Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh suy thận mạn (STM) là một trong những vấn đề y tế–xã hội ngày càng nghiêm trọng tại Việt Nam. Theo số liệu mà tác giả dẫn ra từ phát biểu của PGS.TS Nguyễn Quốc Anh – Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, cả nước có khoảng 6 triệu người mắc bệnh thận mạn tính (chiếm khoảng 6,73% dân số), trong đó một số lượng lớn bệnh nhân ở giai đoạn cuối cần điều trị thay thế thận, nhưng chỉ 10% được tiếp cận phương pháp lọc máu. Trên phạm vi toàn cầu, hai thập kỷ qua đã ghi nhận mức tăng 165% ca lọc máu đối với bệnh nhân STM giai đoạn cuối. Riêng tại Khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai, số ca lọc máu đã tăng từ vài chục ca/tháng những năm đầu thành lập lên đến 300 ca/ngày trong những năm gần đây – một áp lực quá tải mà y tế thuần túy không thể giải quyết toàn diện.

Tác giả nhận diện khoảng trống can thiệp: y học có thể kéo dài sự sống nhưng không thể điều trị các tổn thương tâm lý mà bệnh nhân STM mạn tính phải chịu đựng – chán nản, suy nghĩ tiêu cực, lo lắng tài chính kéo dài, nguy cơ trầm cảm – trong khi công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện tại Việt Nam vẫn còn rất sơ khai. Đây là lý do trực tiếp dẫn đến đề tài: "Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ cho bệnh nhân mắc bệnh suy thận mạn tại Bệnh viện Bạch Mai" (Trường Đại học Thăng Long, Khoa Công tác xã hội, 2017).

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động CTXH cá nhân (CTXHCN) trong việc hỗ trợ bệnh nhân STM tại Khoa Thận nhân tạo – Bệnh viện Bạch Mai.
  2. Áp dụng tiến trình CTXHCN vào thực hành trực tiếp với một thân chủ (TC) cụ thể đang điều trị tại khoa.
  3. Đề xuất giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả CTXHCN trong hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân STM.

Câu hỏi nghiên cứu: Bệnh nhân STM tại Bệnh viện Bạch Mai đã từng được tiếp cận với CTXH hay chưa?

Giả thuyết nghiên cứu: Người bệnh chưa từng được tiếp cận với nhân viên công tác xã hội (NVCTXH); trong quá trình điều trị dài hạn, họ chịu đựng tổn thương cả về thể chất lẫn tinh thần, lo lắng về tài chính và có xu hướng hình thành suy nghĩ tiêu cực về bản thân.

Đối tượng nghiên cứu: CTXHCN trong việc hỗ trợ bệnh nhân STM tại Bệnh viện Bạch Mai.

Khách thể nghiên cứu: Ông Đinh Văn Mạnh (ẩn danh viết tắt Đ.M) – bệnh nhân STM điều trị tại tầng 3, nhà D, Khoa Thận nhân tạo; cùng gia đình, bác sĩ, y tá, điều dưỡng và các bệnh nhân cùng phòng.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Tầng 3, nhà D, Khoa Thận nhân tạo – Bệnh viện Bạch Mai.
  • Thời gian: Từ ngày 05/9/2016 đến 10/12/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Tác giả xây dựng nền tảng lý luận dựa trên hai lý thuyết chính:

Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (Tháp nhu cầu 5 tầng): Được vận dụng để xác định những nhu cầu nào của TC chưa được đáp ứng – từ tầng nhu cầu sinh học (sức khỏe suy kiệt, không tự vệ sinh cá nhân được) đến các nhu cầu an toàn, xã hội và tinh thần – từ đó NVCTXH ưu tiên thứ tự can thiệp phù hợp.

Lý thuyết hệ thống sinh thái của Ludwig von Bertalanffy (phát triển bởi Pincus và Minahan trong ứng dụng CTXH): Nhấn mạnh mỗi cá nhân phụ thuộc vào ba hệ thống – hệ thống phi chính thức (gia đình, người thân), hệ thống chính thức (nhóm cộng đồng, tổ chức) và hệ thống xã hội (bệnh viện, cơ quan nhà nước). NVCTXH kết nối TC với các hệ thống còn thiếu hoặc còn yếu, chẳng hạn Phòng CTXH, câu lạc bộ bệnh nhân, nhà hảo tâm.

