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Các dữ liệu thống kê qua các kỳ Tổng điều tra dân số cho thấy:

  • Năm 1979: Tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 7,07% dân số.
  • Năm 1989: Tỷ lệ này tăng lên 7,2% (tăng khoảng 1,3% so với năm 1979).
  • Giai đoạn 1979–2009 (qua 4 kỳ Tổng điều tra 1979, 1989, 1999, 2009): Tỷ lệ NCT tăng trung bình 0,06%/năm.
  • Giai đoạn 2009–2010 (từ 01/4/2009 đến 01/4/2010): Chỉ trong vòng 1 năm, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8,67% lên 9,4%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 6,4% lên 6,8% (Hà Anh, 2012).
  • Năm 2012 và 2014: Tỷ lệ NCT lần lượt chiếm 10,2% và 10,5% tổng dân số (Ngân Anh, 2015).
  • Dự báo nhân khẩu học: Tỷ lệ NCT dự kiến chiếm 18% vào năm 2020 và đạt 30% vào năm 2030 (Hồng Sơn, 2012), khiến nhu cầu chăm sóc NCT ước tính tăng gấp 20 lần vào năm 2020 và 30 lần vào năm 2030.

Song song với sự gia tăng về số lượng, điều kiện kinh tế và sức khỏe của NCT Việt Nam còn nhiều khó khăn:

  • Về kinh tế: Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, 72,5% NCT sinh sống tại khu vực nông thôn. Chỉ có khoảng 16%–17% NCT có lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động; hơn 10% hưởng trợ cấp người có công với nước (Nguyễn Đình Cừ, 2014). Hơn 70% NCT còn lại phải tự lao động kiếm sống hoặc phụ thuộc vào sự hỗ trợ của con cháu, gia đình.
  • Về sức khỏe: Theo Điều tra quốc gia về NCT năm 2011, có 56% NCT có sức khỏe yếu và rất yếu; bình quân mỗi người mắc 2,7 bệnh (Nguyễn Đình Cừ, 2014). Nghiên cứu của Đình Nam (2017) chỉ ra tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73 tuổi, nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ đạt 64 năm.

