ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh da ̣i là b ệnh viêm naõ tủy c ấp tính do vi rút dại (Rhabdovirus) thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus, lây truyền tƣ̀ động vật sang ngƣời chủ yếu qua vế t cắ n của động vâ ̣t mắ c bê ̣nh. Hiện nay, bệnh dại có ở tất cả các khu vực trên toàn thế giới, tuy nhiên, bệnh thƣờng lƣu hành ở các nƣớc thuô ̣c khu vƣ̣c châu Á và châu Phi. Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì có 80% ca tử vong do bệnh dại xảy ra ở Châu Á và Châu Phi50. Chi phí ƣớc tính hàng năm cho phòng bệnh dại chỉ tính riêng khu vực Châu Á vào khoảng 583,5 triệu USD[52].
Ở Việt Nam, bệnh dại lƣu hành và phát triển trên toàn quốc và số ca tử vong đang quay trở lại và tăng lên trong những năm gần đây. Những năm 1990-1995, tỷ lệ tử vong là 0,43/100.000 dân, trung bình mỗi năm có 350-500 ca tử vong[6]. Trong giai đoạn từ năm 1996 - 2007 tỷ lệ tử vong đã giảm 75% so với năm 1995[6]. Số lƣợng ca tử vong do bệnh dại năm 1994 là 505 ca đã giảm xuống còn 34 ca năm 2003[5].
Tuy nhiên, từ năm 2004 đến nay, bệnh dại có chiều hƣớng tăng lên. Cụ thể năm 2007 cả nƣớc có 131 ca tử vong do dại, tỷ lệ tử vong trên 100.000 dân là 0,154, đến năm 2012 có 98 ca, 2013 tăng lên 105 ca trên cả nƣớc[32, 33]. Theo báo cáo của Chƣơng trình phòng bệnh dại quốc gia - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ƣơng cho thấy, mỗi năm cả nƣớc vẫn có từ 300.000 ngƣời bị súc vật cắn phải tiêm phòng dại. Ƣớc tính chi phí về vaccin và huyết thanh kháng dại cho việc điều trị dự phòng sau khi bị chó nghi dại cắn là hơn 300 tỷ đồng/1 năm[33].
Bệnh dại xuất hiện trên khắp cả nƣớc. Đặt biệt các tỉnh phía Bắc nhƣ Nghệ An, Hoà Bình, Yên Bái, Vĩnh phúc, Lai Châu và Hà Nội là những tỉnh có số ca tử vong do bệnh dại cao vào năm 2013 Một số tỉnh sau nhiều năm không có ngƣời tử vong thì nay lại quay lại hiện nay nhƣ là Thanh Hoá, Thái Bình, Hƣng Yên. Bệnh dại đƣợc WHO xếp loại nhóm bệnh có nguy cơ tử vong cao nhƣng lại dễ phòng bệnh. Nâng cao kiến thức và xây dựng các chính sách phòng chống bệnh dại đƣợc xem là những cách hiệu quả để phòng chống bệnh dại và tử vong do bệnh dại.
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng kế hoạch dự phòng bệnh dại cho trung tâm y tế Tỉnh Vĩnh Phúc, tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng 2 chống bệnh dại của người dân nuôi chó và một số yếu tố liên quan tại hai xã Sơn Đông và Tử Du, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc năm 2015”. mục tiêu sau cùng của nghiên cứu nhằm cung cấp những thông tin cho kế hoạch tuyên truyền và triển khai các biện pháp phòng chống bệnh dại cho địa phƣơng 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh dại của ngƣời dân nuôi chó tại hai xã Sơn Đông và Tử Du, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh dại của ngƣời dân có nuôi chó tại hai xã Sơn Đông và Tử Du, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc năm 2015.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của hệ thống thần kinh trung ƣơng ở loài động vật có vú do nhiễm vi rút dại. Bệnh lây từ động vật sang ngƣời bởi chất tiết bị nhiễm vi rút, thông thƣờng là nƣớc bọt. Hầu hết các trƣờng hợp ngƣời phơi nhiễm với bệnh dại đều qua vết cắn của súc vật mắc bệnh, nhƣng đôi khi có thể bị nhiễm qua đƣờng tiếp xúc khác nhƣ ghép tổ chức bị nhiễm vi rút dại.
