CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu về RLTĐGCY RLTĐGCY đã là một chủ đề được ngành Tâm lý học và Y học nghiên cứu rất nhiều trong hai thập kỷ qua. Nghiên cứu về tỷ lệ RLTĐGCY đã được tiến hành tại rất nhiều quốc gia. Các nghiên cứu trên thế giới - Tỷ lệ có RLTĐGCY ở các nước trên thế giới Nghiên cứu dịch tễ tăng động giảm chú ý trên người lớn tại Hoa Kỳ do Ronald C.
Kessler và các cộng sự ( 2006) đã tiến hành nghiên cứu trên 3199 mẫu con trong độ tuổi từ 18 – 44 được lựa chọn trong tổng số mẫu lớn 9,282. Nghiên sử dụng thang đo chẩn đoán lâm sàng dành cho người lớn phiên bản 1.2 (the Adult ADHD Clinical Diagnostic Scale version 1.2) và một phỏng vấn bán cấu trúc dựa trên thang đánh giá RLTĐGCY ở trẻ em (the ADHD Rating Scale for childhood ADHD) và thang đo thích nghi với RLTĐGCY (an adaptation of the ADHD Rating Scale ) để đánh giá RLTĐGCY ở người lớn. Kết quả 154 người mắc rối loạn RLTĐGCY, tương đương với tỷ lệ là 4,4%. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng người lớn có rối loạn RLTĐGCY có sự kết hợp cao với các rối loạn khác và có nhiều tương quan được tìm thấy là nam giới, người đã từng kết hôn, người thất nghiệp và đa số ở các trường hợp không được điều trị.
Bên cạnh việc chỉ ra được một con số cụ thể cho RLTĐGCY ở người lớn. Nghiên cứu còn một số hạn chế nhất định như: Phỏng vấn bán cấu trúc đã sử dụng thang đo chẩn đoán lâm sàng RLTĐGCY dành cho người lớn được xây dựng một phần dựa vào thang đo sàng lọc RLTĐGCY dùng cho trẻ em và chỉ có những hướng dẫn tối thiểu cho chẩn đoán RLTĐGCY ở người lớn, nhưng không có một phương pháp chuẩn cho tiêu chí lâm sàng về rối RLTĐGCY ở người lớn; Thông tin thu được trong 6 z nghiên cứu đều là tự báo cáo chứ không có các báo cáo từ kênh cha mẹ và giáo viên như các nghiên cứu RLTĐGCY ở trẻ em. Tỷ lệ 4,1% theo báo cáo từ cha mẹ và 3,4% theo báo cáo của giáo viên là kết quả của Bác sĩ Valsamma Eapen và các cộng sự (2009) trên trẻ em từ 5 – 16 tuổi tại tiểu các vương quốc Ả rập (UAE). Trong đó, tỷ lệ mắc có RLTĐGCY ở mần non và đầu tiểu học là 5,0%, cuối tiểu học 4.2%, cấp hai là 2,7%.
Tỷ lệ mắc rối loạn ở trẻ nam là 5,3%, nữ là 2,9%. Bên cạnh việc sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc để xác định các thông tin về cá nhân, gia đình và các yếu tố tâm lý xã hội các nhà nghiên cứu sử bảng hỏi Conner với 10 mục câu hỏi được dùng để lấy thông tin cả ở cha mẹ và giáo viên và (CBCL)– với 113 mục câu hỏi được sử dụng để lấy thông tin từ cha mẹ. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra một tỷ lệ thấp hơn so với các nghiên cứu khác. Điều này có thể giải thích do có sự khác biệt trong phương pháp luận và các tiêu chuẩn chẩn đoán được sử dụng trong nghiên cứu.