Mặc dù hệ thống pháp luật và chính sách đã từng bước được xây dựng với việc ban hành Luật Người cao tuổi năm 2009 (có hiệu lực từ năm 2010), Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012–2020, Chương trình mắt sáng cho người cao tuổi, chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng,... thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Nhiều NCT chưa được khám sức khỏe định kỳ, chưa có sổ theo dõi sức khỏe thường xuyên, chưa được ưu tiên khám chữa bệnh hoặc giảm giá vé tham quan theo quy định. Khả năng tiếp cận phúc lợi của NCT khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là tìm hiểu thực trạng chính sách đối với NCT ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đối với NCT. Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chính sách đối với NCT.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách đối với NCT.
  3. Phân tích thực trạng chính sách đối với NCT ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
  4. Xác định phương hướng, mục tiêu, quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách đối với NCT.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu chung: Cần có giải pháp nào để chính sách đối với người cao tuổi đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay?
  • Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
    • Câu hỏi 1: Chính sách đối với người cao tuổi hiện nay đã đáp ứng được mong đợi của người cao tuổi hay chưa?
    • Câu hỏi 2: Chính sách đối với người cao tuổi hiện nay đã được hoàn chỉnh về mặt nội dung hay chưa?
  • Các giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết 1: Chính sách đối với người cao tuổi chưa đáp ứng được mong đợi của người cao tuổi.
    • Giả thuyết 2: Chính sách đối với người cao tuổi hiện nay còn nhiều hạn chế về nội dung.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối với NCT ở Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án tập trung vào 2 nội dung chính gồm (1) Mức độ đáp ứng mong đợi của chính sách đối với NCT ở Việt Nam và (2) Thực trạng nội dung của chính sách đối với NCT hiện nay ở Việt Nam.
    • Về không gian: Nghiên cứu khảo sát thực tế tại 8 tỉnh, thành phố đại diện gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Thành phố Hồ Chí Minh và Cà Mau.
    • Về thời gian: Khảo sát quá trình phát triển chính sách từ sau năm 1945 đến nay; số liệu điều tra thực địa được thu thập vào năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm chủ đề trong và ngoài nước:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Chính sách đối với NCT tại các quốc gia: Paul và Sheila (2013) nghiên cứu khu vực Tây Phi, chỉ ra tình trạng thiệt thòi của NCT nông thôn, phần đông là nữ giới, học vấn thấp, thiếu thu nhập ổn định và kiến nghị mức thu nhập cơ bản cho người từ 60 tuổi trở lên. Narknisorn và Kusakabe (2013) phân tích chính sách NCT tại Thái Lan theo quy trình từ trên xuống, chỉ rõ sự thiếu tương thích với cấu trúc gia đình và nhu cầu thực tế. Ilmakunnas và Takala (2005) khảo sát vấn đề việc làm của NCT ở Phần Lan trước áp lực của chế độ nghỉ hưu sớm và lao động nhập cư. Vaughan (1998) nghiên cứu mô hình phúc lợi 3 cấp độ tại Ireland (phúc lợi xã hội nhà nước, trợ cấp nghề nghiệp do chủ sử dụng lao động đóng góp, và các hỗ trợ xã hội khác), khẳng định vai trò trụ cột của cấp độ 1. Zhuqing (2012) phân tích thực trạng thiếu hụt an sinh tại Trung Quốc và đề xuất 8 nhóm giải pháp (mở rộng trợ cấp tối thiểu, luật chống bạo hành, bảo hiểm y tế cơ bản, giải quyết việc làm, phát huy vai trò hiệp hội NCT, giáo dục suốt đời, đa dạng hóa kênh chăm sóc, chống phân biệt đối xử).
  • Tâm lý và nhân phẩm của NCT: Agich (2010) tiếp cận chính sách từ góc độ nhân phẩm. Tadd và Bayer (2006) nghiên cứu nhân phẩm trong chăm sóc y tế tại châu Âu, đề xuất đưa các yếu tố giao tiếp, quyền riêng tư, tính tổn thương vào chương trình đào tạo nhân lực chăm sóc. Stratton và Tadd (2005) khảo sát nhận thức xã hội tại Anh, Ireland, Tây Ban Nha, Pháp, Slovakia và Thụy Sỹ về định kiến coi NCT là gánh nặng và gánh nặng chăm sóc đè nặng lên phụ nữ trong gia đình.

