Chương 1 TỔNG QUAN 1. Già hóa dân số tại châu Á và ở Việt Nam 1. Già hóa dân số ở châu Á Hầu hết các nước châu Á đều đã bước vào giai đoạn già hóa dân số. Theo công bố của United Nations, tỷ lệ người cao tuổi tại châu Á có thể đạt 24% vào năm 2050, gấp đôi so với năm 2012.
Và châu Á trở thành khu vực già nhất thế giới với 62% người cao tuổi trên toàn khu vực. Năm 2013, 15 – 20% dân số Hồng Kông, Hàn Quốc và Nhật Bản và khoảng 30% dân số Nhật Bản là từ 60 tuổi trở lên. Tới năm 2050, ở tất cả các nước đang phát triển khoảng 40% dân số của họ sẽ ở độ tuổi 60 trở lên. Ở Indonesia, Malaysia, Philipines, khoảng 8% dân số là người cao tuổi và dự đoán sẽ tăng gấp 3 lần trong 40 năm tới.
Già hóa dân số tại Việt Nam Sau tuổi 60, cơ thể đã bước vào thời kỳ lão hóa, người cao tuổi luôn đứng trước nguy cơ bệnh tật và suy giảm chức năng, việc chăm sóc sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo đảm các quyền lợi về vật chất và tinh thần của người cao tuổi. Hiến pháp năm 2013 đã đề cập một cách đầy đủ và khẳng định mục tiêu phát triển hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm bình đẳng, công bằng cho mọi thành viên trong xã hội, lần đầu tiên thuật ngữ “Người cao tuổi” được nhắc đến trong bản Hiến pháp năm 2013 tại khoản 2 Điều 59 và khoản 3 Điều 37. Luật người cao tuổi năm 2009 đã đưa ra nội hàm của khái niệm người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên, đây chính là căn cứ cho việc ban hành và thực hiện các chính sách xã hội đối với người cao tuổi.
Tại Việt Nam, người cao tuổi gia tăng cả về chỉ số tuyệt đối cũng như tỷ 4 lệ trong dân số. Trong giai đoạn 1979-2009, số người cao tuổi gia tăng khoảng 2,12 lần. Theo thống kê của General Statistics Office (GSO, năm 2010), tỷ lệ người cao tuổi chiếm khoảng 10% năm 2017, và Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa. Tỷ lệ người cao tuổi chiếm 11,95% năm 2018 và dự kiến gia tăng lên tới 26% năm 2049 22,23.
Đại cương về bệnh Sarcopenia 1. Khái niệm Sarcopenia Năm 1989, Irwin Rosenberg lần đầu tiên mô tả sự giảm khối cơ và chức năng của cơ liên quan đến tuổi, khái niệm mất cơ “Sarcopenia” xuất phát từ Hy Lạp, “sarx” nghĩa là cơ và “penia” nghĩa là mất 24. Năm 2010, theo Hiệp hội Sarcopenia châu Âu - EWGSOP, Sarcopenia được định nghĩa: “Sarcopenia là một hội chứng được đặc trưng bởi sự mất liên tục và không ngừng của khối lượng cơ và sức mạnh cơ, với nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi như suy giảm chức năng, giảm chất lượng cuộc sống và tử vong” 25. Định nghĩa mới của Sarcopenia dựa trên cả khối lượng cơ và sức mạnh cơ chứ không chỉ dựa trên khối lượng cơ như trước.
Và cả hai yếu tố này đều được sử dụng để chẩn đoán bệnh Sarcopenia, bởi thực tế khối lượng cơ và sức mạnh cơ không luôn luôn giảm đồng thời cùng với nhau 3,26. Theo Hiệp hội Sarcopenia châu Á (AGWS), Sarcopenia được định nghĩa là “tình trạng mất khối lượng cơ liên quan tới tuổi kết hợp với sức mạnh cơ và/hoặc khả năng thực hành động tác” 18. Các nghiên cứu về bệnh Sarcopenia được thực hiện ngày càng nhiều. Giúp cho các bác sĩ lâm sàng hiểu biết về bệnh hơn.
