CHƯƠNG I – ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH QUẬN 1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG 1. Lịch sử hình thành (1) Thời Pháp thuộc Với Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa. Chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh này thành 13 hạt thanh tra do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ đứng đầu.
Phần đất của quận Bình Thạnh ngày nay nằm trong hạt Sài Gòn, tương ứng với 5 xã thôn Bình Hòa, Bình Lợi Trung, Thạnh Đa, Phú Mỹ và Bình Quới Tây thuộc tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, địa hạt Sài Gòn. Ngày 24 tháng 8 năm 1876, hạt Sài Gòn đổi tên thành hạt Bình Hòa. Ngày 16 tháng 12 năm 1885, hạt Bình Hòa đổi tên thành hạt Gia Định theo quyết định của Thống đốc Nam Kỳ. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gia Định trở thành tỉnh Gia Định.
Ngày 1 tháng 1 năm 1911, tỉnh Gia Định chia thành bốn quận: Thủ Đức, Nhà Bè, Gò Vấp và Hóc Môn. Vùng đất Bình Thạnh ngày nay thuộc về tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, tương ứng với 2 làng Bình Hòa Xã (sáp nhập cả làng Bình Lợi Trung) và Thạnh Mỹ Tây (sáp nhập từ 3 làng Thạnh Đa, Phú Mỹ và Bình Quới Tây). Sau năm 1956, các làng gọi là xã, trong đó có xã Bình Hòa và xã Thạnh Mỹ Tây. Thời Việt Nam Cộng hòa Từ năm 1962 -1965 chính quyền Việt Nam Cộng hòa bỏ hẳn cấp hành chính tổng.
Khi đó, xã Bình Hòa Xã và xã Thạnh Mỹ Tây trực tiếp thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Xã Bình Hòa Xã gồm 10 ấp đều mang địa danh "Bác Ái" và đánh số kèm theo, từ Bác Ái 1 đến Bác Ái 10. Tương tự, xã Thạnh Mỹ Tây gồm 10 ấp đều mang địa danh "Nhất Trí" và đánh số kèm theo, từ Nhất Trí 1 đến Nhất Trí 10. Từ năm 1975 đến nay Ngày 20/05/1976, theo quyết định số 301/UB ngày 20/05/1976 của Cách mạng thành phố Sài Gòn – Gia Định, sát nhập quận Bình Hòa và quận Thạnh Mỹ Tây cũ thành một quận mới mang tên quận Bình Thạnh.
Ngày 26/8/1982 thực hiện quyết định số 147/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng phân vạch lại địa giới một số phường của quận, giải thể phường 8 và phường 20, sát nhập vào phường 14 và phường 18. Ngày 27/8/1988, thực hiện quyết định số 136/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng điều chỉnh địa giới một số phường của quận, giải thể các phường 9, 10 và 18, tách địa bàn một số tổ Trang Tieu 1 luan dân phố nhập vào các phường lân cận; đồng thời sát nhập các phường sau: phường 3 với phường 4 thành phường 3, hợp nhất 2 phường 15, 23 thành phường 15, nhập 2 phường 16, 17 thành phường 17. Từ đó đến nay, quận Bình Thạnh bao gồm 20 phường: 1, 2, 3, 5, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 19, 21, 22, 24, 25, 26, 27 và 28. Không còn các phường (4, 8, 9, 10, 16, 18, 20, 23).
Vị trí địa lý Quận Bình Thạnh nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, ở vị trí cửa ngõ thành phố, là vùng đất có một vị trí chiến lược quan trọng với diện tích 20,76 km2 (2). Tọa độ địa lý 10o47’20’’ – 10o51’30’’ độ vĩ Bắc. Ranh giới (3) Quận Bình Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh mạn Đông Bắc. Phía Đông - Đông Bắc giáp với quận 2 và thành phố Thủ Đức.
Phía Tây: Tiếp giáp quận 1, quận Phú Nhuận, quận Gò Vấp. Phía Nam giáp với sông Sài Gòn và quận 1. Phía Bắc: Tiếp giáp sông Sài Gòn, thành phố Thủ Đức, quận Gò Vấp. Quận Bình Thạnh tiếp giáp với sông Sài Gòn cùng với hệ thống thủy văn đa dạng, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt (tập trung ở các phường: 2, 12, 13, 15, 19, 22, …) nên đây cũng có thể được coi là một ưu điểm và nhược điểm.