Các nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu mô tả đặc điểm và vai trò của NCT: Bế Quỳnh Nga (2005) tiếp cận đặc điểm sinh học và tâm lý; Cục Bảo trợ xã hội (2012) hệ thống hóa đặc điểm bệnh lý lão khoa, diễn biến tâm lý và phân chia NCT thành 4 giai đoạn lứa tuổi (60–69 tuổi, 70–79 tuổi, 80–90 tuổi, trên 90 tuổi) cùng các vai trò xã hội; Lê Văn Khảm (2014) khái quát thực trạng thu nhập, biến đổi gia đình và nguy cơ sức khỏe của NCT.
  • Chất lượng sống và nhu cầu chăm sóc: Lindholm và cộng sự (2011) khảo sát nhu cầu chăm sóc hàng ngày của NCT nông thôn theo 3 mức độ (cơ bản, sinh hoạt, tư duy), phân tích tương quan nghịch giữa học vấn, hôn nhân, vùng miền với nhu cầu hỗ trợ; Ninh Thị Hà và cộng sự (2014) sử dụng kiểm định T-test và ANOVA khảo sát 275 NCT bị tăng huyết áp tại nông thôn; Lê Văn Hợi và cộng sự (2012) phân tích mức độ sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng.
  • NCT trong quan hệ gia đình: Bế Quỳnh Nga (2015) phân tích xu hướng tách hộ ở nông thôn khiến NCT tìm kiếm hỗ trợ từ các thiết chế đoàn thể, hội nhóm; Bùi Nghĩa (2007) phỏng vấn sâu 48 đối tượng tại quận Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) về sự chuyển đổi vai trò chăm sóc của gia đình đối với NCT.
  • Chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội: Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Thị Sánh (2014) nghiên cứu chứng trầm cảm của NCT tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Đà Nẵng; Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội khảo sát nhu cầu giao tiếp, tình cảm tại Trung tâm Bảo trợ xã hội IV (Ba Vì, Hà Nội); Nguyễn Phương Lan (2000) tiếp cận văn hóa và phân loại 3 hình thức giao tiếp (với tự nhiên, với lực lượng siêu nhiên, với con người); Ngô Ngọc Mị và cộng sự (2014) khảo sát nhu cầu tinh thần tại Chùa Lâm Quang và Nhà dưỡng lão Tân Thông Hội (Thành phố Hồ Chí Minh); Lê Thị Hồng Phúc và cộng sự (2014) nghiên cứu nhu cầu tư vấn miễn phí cho NCT.
  • Chính sách đối với NCT: Nguyễn Hữu Dương (1999) nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách NCT giai đoạn trước và sau Độc lập; Nguyễn Văn Đồng (2017) đánh giá 8 năm thi hành Luật Người cao tuổi; Trịnh Duy Luân (2016) cùng Trịnh Duy Luân và Trần Thị Minh Thi (2017) phân tích vai trò của 4 chủ thể (Nhà nước, gia đình, cộng đồng, thị trường) trong cung ứng dịch vụ chăm sóc; Đàm Viết Cường và cộng sự (2007) khảo sát triển khai Pháp lệnh Người cao tuổi trong lĩnh vực y tế; Hoàng Mộc Lan (2011) tiếp cận nhu cầu đời sống tinh thần và việc làm; Nguyễn Xuân Thanh và Lindholm (2012) đánh giá tác động của Quỹ Chăm sóc sức khỏe người nghèo đối với NCT nghèo qua các năm 2001, 2003, 2005, 2007; Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (2005–2006) khảo sát các mô hình trung tâm ban ngày, cơ sở nuôi dưỡng tập trung; Lê Ngọc Lân (2010) nghiên cứu các vấn đề cơ bản của NCT giai đoạn 2011–2020; Giang Thanh Long (2013) phân tích tính bền vững của bảo trợ xã hội và chính sách hưu trí.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Từ việc tổng thuật tài liệu, luận án chỉ ra 4 khoảng trống tri thức:

