ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dƣỡng tốt có vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất và tâm thần trẻ em. Dinh dƣỡng kém sẽ ảnh hƣởng đến sự phát triển chiều cao, trí tuệ và còn làm nặng thêm các bệnh nhƣ tiêu chảy, viêm phổi…. Theo số liệu của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho thấy có đến 54% trƣờng hợp tử vong của trẻ em ở các nƣớc đang phát triển là có liên quan đến tình trạng dinh dƣỡng [4]. Bƣớc sang ngƣỡng cửa của thế kỷ XXI, không chỉ riêng nƣớc ta mà nhiều nƣớc trên thế giới vẫn đang phải tiếp tục đƣơng đầu với thách thức của tình trạng nghèo và suy dinh dƣỡng (SDD).
SDD là tình trạng cơ thể thiếu prôtein, năng lƣợng và các vi chất dinh dƣỡng [21]. Bệnh thƣờng gặp nhiều nhất ở trẻ em dƣới 5 tuổi, biểu hiện ở những mức độ khác nhau, không những gây ảnh hƣởng đến sự phát triển thể chất, tâm thần và vận động của trẻ, mà còn ảnh hƣởng đến sức lao động của xã hội sau này, trƣờng hợp nặng có thể dẫn tới tử vong. Đặc biệt ở giai đoạn trẻ từ 6 tháng đến 24 tháng tuổi, giai đoạn này trẻ bắt đầu cai sữa mẹ và ăn dặm, ăn bổ sung nên có nguy cơ cao dẫn đến rối loạn về dinh dƣỡng dẫn đến ảnh hƣởng đến tình trạng sức khoẻ của trẻ [3]. Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ SDD cao trên thế giới.
Suy dinh dƣỡng ở trẻ em Việt Nam có rất nhiều nguyên nhân, nhƣng sự nghèo đói và thiếu kiến thức đƣợc xem là nguyên nhân gốc rễ. Nhiều sai lầm dẫn đến suy dinh dƣỡng trẻ em không phải do thiếu thực phẩm hộ gia đình mà là do thiếu sót ở kiến thức, thực hành chăm sóc của bà mẹ [18]. Đối tƣợng giáo dục kiến thức chủ yếu là bà mẹ, cho nên bà mẹ phải biết cách nuôi con để đứa con phát triển tốt, tránh đƣợc nhiều bệnh, đặc biệt là suy dinh dƣỡng trẻ em. Các bà mẹ còn thiếu kiến thức nuôi con dẫn tới việc thực hành còn hạn chế.
Hoặc có kiến thức nuôi con nhƣng không có điều kiện để thực hành chăm sóc con đúng cách cũng là yếu tố tác động trực tiếp tới tình trạng dinh dƣỡng của trẻ, đồng thời tác động gián tiếp tới nguồn lao động tƣơng lai của đất nƣớc. Đây sẽ là thách thức lớn đối với Việt Nam trong tƣơng lai về chất lƣợng nguồn lao động trong xu thế “cơ cấu dân số vàng” hiện nay [7]. 2 Do đó bà mẹ có hiểu biết chính xác và thực hành thích hợp thì có thể nuôi trẻ không bị suy dinh dƣỡng với các điều kiện thực tế khắc nghiệt hiện nay. Vì vậy, một trong những chiến lƣợc quan trọng trong phòng SDD là công tác truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm làm chuyển biến tốt kiến thức, thực hành của các bà mẹ về nuôi dƣỡng trẻ [8] [15].
Muốn thực hiện chiến lƣợc này cần có những khảo sát và nghiên cứu khoa học thích hợp làm cơ sở và tiền đề cho việc xây dựng kế hoạch của chƣơng trình phòng SDD tại địa phƣơng một cách phù hợp và có hiệu quả. Xã N’Thôn Hạ, Huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng là xã nghèo của huyện, có tỷ lệ SDD cao. Ngƣời dân trong xã chủ yếu là dân tộc thiểu số (DTTS), do đó nhận thức còn chƣa cao, chƣa tiếp xúc đƣợc với các thông tin xã hội cập nhật. Bên cạnh đó vẫn còn những hủ tục mang tính địa phƣơng nhƣ cho trẻ ăn bổ sung sớm trƣớc 6 tháng để cứng cáp hơn, không cho trẻ ra ngoài ánh sáng mặt trời… nên công tác chăm sóc cho phụ nữ và trẻ em còn chƣa tốt.
Ngƣời chăm sóc trẻ chính là bà mẹ lại phải dành nhiều thời gian cho việc làm nƣơng rẫy. Thêm vào đó, trẻ em giai đoạn từ 6 đến 24 tháng tuổi là giai đoạn quan trọng vì đây là thời kỳ có nhu cầu dinh dƣỡng cao, sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dƣỡng của trẻ, là thời kỳ thích ứng với môi trƣờng và rất nhạy cảm với bệnh tật [19]. Đồng thời tại địa phƣơng vẫn chƣa có nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề chăm sóc dinh dƣỡng cho trẻ. Từ những lý do nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng suy dinh dưỡng cho trẻ từ 6 đến 24 tháng của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại xã N’Thôn Hạ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng năm 2015”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng suy dinh dƣỡng cho trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi của bà mẹ tại xã N’Thôn Hạ huyện Đức Trọng năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng suy dinh dƣỡng cho trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi của bà mẹ tại xã N’Thôn Hạ huyện Đức Trọng năm 2015. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1.1 Khái niệm chung. * Dinh dƣỡng: Dinh dƣỡng là tình trạng cơ thể đƣợc cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dƣỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trƣởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [11]. * Tình trạng dinh dƣỡng: Tình trạng dinh dƣỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và sinh hoá phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dƣỡng là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố nhƣ: Tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trƣờng, công tác chăm sóc trẻ, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ… Tình trạng dinh dƣỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn đƣa vào cơ thể và tình trạng sức khoẻ.