- Ưu điểm: thuận lợi cho việc vận tải đường sông, khí hậu thoáng mát. - Nhược điểm: không thuận lợi cho đường ô tô và đường sắt, đòi hỏi phải làm nhiều cầu; ô nhiễm nguồn nước sông, kênh, ngòi còn cao cũng như tỉ lệ bệnh tật còn gia tăng chưa kiểm soát được nên việc phòng chống dịch bệnh là mối quan tâm hàng đầu của TTYT dự phòng. Diện tích: 20,76 km2. Mật độ dân số là 24.110 người/km2.
Giao thông (4) Quận Bình Thạnh còn là một trong những nút giao thông quan trọng của TP.HCM do đây là điểm giao nhau giữa các quốc lộ: Quốc lộ 1, Quốc lộ 13. Là cửa ngõ đón con tàu thống nhất Bắc Nam qua cầu Bình Lợi vào ga Hòa Hưng và đồng thời có bến xe khách Miền Đông. Trang Tieu 2 luan Kênh Thanh Đa được khởi đào vào năm 1897 đã biến bán đảo Thanh Đa- Bình Quới trở thành “vùng sâu” có 3 mặt giáp với sông, cùng với sông Sài Gòn và các kênh rạch: Thị Nghè, Cầu Bông, Văn Thánh, Thanh Đa, Hố Tàu, Thủ Tắc. đã tạo thành một hệ thống đường thủy đáp ứng lưu thông cho xuồng, ghe nhỏ đi sâu vào các khu vực trên khắp địa bàn Bình Thạnh, thông thương với các địa phương khác.
Năm 2015, Đại lộ Phạm Văn Đồng thuộc tuyến vành đai Bình Lợi – Tân Sơn Nhất mới mở ngang qua Quận Bình Thạnh và đã trở thành tuyến giao thông huyết mạch của thành phố. Bản đồ địa lý quận Bình Thạnh (nguồn: UBND quận Bình Thạnh) 1. Hành chính Về công tác cải cách hành chính, đã thành lập bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa liên thông, đồng thời tổ chức niêm yết công khai 26 lĩnh vực với 134 thủ tục hành chính được UBND thành phố công bố áp dụng tại các quận, huyện; tiếp tục áp dụng quy trình ISO điện tử đối với 100% thủ tục hành chính. Trong năm, tiếp nhận các hồ sơ trên các lĩnh vực, đã giải quyết đúng hạn đạt trên 95%.
Tỉ lệ giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đạt chỉ tiêu kế hoạch trên 85%. Trang Tieu 3 luan Trụ sở UBND Quận Bình Thạnh ở số 6 Phan Đăng Lưu, Phường 14, quận Bình Thạnh, TP. Bao gồm: 20 phường, 89 khu phố, 1.507 tổ dân phố, 150.957 hộ gia đình. Trong đó, phường 14 là trung tâm của quận.
Phường có diện tích lớn nhất là phường 28 với diện tích 5,49 km2, phường có diện tích nhỏ nhất là phường 1 với 0,26 km2. TÌNH HÌNH VỀ DÂN SỐ 2. Dân số Dân số ước tính trung bình năm 2020 là khoảng 500.529 người, trong đó: Nam: 236. Mật độ dân số: 24.110 người/km2.