  1. Thiếu vắng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về chính sách đối với NCT (khái niệm, các yếu tố cấu thành gồm mục tiêu, nội dung, công cụ; các yếu tố tác động; và quy trình chính sách 3 giai đoạn: hoạch định, thực thi, đánh giá).
  2. Chưa có công trình tái hiện một cách hệ thống tiến trình lịch sử hình thành và phát triển chính sách đối với NCT tại Việt Nam từ sau năm 1945 đến nay.
  3. Chưa có nghiên cứu phân tích toàn diện nội dung khái quát và mục tiêu chính sách đối với NCT ở giai đoạn hiện nay.
  4. Thiếu công trình đánh giá thực chứng thực trạng chính sách đối với NCT dựa trên một khung phân tích cụ thể (kết hợp 3 trụ cột: trợ cấp xã hội, chăm sóc sức khỏe, chăm lo đời sống) gắn liền với mức độ đáp ứng nhu cầu của người thụ hưởng và mức độ hoàn thiện về nội dung văn bản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Khái niệm người cao tuổi: Luận án tổng hợp các định nghĩa từ WHO (từ 70 tuổi trở lên), Zhuqing (2012), Tadd và Bayer (2006), Pháp lệnh Người cao tuổi và Luật Người cao tuổi năm 2009 (từ 60 tuổi trở lên). Tác giả xác định: Người cao tuổi tại Việt Nam là nhóm dân số từ đủ 60 tuổi trở lên, có sự biến đổi về thể chất, tâm lý và tinh thần.
  • Lý thuyết cộng đồng chính sách (Policy Community Theory): Dựa trên nghiên cứu của Homeshaw (1995), Pross (1992), Bell (1992), Wilks và Wright (2004), Atkinson và Coleman (1993), Sapru (2004) và Ngô Hoài Sơn (2012). Theo Sapru (2004), cộng đồng chính sách bao gồm 4 nhóm chủ thể: (1) Các cá nhân trong xã hội, (2) Giới truyền thông, (3) Các nhóm lợi ích/nhóm áp lực, và (4) Đảng chính trị. Luận án sử dụng lý thuyết này để phân tích sự tương tác giữa các bên liên quan, vị thế của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và bản thân NCT trong việc hoạch định và thực thi chính sách.
  • Lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng (Evidence-Based Policy Theory): Bắt nguồn từ đề xuất của Archibald Cochrane trong y khoa (tác phẩm Effectiveness and Efficiency: Random Reflections on Health Services), sự ủng hộ của Văn phòng Đánh giá Công nghệ Mỹ (1984), cùng các nghiên cứu của Martinson (1980), Hovland (2005), Bullock, Mountford và Stanley (2001), Davies (2004), Ehrenberg (1999), Hornby và Perera (2002). Luận án vận dụng lý thuyết nhằm xem xét mức độ sử dụng dữ liệu, bằng chứng thực nghiệm trong quy trình ban hành chính sách NCT tại Việt Nam.
  • Khái niệm chính sách công: Vận dụng định nghĩa của Thomas (1985) coi chính sách công là những việc Chính phủ lựa chọn làm hoặc không làm, kết hợp với các cách tiếp cận của Ngô Hoài Sơn (2012).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm toàn diện và nguyên lý về sự phát triển; kết hợp phương pháp tiếp cận liên ngành (chính sách công, khoa học quản lý nhà nước, luật học, xã hội học và văn hóa học).

Các phương pháp thu thập và xử lý thông tin cụ thể gồm:

  1. Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn 40 NCT (nhận hỗ trợ theo Luật Người cao tuổi) tại 8 địa phương. Phân bổ: 5 người/địa phương; cơ cấu gồm 20 nam, 20 nữ; 50% sinh sống tại đô thị, 50% sinh sống tại nông thôn. Dữ liệu phỏng vấn được tổng hợp và phân tích định tính bằng phần mềm Microsoft Excel nhằm phục vụ luận giải Giả thuyết 1.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thực hiện với 2 nhóm khách thể:
    • Nhóm 1 - Người cao tuổi: Phát ra 500 phiếu, thu về 490 phiếu, số phiếu hợp lệ là 485 phiếu. Cơ cấu mẫu: Thành phố Hồ Chí Minh (80 phiếu), 7 tỉnh còn lại (Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Cà Mau) mỗi nơi 60 phiếu; bảo đảm tỷ lệ 50% nam/50% nữ và 50% nông thôn/50% thành thị. Mục đích nhằm kiểm định Giả thuyết 1.
    • Nhóm 2 - Cán bộ, công chức Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (phụ trách mảng xã hội): Phát ra 30 phiếu, thu về 30 phiếu, số phiếu hợp lệ là 30 phiếu. Cơ cấu: 5 tỉnh (Cà Mau, Tiền Giang, Bình Định, Quảng Ngãi, Ninh Bình) mỗi sở 3 cán bộ (15 phiếu); 3 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) mỗi sở 5 cán bộ (15 phiếu). Mục đích nhằm kiểm định Giả thuyết 2.
  3. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập và phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê, các chương trình hành động quốc gia và dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu đã công bố.
Phương pháp thu thập Đối tượng khảo sát Địa bàn thực hiện (8 tỉnh/thành phố) Quy mô phát ra Số lượng hợp lệ Mục đích kiểm định
Phỏng vấn sâu Người cao tuổi thụ hưởng chính sách Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, TP.HCM, Cà Mau 40 người (5 người/tỉnh) 40 mẫu (20 nam, 20 nữ; 50% nông thôn, 50% đô thị) Giả thuyết 1
Khảo sát bảng hỏi (Nhóm 1) Người cao tuổi TP.HCM (80 phiếu), 7 tỉnh/thành còn lại (60 phiếu/tỉnh) 500 phiếu 485 phiếu (Tỷ lệ thu hồi: 490/500) Giả thuyết 1
Khảo sát bảng hỏi (Nhóm 2) Cán bộ Sở LĐ-TB&XH 3 TP trực thuộc TW (5 phiếu/Sở), 5 tỉnh (3 phiếu/Sở) 30 phiếu 30 phiếu (Tỷ lệ thu hồi: 30/30) Giả thuyết 2
Tài liệu thứ cấp Văn bản pháp quy, báo cáo, dữ liệu dân số Toàn quốc và quốc tế — Các báo cáo thống kê, luật, nghị định Toàn bộ các chương