Về khung pháp lý, tác giả dẫn chiếu đến:

  • Thông tư 43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế (quy định chức năng, nhiệm vụ phòng CTXH trong bệnh viện).
  • Quyết định số 735/QĐ-BM ngày 28/5/2015 của Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai (thành lập Phòng CTXH).
  • Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010–2020 (Đề án 32).
  • Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng mức 500.000 đồng/người/tháng cho người thuộc hộ nghèo bị suy thận mạn chạy thận nhân tạo (theo Quyết định 25/2015/QĐ-UBND và Quyết định 24/2010/QĐ-UBND).

Định nghĩa CTXH được tác giả lựa chọn áp dụng từ Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Quốc gia Hoa Kỳ (NASW) (Zastrow, 1996; 1999).

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp Nội dung áp dụng
Phân tích tài liệu Thu thập, phân tích văn bản pháp luật, tài liệu y học và CTXH liên quan
Điều tra xã hội học Phân tích số liệu thống kê bệnh nhân STM tại Việt Nam và toàn cầu
Phỏng vấn sâu Phỏng vấn TC, vợ TC, bác sĩ điều trị; áp dụng kỹ năng lắng nghe, đặt câu hỏi, ghi chép
Quan sát Thu thập thông tin về hành vi, thái độ, cảm xúc của TC và gia đình trong môi trường bệnh viện
Thực hành CTXHCN Áp dụng tiến trình 7 giai đoạn với TC cụ thể

Nguồn dữ liệu: Hồ sơ bệnh án, thông tin trực tiếp từ TC và vợ TC, phỏng vấn bác sĩ điều trị (BS Dũng – Trưởng khoa Thận nhân tạo), số liệu thống kê của Bệnh viện Bạch Mai và các nghiên cứu dịch tễ học đã công bố.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Phương pháp luận và lý thuyết áp dụng

Chương này xây dựng hệ thống khái niệm công cụ cho toàn bộ nghiên cứu, gồm: CTXH, CTXHCN, nhân viên CTXH, bệnh nhân STM, hỗ trợ bệnh nhân STM, và CTXHCN trong việc hỗ trợ bệnh nhân STM. Tác giả trình bày phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng (đặt vấn đề STM trong mối tương tác đa chiều: hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, nhu cầu và nguyện vọng người bệnh) và chủ nghĩa duy vật lịch sử (đặt thực hành CTXH trong bối cảnh lịch sử hình thành Phòng CTXH Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2015).

Hướng tiếp cận nghiên cứu kết hợp ba góc độ: Y học (tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, phương pháp điều trị STM), Tâm lý học (nhận diện và xử lý những vấn đề tâm lý của TC) và Xã hội học (khảo sát tương tác giữa TC với các hệ thống xã hội xung quanh).

Phần cuối chương dẫn chiếu khung chính sách: bệnh STM được Bộ Y tế xếp vào danh mục bệnh hiểm nghèo; người bệnh thuộc hộ nghèo được hưởng trợ cấp 500.000 đồng/người/tháng kèm thẻ bảo hiểm y tế 100%.

Chương 2: Phân tích vấn đề nghiên cứu

Chương giới thiệu địa bàn nghiên cứu gồm hai đơn vị chính:

Khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai được thành lập năm 1972, tiền thân là Tổ lọc máu thực nghiệm (1970), phát triển qua 4 giai đoạn đến năm 2015. Đây là đơn vị lọc máu lớn nhất cả nước, với quy mô hiện tại đạt tới 300 ca lọc máu/ngày, chuẩn hóa hệ thống xử lý nước theo tiêu chuẩn Singapore và tiếp cận các kỹ thuật ngang tầm khu vực (Nhật Bản, Thái Lan).