Dân số quận Bình Thạnh năm 2020 CÁC CHỈ SỐ DÂN SỐ NĂM 2020 Dân số trung bình 500.529 người Tổng dân số nam 236.389 người Tỉ lệ dân số nam trong tổng dân số trung bình 47,2 % Tổng dân số nữ 264.140 người Tỉ lệ dân số nữ trong tổng dân số trung bình 52,8 % Tỉ số giới tính (Nam/Nữ) 0,9 Số trẻ sinh sống 5.872 người Tỉ suất sinh 11,73 ‰ Số người chết 1.710 người Tỉ suất tử 3,42 ‰ Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 8,31 ‰ Trang Tieu 4 luan 2. Dân tộc Vào năm 2018, quận Bình Thạnh có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, đa phần là dân tộc Kinh 485.504 người (98,58%), dân tộc Hoa 4.590 người (0,94%), và các dân tộc khác 2. Chính sự đa dạng này đã tạo nên một bản sắc riêng cho quận Bình Thạnh, không có sự phân biệt giữa các dân tộc, toàn thể như anh em một nhà chung tay hỗ trợ và xây dựng Tổ quốc. Biểu đồ tỉ lệ các dân tộc quận Bình Thạnh năm 2018 2.
Tôn giáo Sự đa dạng về mặt tín ngưỡng được thể hiện rõ với nhiều các tôn giáo khác nhau như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo… Trong đó Phật giáo chiếm tỉ lệ cao nhất là 26,43%, Thiên Chúa giáo chiếm 14,17%. Các công trình kiến trúc mang nét đặc trưng của từng tôn giáo góp phần tạo nên sự phong phú cho quận Bình Thạnh. Các cơ sở tôn giáo: (5) Có 69 ngôi chùa trên địa bàn quận Bình Thạnh, trong đó có 04 chùa lớn: chùa Khánh Hưng, chùa Pháp Quang, chùa Sắc Tự Lập Phước và chùa Văn Thánh. Có 05 chùa được đánh giá là có phong cảnh, kiến trúc đẹp: chùa Diệu Pháp, chùa Bảo Minh, chùa Bửu Liên, chùa Long Vân, chùa Văn Thánh.
(6) 03 nhà thờ lớn: nhà thờ Gia Định, nhà thờ Bình Hòa và nhà thờ Bình Lợi. Trang Tieu 5 luan Bảng 2. Tỉ lệ tôn giáo quận Bình Thạnh năm 2018 Tôn giáo Số người Tỉ lệ % Phật giáo 129.653 26,43 Thiên Chúa giáo 69.218 0,25 Hồi giáo 395 0,08 Khác 287. TÌNH HÌNH KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI – MÔI TRƯỜNG 3.
Kinh tế (2) Từ thuở khai hoang lập ấp đến trước 1975, nền kinh tế Bình Thạnh chủ yếu là nông nghiệp và chăn nuôi, đánh cá. Theo dòng thời gian, nền kinh tế đã xuất hiện một số ngành nghề mới như thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp. Tuy nhiên, nền nông nghiệp tụt hậu do đất đai bị thu hẹp để xây dựng nhà cửa và thương nghiệp phát triển tăng vọt nhằm phục vụ cho một số lượng đông dân cư do quá trình dô thị hóa, quân sự hóa cưỡng chế. Sau năm 1975, trong quá trình khôi phục, cải tạo và xây dựng kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế Bình Thạnh có sự chuyển dịch.
Kinh tế nông nghiệp đã lùi về vị trí thứ yếu và hiện nay chiếm một tỷ trọng rất nhỏ. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp - dịch vụ - du lịch trở thành ngành kinh tế chủ yếu, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nhanh chóng, làm thay đổi diện mạo kinh tế - văn hóa xã hội của quận huyện trong hiện tại và tương lai. Bình quân thu nhập hàng tháng là 3.450 hộ chính sách, 4.785 hộ cận nghèo (Tiêu chí thu nhập hộ nghèo từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống, hộ cận nghèo từ trên 21 đến 28 triệu đồng/người/năm). Quận duy trì không còn hộ nghèo, nâng chuẩn hộ nghèo 769 hộ (tỉ lệ 0,52% so tổng số dân), đạt 107% so với kế hoạch, đạt 116,2% so với chỉ tiêu thành phố.
Hiện nay trên địa bàn quận Bình Thạnh đã hình thành một số khu đô thị mới như khu đô thị Đại Phúc River View, khu đô thị Bình Thạnh City Garden, khu đô thị Vinhomes Trang Tieu 6 luan Central Park,. Cao ốc The Landmark 81 cao nhất thành phố và Việt Nam, tọa lạc trong khu đô thị Vinhomes Central Park, quận Bình Thạnh.