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

  • Phân tích, tổng thuật có hệ thống các nghiên cứu về chính sách NCT tại nước ngoài (chính sách trợ cấp, mô hình phúc lợi, việc làm, nhân phẩm, quyền của NCT) và trong nước (đặc điểm sinh học - tâm lý, chất lượng sống, quan hệ gia đình, mô hình bảo trợ tập trung, đánh giá hệ thống văn bản pháp luật).
  • Chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu về mặt lý luận quy trình chính sách, diễn trình lịch sử chính sách từ 1945 và yêu cầu đánh giá thực chứng mức độ thỏa mãn nhu cầu của NCT đối với các chính sách hiện hành.

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

  • Trình bày các khái niệm cơ bản về NCT, đặc điểm sinh học và tâm lý theo 4 nhóm tuổi (60–69, 70–79, 80–90, trên 90 tuổi).
  • Phân tích vai trò của NCT đối với gia đình (truyền giữ giá trị truyền thống, lao động tạo thu nhập, hỗ trợ con cháu), kinh tế (các tấm gương lao động, nghiên cứu khoa học như GS. Trần Văn Khê, GS. Đặng Vũ Khiêu; làm kinh tế trang trại, làm đèn lồng Hội An, hơn 1.000 NCT tham gia công tác xã hội cơ sở, giữ cột mốc biên giới như cụ Khiêu Khiêm, phong trào Nghìn việc tốt của NGND. Nguyễn Đức Thìn) và trong sự nghiệp cách mạng bảo vệ Tổ quốc (từ Lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 6/1941, diệt giặc đói, diệt giặc dốt đến kháng chiến kiến quốc).
  • Phân tích khái niệm chính sách công (Thomas, 1985; Ngô Hoài Sơn, 2012) và làm rõ 2 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết cộng đồng chính sách và Lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng.
  • Xác lập khung phân tích thực trạng chính sách đối với NCT gồm các tiêu chí đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu và mức độ hoàn thiện về nội dung của chính sách.

