PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), loài người đã trải qua “thời đại bệnh truyền nhiễm”, “thời đại bệnh thể xác” và đang chuyển sang “thời đại bệnh tinh thần” trong thế kỷ XXI [18]. Việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất đã mang lai nhiều hiệu quả kinh tế, giáo dục và y tế… diện mạo đất nước đã có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Cùng với sự phát triển chung của đất nước thì trong những năm gần đây ngành y tế nước ta đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, công tác chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho nhân dân được thực hiện tốt hơn.
Nhưng đồng thời với hiệu quả trên, đặc điểm người lao động không kịp thích nghi và họ đã bị stress dưới nhiều dạng khác nhau trong mọi lĩnh vực ngay cả đối tượng lao động trong lĩnh vực y tế. Công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện là các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các cán bộ nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh. Mục đích là hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn về xã hội để đạt được hiệu quả chăm sóc sức khỏe tốt nhất. Nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện là cầu nối để giải quyết các mâu thuẫn giữa bệnh nhân và nhân viên y tế, giữa nhân viên y tế và nhân viên y tế, giữa bệnh nhân và bệnh nhân,.Do đó, CTXH trong bệnh viện thực sự có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
CTXH không chỉ đơn thuần là công tác từ thiện trong bệnh viện, như các bữa ăn, nồi cháo từ thiện cho bệnh nhân nghèo, tặng quà cho bệnh nhân khó khăn mà còn chăm lo đời sống tinh thần của cán bộ nhân viên y tế trong bệnh viện. Theo niên giám thống kê năm 2013, cả nước có khoảng 1.125 bệnh viện với 215.640 giường bệnh. Trong số này có 46 bệnh viện Trung ương với 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.756 giường bệnh, 447 bệnh viện tuyến tỉnh với 110.549 giường bệnh, 1.214 bệnh viện huyện với 77.134 giường bệnh và 155 bệnh viện công lập với 9.501 giường bệnh1. Trong khi đó tại hầu hết các bệnh viện của cả nước, nhất là các bệnh viện tuyến trên thường xuyên ở trong tình trạng quá tải, vượt mức so với số giường bệnh cho phép.
Công suất sử dụng giường bệnh chung của các bệnh viện tuyến trung ương năm 2009 là 116% tăng lên 120% năm 2010 và 118% năm 2011. Trầm trọng hơn cả là bệnh viện K: 249%, Bạch Mai:168%, Chợ Rẫy: 154%, Phụ sản Trung ương: 124%2. Hơn nữa những năm trở lại đây tình trạng bệnh tật gia tăng và xuất hiện nhiều những căn bệnh lạ, các bệnh dịch cũ tái phát với mức độ lây lan rộng, tỷ lệ tử vong cao. Tất cả những điều đó làm lượng bệnh nhân tăng dồn dập theo từng chu kỳ bệnh.
Trong khi đó, nhu cầu khám chữa bệnh với chất lượng dịch vụ cao ngày càng lớn, nên lượng bệnh nhân đổ dồn về các bệnh viện chuyên khoa tuyến trên ngày một tăng. Sự quá tải nêu trên dẫn đến một hiện trạng làm việc căng thẳng của đội ngũ y, bác sĩ, đặc biệt tại hệ thống bệnh viện Trung ương, đã có một lúc bác sĩ một ngày phải khám chữa từ vài chục đến hàng trăm bệnh nhân, điều này dẫn tới việc các bác sỹ không đủ thời gian, nhiệt tình và sức lực để tiếp tục hoạt động, tư vấn trả lời những thắc của người bệnh. Tất yếu, người bệnh sẽ không hài lòng về dịch vụ mà họ đang sử dụng đồng thời tạo nên áp lực công việc đối với đội ngũ y, bác sĩ bằng dư luận, truyền thông khiển trách cán bộ ngành y tế. Theo ông Lương Ngọc Khuê - Cục trưởng Cục quản lý Khám chữa bệnh - chỉ trong 3 tháng đầu năm 2017, đã có hàng chục vụ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân vào bệnh viện hành hung, đe dọa y, bác sĩ, gây rối làm mất an ninh trật tự tại bệnh viện.
Thậm chí, một số đối tượng còn lợi dụng các sự cố y khoa để đe dọa, tống tiền… bác sĩ và bệnh viện. Cũng theo ông Khuê, các vụ xảy ra chủ yếu ở bệnh viện tuyến tỉnh (chiếm 60%), BV tuyến trung ương 1 Nguồn: Niên giám thống kê y tế 2013 2 Nguồn: Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2010-2020 của Bộ Y tế năm 2012 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối tượng bị tấn công, hành hung chủ yếu là bác sĩ (chiếm 70%), tiếp đến là điều dưỡng (chiếm 15%)3. Bệnh viện đa khoa Hà Đông là bệnh viện hạng I của Sở Y tế ( Bệnh viện tỉnh Hà Tây cũ) nằm tại số 2 Bế Văn Đàn, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội.