Khi đã lên cơn dại, kể cả ngƣời và súc vật đều dẫn đến tử vong[2, 12, 13]. Tác nhân gây bệnh Tác nhân gây bệnh là vi rút dại thuộc họ Rhabdovirus, giống Lysavirus hình viên đạn một đầu tròn, một đầu dẹt. Sức đề kháng của vi rut dại yếu, dễ bị bất hoạt ở 56 độ C trong vòng 30 phút, ở 60 độ C trong vòng 5-10 phút, trong điều kiện lạnh 40 C có thể sống đƣợc từ vài tuần đến 12 tháng. Vi rút dại cƣ trú chủ yếu trong hệ thần kinh, trong tuyến nƣớc bọt và đào thải theo nƣớc dãi của con vật bị mắc bệnh dại.Vi rút có mặt tối đa 13 ngày trƣớc khi chó có biểu hiện đầu tiên của bệnh[2, 11], [13].
Ổ chứa Ổ chứa vi rút dại trong thiên nhiên là động vật có vú máu nóng, nhất là ở chó hoang dã nhƣ chó sói, chó rừng, dơi, chồn, mèo, cầy và những động vật có vú khác nhƣ khỉ cũng là ổ chứa vi rút dại. Tại Châu Âu bệnh lƣu hành rộng rãi ở loài cáo, Mỹ, Canađa thƣờng xẩy ra ở gấu trúc, chồn, cáo, chó sói đồng và dơi và Châu Âu còn thấy loài dơi ăn sâu bọ bị nhiễm vi rút. Ở các nƣớc đang phát triển thì ổ chứa vi rút dại chủ yếu là chó, ngoài ra còn ở mèo, chuột, sóc, thỏ.Một số động vật sống gần ngƣời nhƣ trâu bò, lợn, dê, cừu, ngựa cũng có thể mắc bệnh dại và trở thành nguồn bệnh tạm thời song ít lan truyền bệnh. Ở Việt Nam, chó là ổ chứa vi rút dại chủ yếu chiếm 96-97%, sau đó là mèo chiếm 3-4%, [2], [12], [13], [15].
Phương thức lây truyền bệnh Bệnh dại đƣợc lây truyền từ động vật sang ngƣời chủ yếu là qua nƣớc bọt của súc vật mắc bệnh và theo vết cắn, vết cào vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ƣơng. Khi đến thần kinh trung ƣơng, vi rút sinh sản rất nhanh rồi lại theo dây thần kinh ra tuyến nƣớc bọt. Tại thời điểm này thần kinh chƣa bị tổn thƣơng đáng kể vì thế nhìn bề ngoài con vật vẫn bình thƣờng nhƣng đã có khả năng truyền bệnh qua nƣớc bọt. Sau đó vi rút dại xâm nhập vào các tế bào thần kinh làm xuất hiện các biểu hiện lâm sàng điển hình của bệnh dại.
Sự lây truyền bệnh qua đƣờng không khí đã đƣợc chứng mình trong quần thể loài dơi sống ở hang động và ở môi trƣờng phòng thí nghiệm. Sự lây truyền bệnh dại từ ngƣời sang ngƣời có thể xảy ra do tiếp xúc với nƣớc dãi của ngƣời bị bệnh dại, nhƣng trên thực tế rất hiếm khi xảy ra. Chỉ có một trƣờng hợp đƣợc công bố bệnh dại lây từ ngƣời sang ngƣời là do cấy ghép giác mạc lấy từ ngƣời bị chết vì bệnh dại mà đã không đƣợc chẩn đoán từ trƣớc[2], [6],[12], [15]. Tính cảm nhiễm và sức đề kháng Tất cả loài động vật máu nóng đều có cảm nhiễm với vi rút dại ở mức độ khác nhau.
Tính cảm nhiễm cao nhất là chó, chó sói, mèo, cáo rồi đến trâu, bò, ngựa, lợn, lạc đà, khỉ, gấu, chuột. Do đó, chó bị mắc bệnh nhiều nhất. Các loài dơi đều có thể nhiễm bệnh. Loài chim không mẫn cảm với bệnh dại trừ khi gây bệnh thí nghiệm.