Chương 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

  • Khái quát tiến trình lịch sử phát triển chính sách đối với NCT từ sau năm 1945 qua các giai đoạn phát triển của đất nước.
  • Phân tích nội dung cơ bản của chính sách hiện hành đối với NCT theo hệ thống văn bản pháp lý.
  • Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với NCT thông qua kết quả khảo sát 485 NCT và 30 cán bộ chuyên trách tại 8 tỉnh, thành phố đại diện, thể hiện qua các bảng biểu khảo sát:
    • Mức trợ cấp xã hội hàng tháng đối với NCT.
    • Hiểu biết của NCT về các chính sách dành cho mình.
    • Mức độ đáp ứng của chính sách trợ cấp xã hội đối với đời sống NCT.
    • Đánh giá của NCT về chính sách chăm sóc sức khỏe ban đầu.
    • Đánh giá về hoạt động khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế.
    • Mức độ tiếp cận thông tin, điều kiện an toàn tài chính và thu nhập.
    • Khảo sát công tác chăm sóc tại các trung tâm bảo trợ, viện dưỡng lão.
    • Khảo sát vấn đề di chuyển, an toàn thân thể, khả năng hòa nhập, đóng góp cho cộng đồng và khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ của Chính phủ.
  • Phân tích các nguyên nhân của hạn chế, bất cập: nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp; cơ chế chính sách chưa theo kịp nhu cầu thực tế hoặc gây rào cản cho sự tham gia của khu vực tư nhân; sự chuyển dịch văn hóa và cấu trúc gia đình làm suy giảm chức năng chăm sóc truyền thống của gia đình.

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

  • Xác định phương hướng hoàn thiện chính sách đối với NCT trong bối cảnh già hóa dân số nhanh và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đối với NCT, tập trung vào: hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng thực nghiệm; nâng cao vai trò của cộng đồng chính sách và phát huy tiếng nói của NCT; điều chỉnh mức trợ cấp xã hội và mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm y tế; phát triển các mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cơ sở và khuyến khích xã hội hóa các cơ sở chăm sóc NCT.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Tổng kết có hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước về chính sách đối với NCT, phân định các hướng tiếp cận và làm rõ các khoảng trống nghiên cứu.
  • Tái hiện bức tranh tổng quát về quá trình lịch sử phát triển chính sách đối với NCT ở Việt Nam từ sau năm 1945 đến nay.
  • Đóng góp vào lý thuyết chính sách công thông qua việc xây dựng khung lý thuyết phân tích thực trạng chính sách đối với NCT (kết hợp lý thuyết cộng đồng chính sách và lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam).

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng thu thập năm 2017 tại 8 tỉnh, thành phố về mức độ tiếp cận và sự hài lòng của NCT đối với các nhóm chính sách: trợ cấp xã hội, chăm sóc y tế - bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu và hòa nhập xã hội.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tế cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi, chính quyền địa phương) trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ rào cản cơ chế, mở rộng sự tham gia của các chủ thể công - tư vào công tác chăm sóc và phát huy vai trò của NCT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực địa được giới hạn tại 8 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau), chưa bao quát toàn bộ 63 tỉnh, thành phố của cả nước.
    • Dữ liệu khảo sát thực chứng được thu thập tại thời điểm năm 2017.
    • Nội dung tập trung chủ yếu vào 2 khía cạnh: mức độ đáp ứng mong đợi của người thụ hưởng và thực trạng nội dung văn bản chính sách, chưa đi sâu vào các khía cạnh kinh tế kỹ thuật của quỹ bảo hiểm dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát định lượng trên quy mô toàn quốc, đặc biệt tại các vùng đặc thù (khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên).
    • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế tài chính, mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển hệ thống viện dưỡng lão và trung tâm chăm sóc ban ngày cho NCT.
    • Đánh giá tác động dài hạn của các chính sách an sinh xã hội đối với nhóm NCT dễ bị tổn thương (phụ nữ cao tuổi, NCT sống đơn thân tại nông thôn).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo trong các lĩnh vực:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp khung phân tích và dữ liệu thực chứng phục vụ công tác rà soát, đánh giá hiệu quả thi hành Luật Người cao tuổi, thiết kế các chương trình mục tiêu quốc gia về an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe NCT.
  • Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp liên ngành, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu hỗn hợp (phỏng vấn sâu kết hợp điều tra xã hội học) trong nghiên cứu chính sách công.
  • Đối với cơ sở đào tạo đại học và sau đại học: Đóng vai trò là tài liệu giảng dạy, học tập cho các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công, Công tác xã hội và Xã hội học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định độ tuổi của người cao tuổi theo tiêu chí nào?