Bệnh viện với 700 giường bệnh và 900 cán bộ nhân viên y tế, có khu dành riêng cho tội phạm và HIV/AIDS. Tại đây bệnh viện đang gặp tình trạng quá tải do các tuyến dưới chuyển lên, những khó khăn áp lực tâm lý tại những điểm nóng như khoa Khám bệnh, khoa Cấp cứu, khoa Nhi, Chấn thương… đội ngũ y, bác sĩ luôn bận rộn trong công việc khám, tư vấn, điều trị cho bệnh nhân song áp lực công việc, những vụ việc như hành hung bác sĩ diễn ra tại khoa Cấp cứu thời gian vừa qua khiến đội ngũ nhân viên y tế áp lực lo lắng ngày càng cao. Với những lý do xuất phát từ thực trạng những vấn đề khó khăn của CBNV y tế ngành y, cũng như từ thực trạng khó khăn của CBNV y tế tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông, thực trạng của bệnh viện về chăm lo đời sống tinh thần của nhân viên mà các đề tài đã nghiên cứu về bệnh viện trước chưa chạm đến được là lý do tôi chon vấn đề nghiên cứu “Vai trò nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ cán bộ y tế Bệnh viện đa khoa Hà Đông giảm “stress”. Tổng quan nghiên cứu 2.
Công tác xã hội trong y tế trên thế giới Vai trò Công tác xã hội trong y tế trên thế giới Ở Mỹ, công tác xã hội lần đầu tiên được đưa vào bệnh viện năm 1905 tại Boston và đến nay hầu hết các bệnh viện đều có phòng công tác xã hội và đây là một trong những điều kiện để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viên Mỹ. Tại châu Á, hoạt động công tác xã hội được công nhận đầu tiên tại Trung Quốc là hoạt động xã hội về y tế tại khoa CTXH bệnh viện tại Bắc 3 Nguồn: Bộ Y Tế (2006), Sức khỏe nghề nghiệp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kinh, thành lập năm 1921 bởi một nhân viên làm công tác xã hội Hoa Kỳ, Ida Pruit. Bộ phận này cung cấp các dịch vụ nghiên cứu xã hội, công tác thích ứng, tái định cư; bên cạnh đó, đào tạo dịch vụ được tổ chức cho các nhân viên xã hội-xã thể đây là công việc đào tạo đầu tiên tại Trung Quốc4. Trên thực tế trên thế giới các đề tài nghiên cứu công tác xã hội trong y tế rất nhiều và tại các nhóm đôí tượng như bệnh nhân, người nhà bệnh nhân với các mặt bệnh vấn đề khó khăn họ gặp phải và các nghiên cứu không quên nhóm đối tượng là cán bộ nhân viên y tế.
Đề tài nghiên cứu của Paul A. Landsbergis “Sự căng thẳng trong công việc của nhân viên chăm sóc sức khoẻ: Một bài kiểm tra mô hình kiểm soát nhu cầu công việc “đề tài nghiên cứu một mô hình mới của sự căng thẳng nghề nghiệp phát triển bởi Robert Karasek kết hợp các hiệu ứng kiểm soát và xã hội hoá và đã thành công dự đoán sự phát triển của bệnh tim và căng thẳng tâm lý. Công cụ điều tra 771 nhân viên bệnh viện và nhân viên nhà dưỡng lão ở New Jersey và 289 (37,5%) Những người được hỏi không khác biệt nhiều so với những người không theo tuổi, giới tính, việc làm, tình trạng hội viên, sự hài lòng công việc, nhận thức nghề nghiệp và thái độ đối với người sử dụng lao động và công đoàn. Các kết quả ủng hộ giả thuyết cho thấy mức độ công việc được báo cáo (sự không hài lòng trong công việc, trầm cảm, triệu chứng tâm thần) và sự thâm hụt cao hơn đáng kể trong các công việc kết hợp nhu cầu công việc cao với độ quyết định thấp.
Sự liên kết này vẫn còn quan trọng sau khi kiểm soát tuổi, giới tính, giáo dục, tình trạng hôn nhân, trẻ em, số giờ làm việc mỗi tuần và ca làm việc. Các đặc điểm công việc khác (mất an ninh, mất sức lao động, hỗ trợ xã hội, tiếp xúc nguy hiểm) cũng liên quan đến sự căng thẳng và chán nản. Công cụ điều tra cũng xác định được các công việc có mức độ cao trong các địa điểm làm việc được khảo sát. Các kết quả được thảo luận liên 4 Nguồn: Ths.
Trần Thị Trân Châu năm 2016“Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện trên thế giới và ở Việt Nam” Kỳ yếu hội thảo khoa học: Công tác xã hội trong bệnh viện- Những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành: tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan đến các hướng nghiên cứu trong tương lai, nghiên cứu về căng thẳng trong điều dưỡng, và phương pháp giảm căng thẳng5 Những công trình nghiên cứu “stress” Cán bộ y tế trên thế giới Stress và sự hài lòng của công việc giữa các thành viên y tế là chủ đề nghiên cứu sâu rộng vì nhiều lý do, bao gồm cả mối quan hệ của những thái độ nghề nghiệp với các biện pháp thực hiện công việc (Ivancevich & Matteson, năm 1980. Ngoài ra, Hinshaw và Atwood (1983) và Lucas, Atwood và Hagaman(1993) báo cáo rằng căng thẳng công việc và sự hài lòng trong công việc là mối tương quan quan trọng của doanh thu, công việc dự kiến và thức tế giữa các nhân viên y tế [29] Một nghiên cứu của Aiken và cộng sự (2001) tìm thấy bất mãn trong công việc của các y tá là cao nhất tại Hoa Kỳ (41%) tiếp theo là Scotland (38%), Anh (36%), Canada (33%) và Đức (17%). Về môi trường làm việc, chỉ có khoảng 1/3 các y tá ở Canada và Scotland càm thấy rằng họ tham gia phát triển các lịch trình công việc của mình khi so sánh với các nước khác.