Cũng giống với các nghiên cứu khác Nghiên cứu này cũng chỉ ra Trẻ em có RLTĐGCY thường có sự kết hợp với các rối loạn tâm thần khác. Các bệnh liên quan thường gặp bao gồm chống đối phòng vệ thách thức (ODD), rối loạn ứng xử (CD), trầm cảm và rối loạn lo âu [24]. Tỷ lệ RLTĐGCY trên trẻ em ở độ tuổi mần non từ 4 – 6 tuổi ở một số nước như: Iran là 12. với độ phổ biến về giới tính là 18.1, ở bé trai và 6.7% ở bé gái với tổng số mẫu là 1083 trẻ (553 trẻ nữ và 530 trẻ nam) [24] và ở Ấn Độ là 12.2%, tỷ lệ phổ biến ở bé trai trai là 19.8% với số mẫu nghiên cứu là 1250 trẻ (599 nam và 651 nữ) [29] Phương pháp của hai nghiên cứu này khá giống nhau ở việc chọn mẫu cũng như sử dụng các trắc nghiệm để sàng lọc và chẩn đoán như: bảng hỏi Conner, phỏng vấn sâu dựa vào các tiêu chí chẩn đoán của DSM – 4, thang đo liệt kê các rối loạn cảm xúc.
Các nghiên cứu này cho thấy một tỷ lệ khá khá cao trẻ trong độ tuổi mầm non có rối loạn RLTĐGCY, tỷ lệ này có thể bị ảnh hưởng của bới các yếu tố như chỉ lấy các thông tin qua phỏng vấn 7 z cha mẹ, đặc điểm tâm lý lứa tuổi mầm non là vận động nhiều, khả năng tập chung chú ý ngắn, kỹ năng lắng nghe kém là các triệu chứng điển hình TĐGCY nhưng không có tính ổn định do đó một số trẻ này khi lớn lên sẽ không đáp ứng đủ các tiêu chí chuẩn của rối loạn RLTĐGCY. Một số nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ trẻ có RLTĐGCY có xu hướng tăng lên. Trong nghiên cứu tìm sự gia tăng của RLTĐGCY trong khoảng thời gian từ 1998-2000 đến 2007-2009 của Bác sĩ Lara J. Akinbami, và các cộng sự (2011) cho thấy tỷ lệ RLTĐGCY tăng ở trẻ em trong nhóm tuổi từ 5-17 tuổi là từ 6,9% đến 9,0%.
Sự gia tăng được nhìn thấy ở cả nam và nữ, trẻ em trong các nhóm chủng tộc và dân tộc, ngoại trừ trẻ em có gốc Mexico, và trong nhóm trẻ em mà gia đình thu nhập dưới 200% mức nghèo khó. Theo khu vực địa lý, RLTĐGCY có độ phổ biến trong khu vực miền Nam và miền Trung Tây của Hoa Kỳ cao hơn trong khu vực Đông Bắc và Tây trong thời gian 2007-2009. Tỷ lệ ước tính trong nghiên cứu này được dựa trên báo cáo từ cha mẹ của đứa trẻ đã từng nhận được một chẩn đoán, và do đó kết quả có thể bị ảnh hưởng bởi tính chính xác từ trí nhớ của cha mẹ. Theo con số thống kê của Khảo sát y tế quốc gia Mĩ năm 2010 được nghiên cứu bởi Barbara Bloom và các cộng sự có 5 triệu trẻ từ 3 – 17 tuổi có RLTĐGCY (khoảng 8%).
Trong đó bé trai khoảng 11% và bé gái khoảng 6%. [10] - Nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng các nước Các nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng cho thấy, trẻ có RLTĐGCY có một vài đặc điểm lâm sàng như thường có vấn đề về học tập. Có tới 20% trong tổng số 202 trẻ được báo cáo có những rối loạn về học tập, có 52,8% trẻ có bệnh kết hợp. [30] một đặc điểm nữa của nhóm trẻ này là tỷ lệ mắc phải các rối loạn tâm thần cao như rối loạn thách thức chống đối, trầm cảm, rối loạn lưỡng cực và rối loạn lo âu.
Đây là kết quả mà Valerie J. Samuel và các cộng sự ( 1998) đã tiến hành nghiên cứu trên 19 trẻ em Mỹ gốc Phi Với mục 8 z tiêu khám phá bản chất RLTĐGCY ở trẻ em Mỹ gốc Phi trong độ tuổi từ 6 đến 17 tuổi [33]. Tuy nhiên các nghiên cứu trên có những hạn chế như về độ phủ về mặt địa lý của mẫu, các mẫu thường được lấy từ các phòng khám, hay số mẫu nhỏ vì thế kết quả đại diện không có tính tổng quát hay đại diện cho một quần thể nào đó. Một nghiên cứu khá lớn của Josephine Elia và các cộng sự (2008) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng TĐGCY trong nghiên cứu “Các mẫu bệnh xảy ra đồng thời ở trẻ em và vị thành niên” trên 342 khách thể gồm 274 nam (72.8%) là người da trắng từ 6 đến 18 tuổi mắc rối loạn RLTĐGCY, cho thấy các bệnh đồng thời phổ biến nhất xảy ra với RLTĐGCY là rối loạn phòng vệ chống đối (40,6%), trầm cảm không chủ yếu (21,6%), và rối loạn lo âu lan tỏa (15,2).
Kết quả cho thấy rối loạn phòng vệ chống đối, lo âu lan tỏa và trầm cảm không chủ yếu là rối loạn đồng thời khá phổ biến trong các mẫu có RLTĐGCY [25]. Mặc dù là một nghiên cứu khá công phu nhưng khách thể nghiên cứu được giới hạn ở người da trắng vì thế mẫu không thể đại diện cho mẫu dân số trẻ em và thành thiếu niên nói chung, ngoài ra bảng hỏi the Schedule for Affective Disorders & Schizophrenia for School aged Children- IVR không được dùng để chẩn đoán rối loạn học tập là rối loạn có thể là bệnh đồng thời với RLTĐGCY. Nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu trong nước sử dụng thang đo Conner cải biên (1997) cho việc phỏng vấn cha mẹ và giáo viên cho kết quả tỷ lệ có RLTĐGCY là 3,01% [9]. Trong đóTỷ lệ nam/nữ là 15:1, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ mà các tác giả nước ngoài đưa ra (3:1hoặc 4:1); thể hỗn hợp: 25 trường hợp (55,6%); thể tăng động nổi trội: 16 trường hợp (35,6%), thể giảm chú ý nổi trội: 4 trường hợp (8,8%) và rối loạn liên quan giữa rối loạn tăng động/giảm chú ý với quan hệ gắn bó của cha mẹ/người chăm sóc-trẻ [9].
Trong giáo trình Tâm lý học thần kinh của Võ thị Minh Chí (2003) đưa ra một tỷ lệ RLTĐGCY ở học sinh Trung học cơ sở là 1,28 [2, tr. Một nghiên 9 z cứu khác của Nguyễn Thị Vân Thanh (2009) với đề tài “Đặc điểm tâm lý lâm sàng của HSTH có rối loạn tăng động giảm chú ý” với các phương pháp như phỏng vấn sâu, quan sát, sử dụng các trắc nghiệm bổ trợ như Conner (1997) với hai phiên bản dành cho phụ huynh và giáo viên cho việc đánh giá sàng lọc trẻ có RLTĐGCY và trắc nghiệm đánh giá trí tuệ Gille dành cho trẻ từ 6- 12 tuổi để loại trừ các trẻ chậm phát triển trí tuệ và phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình đã đưa ra được một số kết luận sau: trẻ RLTĐGCY có sức bền chú ý ngắn, khối lượng chú ý nhỏ, mức độ các kỹ năng chú ý thấp. Trong học tập, trẻ thường biểu hiện đặc điểm giảm chú ý bằng việc mắc lỗi sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý thường biểu hiện xung động bằng việc khó kiềm chế hành vi của mình trước một sự hẫng hụt, một sự phấn khích vì vậy khó có hành vi thích ứng với bối cảnh giao tiếp.
Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng các đặc điểm tâm lý lâm sàng đặc trưng của HSTH có rối loạn tăng động giảm chú ý; mối quan hệ của mức độ biểu hiện các đặc điểm rối loạn tăng động giảm chú ý với kỹ năng gắn kết của trẻ với mẹ/người chăm sóc. Đây là cơ sở để xây dựng các biện pháp can thiệp cho các trường hợp được nghiên cứu dựa trên việc cải thiện quan hệ gắn kết giữa trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý với mẹ/người chăm sóc [8].