MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp Nhắc đến nhóm trẻ chậm phát triển ngôn ngữ (CPTNN) hầu hết các bậc phụ huynh cũng như đa số mọi người đ u có những hiểu lầm rằng những đứa trẻ này bị bệnh tự kỷ. Bởi lẽ những trẻ CPTNN cũng có nhi u điểm tương đồng với trẻ tự kỷ. Hay nói một cách khác, việc CPTNN ở trẻ có thể chỉ là một biểu hiện nhỏ trong tập hợp các dấu hiệu của hội chứng tự kỷ.
Hiện nay số lượng trẻ CPTNN ngày một tăng nhanh (trong đó có cả nhóm trẻ CPTNN tự kỷ và một tỷ lệ rất nhỏ trẻ CPTNN thông thường), đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… Tại các Trung tâm, các trường chuyên biệt dạy trẻ tự kỷ (TTK) có một số lượng không ít những trẻ CPTNN đang được trị liệu ngôn ngữ với chương tr nh can thiệp chuyên biệt. Theo thống kê của Vụ giáo dục Mầm non – Bộ Giáo Dục & Đào Tạo (GD & ĐT) cho thấy tỷ lệ trẻ khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số trẻ cùng lứa tuổi. Thực tế cho thấy rằng trẻ CPTNN khi được nhận vào môi trường học hòa nhập còn gặp nhi u khó khăn trong việc giao tiếp, nhận thức hay các kỹ năng xã hội khác… Bên cạnh những khó khăn mang tính chủ quan là xuất phát từ chính bản thân trẻ có rất nhi u những nguyên nhân khách quan khác từ môi trường giáo dục hòa nhập. Việc thiếu giáo viên chuyên môn hỗ trợ cho trẻ CPTNN hòa nhập tại các trường mầm non (MN) là một trong những nguyên nhân khách quan đó.
Tại một số cơ sở giáo dục chuyên biệt đã cung cấp thêm mảng dịch vụ giáo viên (GV) hỗ trợ trẻ CPTNN tại các trường MN nhưng con số này còn khá eo hẹp. Và hầu như GV hỗ trợ đ u gặp cản trở từ môi trường làm việc không chuyên biệt này. Những GV làm công việc hỗ trợ trẻ CPTNN học hoà nhập không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn cần có những kỹ năng m m khác để vừa hỗ trợ trẻ học tập vừa không làm ảnh hưởng tới công việc của các GV trong trường hòa nhập. Ở nước ta, việc chẩn đoán là do bác sĩ chuyên khoa v tâm thần hoặc tâm lý trẻ em, ngoài ra, không có sự phối hợp theo dõi của những nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) hay GV chuyên biệt.
Việc trị liệu cho trẻ CPTNN có thể có sự góp mặt của bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, GV chuyên biệt. Tuy nhiên sự phối hợp giống như một ê kíp trị liệu của những thành viên này hầu như chưa có hoặc không khăng khít, đặc biệt là hầu như không có những NV CTXH đóng vai trò là người quản lý ca, người kết nối các mối quan hệ trong nhóm trị liệu. Mặc dù hiện nay vai 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trò của các nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) đã có mặt hầu hết trong các lĩnh vực xã hội. Tuy nhiên, tại các trung tâm chuyên biệt hay các trường khuyết tật vị trí, vai trò của những NV CTXH chưa thực sự được chú ý và phát huy hết hiệu quả.
“Thực ra, đây là một vị trí góp phần quan trọng vào việc gắn kết các mối quan hệ của các thành viên trong gia đ nh trẻ với nhau, và trẻ với cơ sở trị liệu. Nói một cách khác, người nhân viên xã hội chính là người liên kết và thống nhất các quan điểm , tạo nên sự thông hiểu lẫn nhau” [2, tr. Ngoài ra, ở mỗi một vị trí khác nhau th NV CTXH sẽ đóng những vai trò khác nhau và giúp đem lại lợi ích cao nhất cho thân chủ của m nh. Trong đi u kiện thực tế ở nước ta việc trị liệu, hỗ trợ TTK nói chung và trẻ CPTNN hòa nhập nói riêng, NV CTXH thường giữ vai trò vừa là một GV chuyên biệt vừa là người hỗ trợ trẻ và gia đ nh trẻ.
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả xin chọn đ tài nghiên cứu “ Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non” để thấy được vai trò của NV CTXH khi làm việc với trẻ CPTNN tại trường mầm non. Tổng quan về những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến đề tài 2.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển ngôn ngữ trên thế giới Theo Saussure, hoạt động lời nói của cá nhân bao gồm năng lực ngôn ngữ và ngôn ngữ như hệ thống. Cả hai yếu tố này đ u được hiện thực hóa trong lời nói. Nói cách khác, lời nói là “hành vi hiện thực hóa năng lực của cá nhân nhờ các điều kiện xã hội, tức nhờ ngôn ngữ và ngôn ngữ trong nghĩa rộng của từ này (tức là hoạt động lời nói) nếu tách riêng ra là không thể hiểu được, bởi vì nó có tính không đồng nhất” [11, tr.
Khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ khiến con người khác các loài động vật khác. Ngôn ngữ nói giúp con người truy n đạt thông tin, biểu đạt cảm xúc và biểu thị các mối quan hệ xã hội; đồng thời, nó cung cấp cho con người phương tiện tổ chức tư duy, trí nhớ, cho phép h nh thành nên những ranh giới phức tạp của lí trí và giúp con người suy ngẫm v những sự kiện diễn ra trong quá khứ, tương lai và mang tính giả thuyết, hơn là giữ chúng trong hiện tại. Humboldt nói tới hoạt động lời nói và ngôn ngữ của con người như sự kết nối giữa con người và xã hội. cho rằng hoạt động lời nói cá nhân có ba yếu tố căn bản: cơ cấu cơ học của cơ thể, cơ cấu tâm lý và nội dung khái niệm hay thế giới quan được biểu hiện.
Lời nói có mục đích là biểu đạt và phản ánh nội dung 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dựa trên cơ cấu tâm lý và cơ thể. [11] Sự CPTNN trong 3 năm đầu đời có thể dẫn đến những khó khăn trong giao tiếp và xã hội hóa các h nh tượng quan trọng của trẻ ở thời thơ ấu. Việc CPTNN là nguyên nhân chung khiến các bậc cha mẹ đi t m lời khuyên từ các bác sĩ của gia đ nh hoặc từ các bác sĩ nhi khoa. Do sự giao tiếp ở con người là phức tạp, nên việc đánh giá và chẩn đoán những khó khăn của trẻ v ngôn ngữ và lời nói thường là vấn đ có nhi u thách thức, đòi hỏi ý kiến của chuyên gia thuộc nhi u lĩnh vực khác nhau như: ngôn ngữ học, thính học, phát triển trẻ em, tâm lý học thần kinh, thần kinh học nhi và tâm thần học.
Ở những trẻ b nh thường, khả năng nắm vững ngôn ngữ diễn ra theo 3 giai đoạn căn bản sau [22, tr.138]: - Giai đoạn tiền ngôn ngữ (từ 0 cho đến 12, 13 tháng, đôi khi là 18 tháng): bắt đầu từ những tiếng kêu không có ý nghĩa nào khác ngoài biểu đạt sự khó chịu v mặt sinh lý, dần dần những ti n đ của giao tiếp giữa trẻ và môi trường xung quanh được h nh thành. Trên thực tế, những tiếng kêu này biểu đạt một sắc thái cảm giác của trẻ đòi mẹ phải đáp ứng (giận dữ, đau đớn, bứt rứt, thỏa mãn, khoái cảm). - Giai đoạn ngôn ngữ của trẻ bé (từ 10 tháng đến 2 tuổi rưỡi – 3 tuổi): những từ đầu tiên thường xuất hiện trong t nh huống “lắp lời nói”, nghèo nàn v ý, nghĩa nhưng dễ phát âm. Vào khoảng 12 tháng tuổi, một đứa trẻ có thể học được 5 đến 10 từ; đến 2 tuổi, vốn từ vựng của trẻ có thể đạt đến 200 từ.
Số lượng từ được tích lũy gia tăng theo độ tuổi. Việc hiểu bị động luôn xảy ra trước sự biểu đạt chủ động; có nghĩa là, trẻ có thể hiểu được một số lượng từ lớn hơn rất nhi u so với việc trẻ nói các từ. Ở giai đoạn “từ-câu”, trẻ dùng một từ mà ý nghĩa của nó phụ thuộc vào điệu bộ, c chỉ hay hoàn cảnh cụ thể. Ngôn ngữ luôn đi kèm với hành động, củng cố hành động, nhưng vẫn chưa thay thế được hành động.
Khoảng 18 tháng tuổi, các câu đầu tiên xuất hiện; trẻ bắt đầu học nói phủ định. Ở giai đoạn này, vai trò của gia đ nh là rất quan trọng bởi nó là nơi trẻ được tắm m nh trong “biển ngôn ngữ” và học nói ngôn ngữ. Nếu thiếu vắng sự tác động ngôn ngữ, vốn từ của trẻ trở nên nghèo nàn hoặc trẻ trở nên chậm trễ trong việc học nói. - Giai đoạn ngôn ngữ (bắt đầu từ 3 tuổi): là giai đoạn dài nhất và phức tạp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất trong việc nắm vững ngôn ngữ, được đánh dấu bởi sự phong phú cả v chất lượng và số lượng (khoảng từ 3 tuổi rưỡi đến 5 tuổi, trẻ có thể sở hữu 1.500 từ mà không phải lúc nào cũng biết chính xác ý nghĩa của từ).
Đồng thời, ngôn ngữ dần trở thành phương tiện để hiểu biết, một sự thay thế kinh nghiệm trực tiếp. Sự rườm rà cùng với hành động và/hoặc c chỉ, điệu bộ dần dần biến mất. Nói cách khác, các rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em thường đóng vai trò quan trọng cả v ý nghĩa lẫn lý do đến thăm khám của gia đ nh, đặc biệt là những gia đ nh có trẻ từ 4 đến 8 tuổi. Đây là giai đoạn trẻ học ngôn ngữ nói và chuẩn bị cho việc học đọc và học viết.
Sự ảnh hưởng tới những tương tác giữa trẻ và môi trường (gia đ nh, trường học, bạn bè) bỗng nhiên có thể xảy đến nếu các rối loạn trở nên nghiêm trọng và dẫn tới các khó khăn tâm lý khác nhau. Do đó rất khó kể đến các rối loạn phản ứng thứ phát và những khó khăn ban đầu. Nghiên cứu v CPTNN ở trẻ em đòi hỏi phải có một n n tảng kiến thức v sự phát triển ngôn ngữ b nh thường, ở cả khía cạnh sinh lý thần kinh (cơ quan cấu âm, cấu trúc não, cơ quan thính giác b nh thường) và khía cạnh tâm lý. Trong CPTNN, một mặt, các lỗi gặp phải là không cố định; mặt khác, mỗi âm vị có thể được phát âm chính xác nếu đứng một m nh.