Phòng CTXH Bệnh viện Bạch Mai thành lập theo Quyết định 735/QĐ-BM (28/5/2015), có 12 vị trí việc làm, triển khai các hoạt động: hỗ trợ xuất ăn miễn phí, phát cháo từ thiện hàng tuần, trao quà và tiền hỗ trợ cho bệnh nhân khó khăn, thành lập câu lạc bộ bệnh nhân tại Khoa Thận nhân tạo. Tuy nhiên, lực lượng NVCTXH còn hạn chế nên việc áp dụng tiến trình CTXHCN tại các khoa chưa được triển khai rõ ràng.

Phần đánh giá thực trạng dẫn kết quả nghiên cứu của Tiến sĩ Bernadette Thomas (Đại học Washington, Seattle) phân tích dữ liệu từ 161 quốc gia về xu hướng gia tăng lọc máu toàn cầu. Chương khép lại bằng đánh giá nhu cầu phát triển CTXH trong bệnh viện: tính đến thời điểm nghiên cứu, cả nước có 55 trường đào tạo cử nhân CTXH, mục tiêu Đề án 32 hướng đến 60.000 người làm CTXH vào năm 2020, nhưng nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn còn thiếu hụt nghiêm trọng.

Chương 3: Thực hành công tác xã hội

Đây là chương trọng tâm, trình bày toàn bộ tiến trình CTXHCN 7 giai đoạn với TC cụ thể – ông Đinh Văn Mạnh (53 tuổi, nghề tự do, quê Ứng Hòa – Hà Nội):

  • Tình trạng TC: Bị tiểu đường 12 năm, chạy thận 6 năm; sau 4 năm chạy thận bị mù cả hai mắt do biến chứng tiểu đường; không tự đi lại và vệ sinh cá nhân được; hưởng BHYT 100% diện hộ nghèo.
  • Hoàn cảnh gia đình: Vợ (Nguyễn Thị Sinh) bỏ việc thợ may (thu nhập 5 triệu/tháng) để chăm TC toàn thời gian, bản thân vợ mắc nhiều bệnh (dạ dày, đau khớp, thoát vị đĩa đệm), sụt 10 kg kể từ khi nghỉ việc; ba người con đều có hoàn cảnh khó khăn; một chị gái 58 tuổi bị tàn tật bẩm sinh sống chung.

Bảy giai đoạn thực hành CTXHCN:

Giai đoạn Nội dung chính
1. Tiếp nhận Tiếp cận qua Phòng CTXH; giao tiếp chủ yếu qua vợ TC do TC bị lòa và nghe kém; ghi hồ sơ ban đầu; xác định nhu cầu khẩn cấp (sức khỏe suy kiệt, suy nghĩ tiêu cực)
2. Thu thập thông tin Phỏng vấn sâu TC và vợ TC; bảng hỏi, trắc nghiệm tâm lý; trò chuyện; kiểm tra và tổng hợp thông tin
3. Đánh giá và xác định vấn đề Xây dựng cây vấn đề (vấn đề gốc: sức khỏe yếu; nguyên nhân: chán nản, chi phí cao, đau nhức cơ thể, lo lắng tài chính); vẽ sơ đồ phả hệ và sơ đồ sinh thái; phân tích ma trận điểm mạnh–điểm yếu của TC, vợ, gia đình và môi trường xung quanh
4. Lập kế hoạch can thiệp Ba mục tiêu: (1) tham vấn tâm lý cho TC và vợ; (2) kết nối nguồn lực hỗ trợ tài chính; (3) tăng cường sức khỏe qua massage trị liệu – lên kế hoạch theo tuần từ tuần 2 đến tuần 5
5. Triển khai hoạt động Thực hiện tham vấn; kết nối Phòng CTXH hỗ trợ kinh phí, hướng dẫn TC viết đơn; thực hành và hướng dẫn vợ TC kỹ thuật massage vai gáy
6. Lượng giá Đánh giá kết quả các mục tiêu đã triển khai
7. Kết thúc Kết thúc tiến trình, chuyển giao

