Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ người cao tudi Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân và tiến trình công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ cho người cao tuổi tại xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, Tp.Hà Nội 19 CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TAC XÃ HOI CÁ NHÂN TRONG HO TRỢ NGƯỜI CAO TUOI 1. Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Công tác xã hội Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ dé giúp họ thực hiện chức năng xã hội va tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5).
CTXH tôn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc song (Zastrow, 1999). [37] Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đây sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
[36] Theo tác giả Nguyễn Hồi Loan (Giáo trình công tác xã hội, 2012) công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên trên cœsở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết vấn đề của họ trong cuộc sống, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. [13] Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai ( Giáo trình nhập môn công tác xã hội, 2012) Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhăm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộsng đông nâng cao năng lực đáp ứng 20 nhu cau va tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc day môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình va cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đàm bào an sinh xã hội. [21] Từ những khái niệm bao quát về công tác xã hội trên, dé giúp làm sáng tỏ mục đích và yêu cầu của đề tài tác giả đã dựa trên khái niệm về công tác xã hội của tác giả Bùi Thị Xuân Mai trong giáo trình nhập môn công tác xã hội, 2012. [21] Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp bởi bản thân công tác xã hội là một ngành khoa học độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận và phương pháp nghiên cứu riêng.
Cùng với đó là các kỹ năng, kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp dé nhân viên công tác xã hội lay đó như môt công cụ, một kim chỉ nam dé thực hành nghề. Khái niệm người cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng.
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuôi trở lên”. Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên. Một số nước phát trién như Đức, Hoa Kỳ.
lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuôi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuôi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thông y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biêu hiện của tuôi già thường đên 21 muộn hơn.
Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau. Theo quan điểm của Công tác xã hội: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động — thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, van dé trong cuộc sống. Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thé, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã [3]. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm về NCT được quy định tại Điều 2, Chương I, Luật Người cao tuôi (2009): Người cao tuổi là tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên [1] , dé vận dụng vào đề tài nghiên cứu.
Khái niệm nhân viên công tác xã hội Nhân viên xã hội bán chuyên nghiệp có thé hiểu họ là những người tham gia các hoạt động xã hội, đảm nhiệm những vai trò can thiệp - trợ giúp các đối tượng. Tuy nhiên, họ không được đảo tạo một cách chính quy, bài bản về chuyên môn nghiệp vụ ngành CTXH, trích quan điểm về nhân viên xã hội của tác giả Nguyễn Tiệp trong tài liệu Nhu cầu sử dụng và đào tạo nhân lực CTXH của Việt Nam ở kỷ yếu Hội thảo phát triển nghề CTXH tại Việt Nam (2009) [32]: Rat nhiều người ở cấp xã được gọi là những nhân viên xã hội cơ sở. Họ làm việc trực tiếp với các cả nhân, gia đình nhưng họ không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo rất ít thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn. Những nhân viên xã hội nay được coi nhu là ban chuyên nghiệp trong vai tro của mình, nên tảng kiến thức và kỹ năng của họ vẫn ở dưới mức cân thiết để thừa nhận vai trò chuyên nghiệp.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng quan điểm này dé phân tích vai trò của nhân viên xã hội (cán bộ và nhân viên, tình nguyện viên đang tham gia các hoạt động chăm sóc NCT trên địa bàn nghiên cứu), trên cơ sở đó dé đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên CTXH trong chăm sóc NCT tại địa bàn nghiên cứu. Nhân viên công tác xã hội theo quan điểm tác giả Zastrow (1996): Nhân 22 viên CTXH là người được đào tạo công tác xã hội, sử dụng kiến thức hay kỹ năng dé cung cap các dịch vu xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, hay xã hội, nhân viên xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết van dé và giúp đỡ họ tìm kiếm được các nguồn trợ giúp can thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với moi trường xung quanh họ, làm cho các tổ chức có trách nhiệm với con người và tác động đến các chính sách xã hội. Con theo tác giả Lê Văn Phú (2008) trong tài liệu Nhập môn công tác xã hội thì [34]: Nhân viên công tác xã hội là những người có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức, vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm tối ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phan tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội. Trong nghiên cứu này tác giả vận dụng cách hiểu và quan điểm về nhân viên công tác xã hội của hai tác giả nêu trên, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thực hiện vai trò của nhân viên xã hội, để đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên CTXH trong hoạt động trợ giúp NCT tại xã Trach Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
Khái niệm hỗ trợ Theo từ điển tiếng Việt thì hỗ trợ là: Giúp đỡ nhau, giúp thêm vào: hỗ trợ bạn bè, hỗ trợ cho đồng đội kịp thời. Hỗ trợ về khía cạnh xã hội là sự tương trợ giữa người với người, những người biết hỗ trợ cho những người chưa biết. Kẻ mạnh có thé hỗ trợ cho những kẻ yếu thé dé tạo ra mối quan hệ tốt đẹp cùng phát triển, tiến tới xã hội văn minh hơn Hỗ trợ về khía cạnh kinh tế là người có tiền sẽ hỗ trợ cho người không có tiền, người có tiềm lực kinh tế hỗ trợ cho người có trí tuệ để cùng nhau phát triển phục vụ mục tiêu chung Do vậy theo tác giả nghiên cứu có thé hiểu hỗ trợ một cách ngắn gọn là hỗ trợ 23 là giúp đỡ nhau cùng phát triển vì một mục tiêu chung của hai bên hoặc toàn xã hội. Khái niệm công tác xã hội cá nhân Tác giả Lê Chí An (2006) trình bày một khái niệm bao quát từ trọng tâm của phương pháp khoa học đến những kỹ năng công cụ được sử dụng trong công tác xã hội cá nhân dé giúp thân chủ có những thay đổi “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ con người giải quyết các van dé khó khăn.
Nó mang tính đặc thù, khoa học nghệ thuật.Nó giúp các cá nhân có những van dé riêng tư cũng như những van dé bên ngoài và van đề môi trường. Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ đề khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết các vấn đề Lang nghe, quan sát, van đàm, vãng gia và đánh giá là những công cụ chủ yếu của công tác xã hội cá nhân. Nhờ tính năng động của mối quan hệ trong công tác xã hội cá nhân thân chủ thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình” Có nhiều học giả, nhà khoa học trong nước và nước ngoài đưa ra nhiều khái niệm và định nghĩa về công tác xã hội cá nhân [2]. Trong luận văn này, khái niệm công tác xã hội cá nhân được khái quát từ nhiều khái niệm khác nhau: công tác xã hội cá nhân là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình.