phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục; phần Nội dung của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 3: Xây dựng hệ thống bài tập theo định hƣớng phát triển năng lực rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh lớp 5. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm.
6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực Trong lĩnh vực giáo dục, việc xây dựng chiến lƣợc, mô hình và chƣơng trình dạy học phát triển năng lực của ngƣời học từ lâu đã đƣợc quan tâm đặc biệt và đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới. Trong lịch sử hình thành và phát triển, dạy học theo năng lực của ngƣời học đã tiếp nhận và vận dụng nhiều học thuyết, quan điểm dạy học khác nhau. Nhà sƣ phạm vĩ đại J.Comemxki (1592 – 1670) đã đƣa ra những yêu cầu đổi mới nền giáo dục theo hƣớng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của ngƣời học.
Theo ông dạy học thế nào để ngƣời học cảm thấy thích thú học tập, tự nghiên cứu chiếm lĩnh tri thức đó mới là cách dạy học dài lâu. Ông cho rằng: “ Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách … hãy tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn”[37, tr. Trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại”, ông đã đƣa ra nguyên tắc, phƣơng pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực của HS, ông cƣơng quyết phản đối cách dạy áp đặt, giáo điều. Tƣ tƣởng này cho thấy trong dạy học cần phải xây dựng hoài bảo, tạo động cơ đề ngƣời học tự vƣợt qua các trở ngại trong học tập.Rubakin (1862 – 1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, Nhà xuất bản (NXB) Thanh niên 1990, đã trình bày nhiều vấn đề về phương pháp học tập của HS ông đã cho rằng việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để người học tích cực trong học tập” [26, tr.
Nhƣ vậy trong quá trình dạy học, nhiệm vụ của ngƣời thầy phải xây dựng đƣợc bài tập nghiên cứu, hình thành đƣợc cho HS nhu cầu tự giải quyết các nhiệm vụ học tập là một trong các biện pháp giúp HS phát huy đƣợc năng lực. Ngƣời thầy phải biết cách định hƣớng HS tự mình đặt ra câu hỏi và tự mình nhận lấy câu trả lời. Trong cuốn sách Phát huy tính tích cực của HS như thế nào? tác giả Kharlamop If (1978) đã khẳng định vai trò quan trọng của việc HS tự học và tự chiếm lĩnh tri thức. Ông cho rằng: “Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học bình thƣờng các quy tắc, các kết luận khái quát hoá mà nó phải đƣợc xâydựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS”.29] 7 Ở nƣớc ta, việc dạy học phát triển năng lực đã và đang là một trong những định hƣớng then chốt trong quá trình dạy học trong những năm gần đây.
Điều này thể hiện trƣớc hết qua các văn bản chỉ đạo trong giáo dục, nội dung chƣơng trình GDPT mới. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 nêu rõ một trong những giải pháp phát triển giáo dục là: “Thực hiện đổi mới, chƣơng trình, sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hƣớng phát triển năng lực HS đồng thời đảm bảo tính thống nhất trong cả nƣớc, phù hợp với đặc điểm từng địa phƣơng”. Rõ ràng, định hƣớng phát triển năng lực toàn diện cho HS đã đƣợc đặt ra cách đây gần 10 năm, đƣợc thực hiện theo lộ trình và thể hiện rõ trong nội dung chƣơng trình phổ thông tổng thể đƣợc Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố năm 2018 và năm 2019 phát hành sách giáo khoa mới. Chƣơng trình GDPT cũng đặc biệt chú trọng đến tác động của môi trƣờng, tính đặc trƣng của giáo dục địa phƣơng để tạo nên thành công của việc đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục Việt Nam.
Nội dung văn kiện đã đề cập đến tính thực hành, mối quan hệ giữa các lực lƣợng xã hội, tác động của phƣơng pháp giáo dục, môi trƣờng giáo dục đến quá trình phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngƣời học. Đứng trƣớc nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung và đổi mới PPDH nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới nội dung dạy học theo hƣớng tiếp cận năng lực. Một số nghiên cứu tiêu biểu nhƣ Phương pháp luận khoa học giáo dục của Phạm Minh Hạc (2011), trong chuyên khảo này có 12 bài quan trọng, giúp ngƣời đọc lĩnh hội đƣợc những vấn đề căn cốt của sự phát triển khoa học giáo dục đất nƣớc trƣớc bối cảnh mới. Phạm Minh Hạc nêu kiến giải: “Trên cơ sở các yêu cầu của sự phát triển đất nước đề ra cho nhà trường mà lập ra chương trình biên soạn sách giáo khoa… Phải nhằm vào người học như là một xuất phát điểm cho kế hoạch đó, coi người học là trung tâm của nhà trường” GS.
Phạm Minh Hạc đã dẫn dắt ngƣời đọc nắm đƣợc triết lí giáo dục, xây dựng nền giáo dục nhân văn hƣớng đến phát triển năng lực ngƣời học. [5] Trong nghiên cứu Phát triển năng lực sáng tạo và sáng nghiệp cho HS của TS. Trần Thị Bích Liễu (2014), tác giả cho rằng: Chất lƣợng giáo dục không chỉ đơn thuần là kiến thức khoa học mà còn là sự phát triển tiềm năng của ngƣời học, đặc biệt là năng lực sáng tạo. Vì vậy, giáo dục và đào tạo đòi hỏi PPDH tích cực, kĩ thuật và công cụ dạy học mới.
Xác định mục tiêu phát triển nền kinh tế tri thức là phát triển con 8 ngƣời toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần và chú trọng các PPDH theo hƣớng tiếp cận năng lực. [22] Trong nghiên cứu Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, Lê Đình Trung (2016) tác giả đã chỉ ra rằng việc dạy học theo định hƣớng nội dung không còn phù hợp với xu thế hiện nay vì tri thức thay đổi và bị lạc hậu nhanh chóng; việc quy định cứng nhắc những nội dung chi tiết trong chƣơng trình dạy học dẫn đến tình trạng nội dung dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại. Do đó, việc rèn luyện phƣơng pháp học tập theo hƣớng tiếp cận năng lực ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho con ngƣời có khả năng học tập suốt đời. [33] Dựa trên cách tiếp cận và quan điểm, dạy học theo tiếp cận năng lực HS tạo điều kiện cho GV phát huy tối đa năng lực chuyên môn của mình thông qua việc tự chủ trong việc lựa chọn phƣơng pháp, kĩ thuật dạy học, PPDH, xây dựng môi trƣờng học tập và mở rộng không gian lớp học.
Đồng thời giúp ngƣời học khơi gợi đƣợc sự hứng thú, tự chiếm lĩnh tri thức từ việc định hƣớng nội dung học tập của ngƣời dạy. Những nghiên cứu về dạy học tiếng Việt theo hƣớng phát triển năng lực cho học sinh tiểu học Ở Việt Nam, việc dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực cũng đã đƣợc đề cập đến trong nhiều tài liệu những năm gần đây khi bàn về đổi mới GDPT. Cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, định hƣớng dạy học phát triển năng lực cho ngƣời học đƣợc nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ. Theo đánh giá của nhiều nhà giáo dục học, chƣơng trình GDPT 2006 đƣợc xây dựng theo định hƣớng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chƣa chú trọng giúp HS vận dụng kiến thức học đƣợc vào thực tiễn.
Theo mô hình này, kiến thức vừa là “chất liệu”, “đầu vào” vừa là “kết quả”, “đầu ra” của quá trình giáo dục. Vì vậy, HS phải học và ghi nhớ rất nhiều nhƣng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế. Trong một số công trình của mình, PGS. TS Đỗ Ngọc Thống đã nhìn lại những điểm bất cập và khả thi trong chƣơng trình Ngữ văn phổ thông hiện hành, từ đó đề xuất một số ý tƣởng, giải pháp cơ bản cho việc đổi mới “căn bản, toàn diện” giáo dục phổ thông sau 2015.
Chẳng hạn: chuyển từ tiếp cận kiến thức sang tiếp cận năng lực; xác định lại mục tiêu môn học; xây dựng chƣơng trình tổng thể với hệ thống chuẩn 9 mới; đổi mới phƣơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá; triệt để thực hiện dạy học tích cực và phân hóa. [31] Chƣơng trình GDPT tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2018 đƣợc xây dựng theo quan điểm phát triển năng lực ngƣời học. Kế thừa các nguyên lí giáo dục nền tảng nhƣ “Học đi đôi với hành”, “Lí luận gắn liền với thực tiễn”, “Giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội”. Theo cách tiếp cận này, kiến thức đƣợc dạy học không nhằm mục đích tự thân.
Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp HS hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học. Một trong những điểm quan trọng của chương trình Ngữ văn 2018 nói chung, chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói riêng là chƣơng trình mở. Chƣơng trình chỉ nêu lên những yêu cầu cần đạt về bốn năng lực đọc, viết , nói và nghe; phần nội dung, chƣơng trình chỉ nêu một số nội dung cốt lõi của mỗi lớp, mỗi cấp bao gồm những nội dung cơ bản về kiến thức tiếng Việt, kiến thức văn học và gợi ý ngữ liệu. Việc chuyển hƣớng dạy của chƣơng trình GDPT 2018 là một bƣớc quan trọng theo hƣớng xã hội hóa, cập nhật với xu hƣớng quốc tế.
Trên con đƣờng thay đổi này sẽ có nhiều trở ngại và những sai sót là điều không thể tránh khỏi. Việc thực hiện không chỉ diễn ra trong việc soạn sách giáo khoa mà còn trong việc tổ chức dạy và học, nhận xét và đánh giá kết quả của HS. Ở tiểu học, những nghiên cứu về dạy học tiếng Việt theo định hƣớng phát triển năng lực cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, nhà sƣ phạm, nhà giáo tâm huyết đề cập đến.