Luận án căn cứ vào bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, số năm sống khỏe mạnh bình quân (64 năm theo Đình Nam, 2017) và quy định pháp lý (Pháp lệnh Người cao tuổi, Luật Người cao tuổi năm 2009) để xác định người cao tuổi là công dân từ đủ 60 tuổi trở lên, thay vì sử dụng mốc 70 tuổi trở lên theo định nghĩa của WHO dành cho các nước phát triển.

2. Mẫu khảo sát định lượng của luận án được phân bổ như thế nào?

Khảo sát định lượng được thực hiện trên 2 nhóm:

  • Nhóm NCT: Phát ra 500 phiếu, thu về 490 phiếu, 485 phiếu hợp lệ tại 8 địa phương (Thành phố Hồ Chí Minh 80 phiếu; Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Cà Mau mỗi nơi 60 phiếu; đảm bảo 50% nam/50% nữ và 50% nông thôn/50% thành thị).
  • Nhóm cán bộ Sở LĐ-TB&XH: 30 phiếu hợp lệ tại 8 địa phương (5 tỉnh mỗi nơi 3 cán bộ; 3 thành phố trực thuộc Trung ương mỗi nơi 5 cán bộ).

3. Hai lý thuyết chính sách nền tảng được tác giả vận dụng là gì?

Tác giả sử dụng:

  1. Lý thuyết cộng đồng chính sách (Homeshaw, 1995; Sapru, 2004; Ngô Hoài Sơn, 2012) gồm 4 nhóm chủ thể: cá nhân xã hội, truyền thông, nhóm lợi ích, đảng chính trị.
  2. Lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng (Archibald Cochrane, 1980s; Martinson, 1980; Davies, 2004) nhằm đánh giá mức độ sử dụng số liệu thực tế trong hoạch định chính sách.

4. Tác giả dẫn chứng những số liệu thực trạng nào về kinh tế và sức khỏe của NCT Việt Nam?

  • Về kinh tế: 72,5% NCT sống ở nông thôn (Tổng điều tra 2009); chỉ 16%–17% có lương hưu/trợ cấp mất sức, hơn 10% hưởng trợ cấp người có công; hơn 70% sống dựa vào lao động bản thân hoặc con cháu (Nguyễn Đình Cừ, 2014).
  • Về sức khỏe: 56% NCT có sức khỏe yếu và rất yếu, trung bình mắc 2,7 bệnh/người (Điều tra quốc gia 2011; Nguyễn Đình Cừ, 2014).

5. Những nguyên nhân chủ yếu của bất cập chính sách được luận án chỉ ra là gì?

Luận án chỉ ra 3 nhóm nguyên nhân: ngân sách nhà nước dành cho an sinh xã hội còn hạn hẹp; cơ chế chính sách chưa phản ánh sát nhu cầu xã hội và còn rào cản đối với khu vực tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ chăm sóc; sự biến đổi văn hóa và cấu trúc gia đình làm suy giảm chức năng chăm sóc truyền thống của gia đình đối với NCT.


Kết luận

Luận án tiến sĩ về chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay là công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Chính sách công, giải quyết vấn đề chăm sóc và bảo đảm an sinh xã hội cho NCT trước thách thức già hóa dân số. Bằng việc kết hợp phương pháp luận Mác - Lênin, tiếp cận đa ngành cùng hai lý thuyết nền tảng là lý thuyết cộng đồng chính sách và lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng, tác giả đã đánh giá toàn diện thực trạng chính sách trên cả phương diện nội dung văn bản và mức độ đáp ứng mong đợi của người thụ hưởng qua khảo sát thực tế tại 8 tỉnh, thành phố. Kết quả nghiên cứu làm rõ các bất cập về mức trợ cấp, y tế, dịch vụ chăm sóc cơ sở, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp có giá trị khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện chính sách an sinh cho người cao tuổi tại Việt Nam.