Kết quả và đóng góp

Kết quả thực hành: Thông qua tham vấn tâm lý và các hoạt động hỗ trợ trực tiếp, TC được giúp đỡ để giảm bớt suy nghĩ tiêu cực về bản thân (quan niệm là "gánh nặng gia đình") và từng bước chấp nhận tiếp tục điều trị. TC và vợ TC được kết nối với nguồn lực hỗ trợ tài chính từ Phòng CTXH Bệnh viện Bạch Mai. Vợ TC được hướng dẫn kỹ thuật massage trị liệu để hỗ trợ TC giảm đau vai gáy liên quan đến tình trạng tăng huyết áp.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Mở rộng áp dụng tiến trình CTXHCN cho bệnh nhân STM tại Khoa Thận nhân tạo, không chỉ dừng ở mô hình thực tập sinh viên.
  • Tăng cường nhân lực Phòng CTXH để đủ năng lực bao phủ các khoa trong bệnh viện.
  • NVCTXH cần phối hợp chặt chẽ hơn với gia đình bệnh nhân, chính quyền địa phương và các tổ chức bảo trợ xã hội để kết nối nguồn lực cho bệnh nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Đóng góp so với nghiên cứu trước: Tác giả nhận định rằng các công trình trước đây về bệnh nhân STM tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận từ góc độ y học (dịch tễ học, lọc máu, dinh dưỡng, biến chứng). Khóa luận này là một trong số ít nghiên cứu trong nước tiếp cận bệnh nhân STM từ góc độ CTXH, cụ thể là áp dụng tiến trình CTXHCN đầy đủ 7 giai đoạn trong môi trường bệnh viện, bổ sung vào cơ sở lý luận và thực tiễn còn thiếu hụt trong lĩnh vực CTXH y tế Việt Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả tự nhận nhận trong lời cảm ơn rằng "kinh nghiệm, kiến thức và thời gian còn hạn chế" là những thiếu sót không tránh khỏi của khóa luận. Xét theo phạm vi nghiên cứu thực tế, một số giới hạn có thể nhận thấy:

  • Nghiên cứu chỉ thực hiện với một trường hợp thân chủ duy nhất trong một khoảng thời gian ngắn (05/9/2016–10/12/2016), do đó kết quả không có giá trị đại diện cho toàn bộ quần thể bệnh nhân STM tại bệnh viện.
  • Khả năng giao tiếp với TC bị hạn chế do TC bị lòa hai mắt và nghe kém, toàn bộ thông tin chủ yếu được thu thập qua vợ TC.
  • Lực lượng NVCTXH tại Phòng CTXH Bệnh viện Bạch Mai còn ít (12 vị trí việc làm) so với quy mô bệnh viện, ảnh hưởng đến khả năng nhân rộng mô hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: có thể mở rộng sang nghiên cứu nhiều trường hợp (case study đa trường hợp), nghiên cứu so sánh hiệu quả các phương pháp can thiệp CTXH khác nhau, hoặc đánh giá tác động dài hạn của CTXHCN đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân STM.

Giá trị tham khảo

Khóa luận này phù hợp làm tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Công tác xã hội có thể tham khảo trực tiếp phần Chương 3 như một ví dụ thực hành minh họa tiến trình CTXHCN 7 giai đoạn được triển khai trong bối cảnh bệnh viện Việt Nam, kèm các công cụ thực hành cụ thể: cây vấn đề, sơ đồ phả hệ, sơ đồ sinh thái, ma trận điểm mạnh–điểm yếu và bảng kế hoạch can thiệp.
  • Sinh viên thực tập tại cơ sở y tế hoặc bệnh viện có thể sử dụng phần mô tả cấu trúc và chức năng của Phòng CTXH Bệnh viện Bạch Mai (12 nhân lực, 6 nhóm nhiệm vụ, các tổ chức nội bộ) như một ví dụ về mô hình tổ chức CTXH y tế tuyến Trung ương.
  • Người nghiên cứu về CTXH y tế hoặc hỗ trợ bệnh nhân mạn tính có thể tham khảo phần tổng quan nghiên cứu (gồm các công trình y học và CTXH trong và ngoài nước được tác giả điểm qua) và phần phân tích thực trạng CTXH trong bệnh viện Việt Nam giai đoạn 2010–2017.
  • Người làm đề tài tương tự về bệnh nhân mạn tính (ung thư, HIV/AIDS, tâm thần...) có thể tham khảo cách vận dụng lý thuyết Maslow và hệ thống sinh thái, cũng như cách thiết kế kế hoạch can thiệp ba mục tiêu có phân kỳ thời gian cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Thân chủ trong khóa luận là ai và gặp những vấn đề gì cụ thể? TC là ông Đinh Văn Mạnh, 53 tuổi, mắc tiểu đường 12 năm và chạy thận 6 năm tại Khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai. Sau 4 năm chạy thận, TC bị mù cả hai mắt do biến chứng tiểu đường, không tự đi lại và vệ sinh cá nhân được. TC thường xuyên có suy nghĩ tiêu cực, cho rằng bản thân là gánh nặng cho gia đình và nhiều lần không muốn tiếp tục điều trị.

2. Tiến trình CTXHCN được thực hiện theo bao nhiêu giai đoạn và diễn ra trong thời gian nào? Tiến trình gồm 7 giai đoạn: tiếp nhận TC, thu thập thông tin, đánh giá và xác định vấn đề, lập kế hoạch can thiệp, triển khai các hoạt động trợ giúp, lượng giá và kết thúc. Toàn bộ thực hành diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày 05/9/2016 đến 10/12/2016 tại tầng 3, nhà D, Khoa Thận nhân tạo.

3. Phòng Công tác xã hội Bệnh viện Bạch Mai được thành lập như thế nào và có những chức năng gì? Phòng được thành lập theo Quyết định số 735/QĐ-BM ngày 28/5/2015 của Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, hoạt động theo Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế, với 12 vị trí việc làm gồm bác sĩ, cử nhân CTXH, báo chí, ngôn ngữ và điều dưỡng. Phòng có 6 nhóm nhiệm vụ chính: hỗ trợ–tư vấn người bệnh; thông tin–truyền thông giáo dục sức khỏe; vận động và tiếp nhận tài trợ; đào tạo bồi dưỡng CTXH y tế; xây dựng mạng lưới tình nguyện viên; và tổ chức hoạt động CTXH tại cộng đồng.

4. Ba mục tiêu can thiệp mà nhân viên công tác xã hội đề ra cho thân chủ là gì? (1) Tham vấn tâm lý cho TC và vợ TC nhằm giúp TC thay đổi suy nghĩ tiêu cực, chấp nhận tiếp tục điều trị, triển khai từ tuần 2 đến tuần 5. (2) Kết nối TC với các nguồn lực – Khoa Thận nhân tạo, Phòng CTXH, nhà hảo tâm – hỗ trợ một phần kinh phí điều trị, triển khai từ tuần 3. (3) Tăng cường sức khỏe thông qua hoạt động massage trị liệu để giảm đau vai gáy khi TC bị tăng huyết áp, thực hiện từ tuần 4.

5. Chính sách nào của Nhà nước được đề cập liên quan đến hỗ trợ bệnh nhân suy thận mạn thuộc hộ nghèo? Theo Quyết định 25/2015/QĐ-UBND ngày 28/8/2015 và Quyết định 24/2010/QĐ-UBND ngày 23/8/2010, người thuộc hộ nghèo bị suy thận mạn chạy thận nhân tạo được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mức 500.000 đồng/người/tháng kèm cấp thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ tiền mai táng phí. Chính sách tiếp tục được duy trì 02 năm sau khi thoát nghèo. TC trong khóa luận đang hưởng BHYT 100% theo diện hộ nghèo.


Kết luận

Khóa luận của Phạm Xuân Mạnh (Đại học Thăng Long, 2017) là một nghiên cứu thực hành thuộc lĩnh vực CTXH y tế, tập trung vào việc áp dụng tiến trình CTXHCN 7 giai đoạn để hỗ trợ tâm lý–xã hội cho một bệnh nhân STM giai đoạn cuối đang điều trị tại Khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow và lý thuyết hệ thống sinh thái của Bertalanffy làm khung phân tích, kết hợp nhiều phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm phỏng vấn sâu, quan sát và điều tra xã hội học. Trong bối cảnh CTXH trong bệnh viện Việt Nam còn mới và thiếu nhân lực chuyên nghiệp, khóa luận cung cấp một minh họa thực hành có hệ thống về vai trò của NVCTXH trong hỗ trợ bệnh nhân mạn tính, bổ sung vào mảng nghiên cứu còn thưa thớt về CTXH y tế trong nước.