Bệnh đã có mã bệnh trong danh mục Mã bệnh quốc tế ICD-10-CM (M62.84) từ tháng 9, 2016 (www. Phân loại Sarcopenia theo nguyên nhân Sarcopenia là tình trạng lâm sàng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Mặc dù Sarcopenia chủ yếu được chẩn đoán và xác định ở người cao tuổi, tuy nhiên cũng có thể xuất hiện ở người trẻ tuổi, giống như các trường hợp bệnh sa sút trí tuệ và loãng xương. Một số trường hợp có thể xác định được nguyên nhân của bệnh.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, bệnh Sarcopenia lại không chẩn đoán được nguyên nhân rõ ràng. Vì vậy, việc phân loại Sarcopenia nguyên phát và thứ phát có vai trò quan trọng và có giá trị trong nghiên cứu cũng như trong thực hành lâm sàng. Sarcopenia có thể được coi là tiên phát (hay liên quan tới tuổi) khi không có nguyên nhân hoặc bằng chứng nào gây ra bệnh mà nó lại được chẩn đoán ở người lớn tuổi, còn các trường hợp khác được coi là Sarcopenia thứ phát 25. Tuy nhiên, ở rất nhiều bệnh nhân có nhiều yếu tố cùng tham gia gây ra bệnh và không thể xác định chắc chắn đó là Sarcopenia tiên phát hay thứ phát.
Trong các trường hợp đó, chúng ta coi Sarcopenia là một hội chứng lão khoa do nhiều nguyên nhân. Phân loại Sarcopenia theo nguyên nhân Sarcopenia tiên phát Sarcopenia liên quan Không có bằng chứng của nguyên nhân nào khác tới tuổi ngoài tuổi cao Sarcopenia thứ phát Sarcopenia liên quan Là hậu quả của việc nghỉ trên giường lâu, lối sống tới giảm hoạt động tĩnh tại, không luyện tập hoặc tình trạng hoạt động thể lực không sức cản Sarcopenia liên quan Liên quan tới tình trạng suy nặng các cơ quan (tim, tới bệnh mạn tính phổi, gan, thận, não), bệnh lý viêm, bệnh ác tính khác hoặc bệnh lý nội tiết 6 Sarcopenia liên quan Là hậu quả của chế độ dinh dưỡng không phù hợp tới dinh dưỡng về năng lượng và/hoặc protein, như tình trạng rối loạn hấp thu, bệnh lý dạ dày ruột hoặc sử dụng các thuốc gây ra tình trạng chán ăn. Nguồn: Cruz-Jentoft et al. (2010) Sarcopenia: European consensus on definition and diagnosis.
Age and aging 25. Sinh lý bệnh Sarcopenia Mất khối lượng cơ là hậu quả của sự mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp protein và quá trình hủy protein. Khối lượng cơ và chức năng của nó phụ thuộc vào quá trình liên tục tái tạo protein của cơ thể. Thông thường, tốc độ tổng hợp protein giảm dần theo tuổi với tốc độ khoảng 3,5% mỗi 10 năm từ 20 tới 90 tuổi 27.
Thay đổi số Giảm noron lượng/ chức Thay đổi bất thần kinh vận năng tế bào thường hoạt động động ty thể Thay đổi nồng Biến đổi quá độ hormone trình phân giải protein Lối sống tĩnh Tăng quá trình tại viêm Sơ đồ 1. Sinh lý bệnh Sarcopenia Nguồn: Picca A et al. (2018) Update on mitochondria and muscle aging: all wrong roads lead to Sarcopenia. 7 Tuổi cao và tình trạng bệnh lý mạn tính gia tăng theo tuổi gây ra giảm khối lượng cơ và sức mạnh cơ ở người cao tuổi.