Trong thí nghiệm thƣờng dùng thỏ, chuột lang, chuột bạch. Ngƣời cũng có cảm nhiễm cao với bệnh dại nhƣng có vẻ kém hơn một số súc vật. Cho đến nay chúng ta vẫn chƣa biết đƣợc tính miễn dịch tự nhiên ở ngƣời[6], [12]. Đặc điểm của bệnh dại 1.Đặc điểm bệnh dại ở động vật 1.Đặc điểm bệnh dại ở động vật hoang dại Vi rút dại cƣ trú ở động vật hoang dại.
Đây là nguồn lây thƣờng xuyên khi động vật hoang dại tiếp xúc với động vật nuôi và truyền vi rút dại cho động vật nuôi. Những động vật hoang dại thƣờng là những động vật ăn thịt nhƣ: chó sói, chó rừng, cáo, dơi, hút máu, dơi ăn côn trùng, chuột. Đôi khi cả những động vật ăn hoa quả cũng có thể mắc dại. Môt số nghiên cứu cho thấy, dơi và và một sô động vật hoang 6 dại khác nhƣ chồn, đào thải vi rut dại ít nhất 8 ngày trƣớc khi có triệu chứng lâm sàng và có thể kéo dài tới 18 ngày trƣớc khi chết[36].
Đặc điểm bệnh dại ở động vật nuôi - Thời kỳ ủ bệnh, đƣờng lây truyền dại ở động vật nuôi Động vật nuôi bị lây nhiễm bệnh dại ở động vật hoang dã qua vết cắn, cào, xây xát. Thời kỳ ủ bệnh dại ở nhóm động vật này có thể thay đổi từ 3-7 ngày đến nhiều tháng. Thƣờng là trong vòng 21 – 30 ngày sau khi con vật nhiễm vi rút dại. Các loại động vật nuôi bị dại thƣờng là chó, trâu, bò, lợn, ngựa.Tuy nhiên trâu, bò mắc bệnh ít nguy hiểm cho ngƣời hơn vì chúng không có khuynh hƣớng cắn ngƣời nhƣng sự lây nhiễm vẫn có thể có.
Một số nhà khoa học cho rằng, ở chó vi rút dại có trong nƣớc bọt 3 ngày trƣớc khi con vật có biểu hiện, các biểu hiện lâm sàng của bệnh. Một số ngƣời khác cho rằng khoảng thời gian phải là từ 7 ngày tới 10 ngày. Tuy nhiên, đại đa số thống nhất rằng thời gian này là 10 ngày[2], [15]. - Các biểu hiện lâm sàng của chó, mèo dại Các biểu hiện lâm sàng ở chó bị bệnh dại thƣờng đƣợc chia làm 2 thể, thể dại điên cuồng và thể dại câm [2],[15].
+Thể dại điên cuồng ở chó đƣợc chia làm 3 thời kỳ: tiền lâm sàng, tiếp đến là điên cuồng và sau cùng là bại liệt. Thời kỳ tiền lâm sàng: các biểu hiện của chó dại ở thời kỳ tiền lâm sàng rất khó để phát hiện, nhất là ở thể cảm. Chó có dấu hiệu khác thƣờng nhƣ trốn vào góc tối, kín đáo. Thái độ với chủ nhƣ gần chủ miễn cƣỡng, hoặc lại tỏ ra đặc biệt vồn vã với chủ.
Thỉnh thoảng sủa vu vơ, chu lên từng hồi nghe hơi xa xăm hoặc lại bồn chồn nhảy lên đớp không khí[2],[15]. Trong thời kỳ điên cuồng: các phản xạ vận động bị kích thích mạnh, chó cắn sủa ngƣời dữ dội, quá vồ vập khi chủ gọi, chỉ cần có tiếng động nhẹ cũng nhảy lên sửa từng hồi dài. Vết thƣơng nơi bị cắn ngứa, chó liếm hoặc tự cắn, cào đến rụng lông, chảy máu. Chó bỏ ăn, nuốt khó, sốt, con ngƣời mắt mở to, tỏ ra khát nƣớc muốn uống nhƣng không uống đƣợc.
Chó bắt đầu chảy nƣớc dãi, sủi bọt mép, tỏ vẻ bồn chồn, cảnh giác, sợ sệt, cắn vu vơ, hay giật mình, đi lại không có chủ định, trở nên dữ tợn điên cuồng (2-3 ngày sau khi phát bệnh). Con vật bỏ nhà ra đi và 7 thƣờng không trở về nhà nữa.