Khi cơ thể có tình trạng dinh dƣỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dƣỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dƣỡng, hoặc cả hai [11]. * Định nghĩa suy dinh dƣỡng: SDD là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lƣợng và các vi chất dinh dƣỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dƣới 5 tuổi, đặc biệt ở giai đoạn trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi. Biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhƣng ít nhiều đều có ảnh hƣởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ [11].
Theo WHO,UNICEF: SDD là hậu quả để lại do thiếu hụt lƣợng dinh dƣỡng cần đƣợc cung cấp vào hoặc do yếu tố bệnh tật tác động đến quá trình tiêu hóa của cơ thể. * Thiếu dinh dƣỡng Protein, năng lƣợng: Thiếu protein, năng lƣợng là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế độ ăn không đảm bảo nhu cầu protein và năng lƣợng, tình trạng kèm theo là các bệnh nhiễm khuẩn [22]. 5 * Phân loại suy dinh dƣỡng: - Về lâm sàng: Thể nhẹ cân: nhẹ cân chỉ là một đặc tính của thiếu dinh dƣỡng nhƣng không cho biết đặc điểm cụ thể đó là loại SDD vừa mới xảy ra hay đã tích lũy từ lâu. Tuy nhiên theo dõi cân nặng là việc tƣơng đối dễ thực hiện ở cộng đồng hơn cả do đó tỷ lệ thiếu cân nặng theo tuổi vẫn đƣợc thông dụng nhƣ là tỷ lệ chung của SDD.
Thể thấp còi: chiều cao theo tuổi thấp phản ánh sự chậm tăng trƣởng do điều kiện sức khỏe và dinh dƣỡng không hợp lý. Đây là một chỉ tiêu tốt để đánh giá sự cải thiện kinh tế xã hội. Thể gày còm:cân nặng theo chiều cao thấp thƣờng phản ánh một tình trạng thiếu ăn gần đây cũng có thể xa hơn. Thƣờng thƣờng tỷ lệ này là cao nhất ở lứa tuổi 2 tuổi [3] - Về hình thái: SDD thể teo đét (Marasmus) đây là hậu quả của chế độ ăn thiếu cả năng lƣợng và protein, hoặc do cai sữa quá sớm, hoặc cho trẻ ăn bổ sung không hợp lý.
SDD thể phù (Kwashiorkor) ít gặp hơn, thƣờng là do chế độ ăn quá nghèo protit nhƣng tạm đủ các chất gluxit. Ngoài ra còn có thể phối hợp giữa hai thể, trẻ thƣờng biểu hiện gầy đét nhƣng có phù [3]. * Thiếu vi chất dinh dƣỡng: Các bệnh thiếu vi chất dinh dƣỡng là một vấn đề quan trọng của sức khoẻ cộng đồng trong thập kỷ này, đƣợc gọi là “nạn đói tiềm ẩn” vì khác với nạn đói thông thƣờng. Thiếu vi chất dinh dƣỡng không gây nên cảm giác đói khát, nhƣng hậu quả vô cùng lớn lao đối với sức khoẻ.
Vì vậy, phòng thiếu vi chất dinh dƣỡng còn mang ý nghĩa lớn cả về sản xuất, năng lực học hành, là một chiến lƣợc về sức khoẻ và phát triển.2 Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dƣỡng trẻ em Khẩu phần ăn: các số liệu điều tra về khẩu phần ăn ở cả ngƣời lớn và trẻ em cho thấy chế độ ăn đóng vai trò quan trọng dẫn tới tình trạng SDD ở Việt Nam. Nhìn chung, khẩu phần ăn ở cả ngƣời lớn và trẻ em nƣớc ta còn ở mức thấp so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Đối với trẻ em dƣới 60 tháng tuổi thì hầu hết các gia đình cho trẻ ăn 6 cơm cùng bữa cơm với gia đình, nhƣng số bữa ăn hằng ngày thấp (trung bình 3 bữa/ngày). Tần suất xuất hiện các thực phẩm nhƣ thịt, cá, trứng, sữa trong bữa ăn của trẻ thấp, thƣờng do điều kiện kinh tế gia đình hoặc do hiểu biết của bà mẹ về chăm sóc dinh dƣỡng trẻ em còn hạn chế[16].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Ninh tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên năm 2004 cho thấy chỉ có 25% bà mẹ kể đƣợc bốn nhóm thực phẩm cần thiết phải bổ sung cho trẻ [13]. Bệnh tật: Thiếu dinh dƣỡng và bệnh nhiễm trùng ở trẻ em gây ảnh hƣởng tới sự phát triển chung của trẻ trong thời gian dài. Ở các nƣớc đang phát triển, sự lƣu hành của các bệnh nhiễm trùng, thiếu dinh dƣỡng và tử vong ở trẻ em cao hơn ở các nƣớc phát triển. Thiếu máu có thể là do nguyên nhân của thiếu dinh dƣỡng, mắc các bệnh nhiễm trùng và mất máu.
Thiếu sắt là nguyên nhân chính của 50% các trƣờng hợp thiếu máu. Thiếu một số các vi chất dinh dƣỡng khác nhƣ vitamin nhóm B (B6, B12, riboflavin) và axit folic cũng có thể gây thiếu máu [24]. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột (KSTĐR): cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra SDD, thiếu máu ở trẻ em. Một số nghiên cứu về nhiễm giun ở trẻ em cho thấy tỷ lệ nhiễm giun rất cao (khoảng 60-95%) với các loại giun chủ yếu là giun đũa và giun móc.
Nhiễm các loại giun cũng là vấn đề cần đƣợc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp phù hợp.