Cơ chế bệnh sinh của bệnh Sarcopenia ở mức tế bào, bao gồm: sự gia tăng các cytokine viêm, phản ứng stress oxy hóa, hormone chuyển hóa, và gia tăng các tổn thương yếu tố thần kinh, giảm sự lưu thông của dòng máu, các hormone chuyển hóa yếm khí 29. Cơ chế bệnh sinh của bệnh Sarcopenia ở mức mô: Các cơ chế ảnh hưởng tới đặc điểm của hệ cơ xương và tình trạng bệnh Sarcopenia bao gồm tăng chết các tế bào cơ, tăng hủy protein, tăng xơ hóa các tế bào cơ, tăng lipid trong tế bào cơ, giảm tổng hợp protein, giảm chức năng các nơ ron vận động, giảm hệ thống ty thể và giảm tái sinh các tế bào vệ tinh. Sự thay đổi của tế bào và mô Nhiều nghiên cứu cho thấy sự mất cơ là do quá trình thoái hóa về thần kinh, giảm sản xuất hormon đồng hóa và sự thay đổi tình trạng viêm. Nói chung, sự lão hóa làm thay đổi khối cơ, thành phần cơ, sự co cơ, tính chất của mô cơ, cũng như chức năng của gân.
Sự thay đổi bao gồm giảm sức mạnh của cơ và chức năng của cơ dẫn đến giảm quá trình vận động, tăng tính dễ gãy của xương, tăng các nguy cơ gây ngã, chấn thương và tàn tật. Cơ vân bao gồm 2 loại sợi cơ. Typ II là nhóm co cơ nhanh, có hàm lượng cao, khả năng sử dụng glycogen tốt, và sự đáp ứng nhanh hơn so với typ I là nhóm co cơ chậm. Typ I được biết tới là nhóm chống lại sức nặng bởi đặc điểm của nó là chứa nhiều ty thể, mao quản và số lượng myoglobin.
Hầu hết các cơ đều chứa cả 2 loại sợi cơ này. Trong các hoạt động chậm, có cường độ thấp hầu hết là do sợi cơ typ I đảm nhận, trong khi đó các hoạt động cường độ cao là do nhóm cơ typ I và typ II thực hiện. Theo tuổi, sự teo cơ chủ yếu xảy ra ở sợi cơ typ II 30. Sự lão hóa thần kinh cơ: - Sự lão hóa thần kinh cơ tiến triển và là quá trình không thể đảo ngược tăng dần theo tuổi 31.
Quá trình lão hóa liên quan tới tuổi này là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự xuất hiện bệnh Sarcopenia. Có nhiều mức độ trong hệ thống thần kinh bị ảnh hưởng bởi tuổi, bao gồm các nơ ron vận động, tủy sống, thần kinh ngoại biên và các nơi tiếp giáp giữa các sợi thần kinh 32-34. - Tại tủy sống, có sự giảm đáng kể các tế bào thần kinh vận động alpha, vì vậy dẫn tới sự giảm các đơn vị đáp ứng vận động nhanh của cơ thể. - Ở mức độ thần kinh ngoại vi, các sợi thần kinh ngoại vi bị giảm số lượng theo tuổi, kèm theo đó là sự thay đổi của hệ thống myelin.
- Sự lão hóa làm thay đổi thần kinh cơ ở chỗ nối liền, giảm số lượng nhưng tăng kích thước của ống dẫn thần kinh dẫn đến giảm số lượng các túi synap. Bên cạnh đó, sự thay đổi hình thái học của cơ với những bệnh thần kinh mạn tính gây ảnh hưởng lớn tới sự giảm các sợi cơ và khối cơ. - Sự tái tạo của tế bào gốc cơ xương ở người già chậm hơn người trẻ tuổi. Điều này do sự di cư của tế bào gốc sang vùng tái tạo chậm hơn do giảm intergrin ở người già, intergrin là receptor màng trung gian giữa tế bào và xung quanh nó.
Ở mức độ phân tử, sự rối loạn chức năng sinh học ty thể hoặc sản phẩm của chất hữu cơ mới trong ty thể làm suy giảm hoạt động cơ xương và góp phần gây teo cơ. - Sarcopenia có liên quan với sự giảm số lượng đơn vị tế bào thần kinh cơ, mà số lượng lớn đơn vị tế bào thần kinh cơ này xuất hiện để thực hiện hoạt động vật lý của cơ. - Mặt khác, có sự không cân xứng của sự giảm tổng hợp protein tăng theo tuổi và sự mất sợi cơ typ 2, là chất được dự trữ cho nguồn năng lượng tiêu thụ 9 cao và quãng ngắn. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự giảm dần tốc độ đi bộ ở người già.