CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thuật ngữ Hơn 35 năm sau khi những ca nhiễm AIDS đầu tiên được phát hiện tại Mỹ, một nhóm các nhà khoa học quốc tế trong bài báo số ra trên tờ tạp chí Science (Mỹ) cho biết virus HIV bắt nguồn từ những con tinh tinh hoang ở miền nam Cameroon. Nghiên cứu cho rằng con người nhiễm phải virus chết chóc này từ tinh tinh sau khi giết và ăn thịt chúng. Người đầu tiên trên thế giới được phát hiện bị nhiễm HIV là một người đàn ông đến từ Kinshasa ở một vùng quê gần Congo.
Mẫu máu của người này đã được lưu lại vào năm 1959 dùng cho nghiên cứu y học, vài chục năm trước khi các nhà khoa học biết đến sự tồn tại của virus HIV. Ở người, HIV dẫn tới AIDS nhưng tinh tinh có một dạng khác được gọi là virus làm suy yếu hệ miễn dịch khỉ và không gây hại cho chúng. Tuy nhiên con người lại là loài động vật dễ bị ảnh hưởng bởi HIV. Cơ thể không thể chống lại virus HIV được bởi vì virus HIV không như các loại virus khác.
HIV là chữ viết tắt từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus) Là vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể sẽ phá huỷ hệ thống miễn dịch, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh [3]. AIDS là chữ viết tắt từ tiếng Anh (Acquired Immune Deficiency Syndrome) Nghĩa là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” đây là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm nên người nhiễm HIV dễ mắc nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư, các bệnh này diễn biến ngày càng nặng dẫn đến tử vong cho người bệnh [3]. Kiến thức về HIV/AIDS: Là mức độ hiểu biết về HIV/AIDS, đường lây truyền, cách phòng, chống HIV/AIDS [5] 1.
Thực hành phòng chống lây truyền HIV/AIDS : Là việc thực hiện các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS như không QHTD với nhiều người, sử dụng BCS trong QHTD, không dùng chung bơm kim tiêm, 5 khuyên bạn tình nên đi xét nghiệm, không cho con bú khi mẹ nhiễm HIV, không mang thai sinh con nếu mẹ nhiễm HIV [2]. Truyền thông Là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác trong đó có ít nhất trên hoặc bằng hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận.
Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói, ra hiệu, hay viết; nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, học được cú pháp của ngôn ngữ 1. Giáo dục sức khỏe Cũng giống như giáo dục chung, đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người. Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người.
GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫnđến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe 1. Các loại hình và phương tiện truyền thông 1. Truyền thông trực tiếp Truyền thông với cá nhân: Có rất nhiều cách truyền thông đối với cá nhân như thông qua thăm hộ gia đình, gọi điện thoại, gửi thư cá nhân, trao đổi trực tiếp, trình bài giảng, giúp tự học và tư vấn. Khái niệm tư vấn: Tư vấn là một quá trình giao tiếp giữa nhân viên tư vấn, và đối tượng cần được hỗ trợ nhằm giúp họ hiểu rõ hơn vấn đề mình cần phải giải quyết, tự tìm ra các giải pháp rồi tự mình quyết định chọn giải pháp thích hợp nhất, từ đó thay đổi hành vi của bản thân.
Truyền thông nhóm: Có nhiều cách như họp, tham quan, trình bày, đóng vai…Truyền thông theo nhóm có giá trị là mọi người trong nhóm sẽ hỗ trợ động 6 viên nhau để xúc tiến hoặc duy trì các hoạt động liên quan đến truyền thông, có cơ hội để trao đổi kỹ năng và học tập lẫn nhau. Truyền thông với cộng đồng: Sử dụng truyền thông cho cộng đồng khi vấn đề sức khỏe có ảnh hưởng đến nhiều người, hoặc tất cả mọi người trong cộng đồng, đòi hỏi phải tập hợp các nguồn lực của cộng đồng mới giải quyết được. Huy động tất cả các kênh truyền thông có thể có được. Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, trước hết cần tập trung vào những người tích cực và sớm nhận ra sự cần thiết phải thay đổi.
Từ đó chính những người này sẽ truyền thông với những người khác, nhóm khác để thúc đẩy quá trình thay đổi hành vi của cả cộng đồng. Truyền thông gián tiếp Truyền thông gián tiếp: Là quá trình truyền tải các thông điệp đến người nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình. Các thông điệp truyền tải theo kênh này có những ưu điểm đến được với nhiều người một cách nhanh chóng cùng một lúc, đáng tin cậy hơn vì được phát ra từ một nguồn thống nhất, có thể nhắc đi nhắc lại nhiều lần để củng cố nhận thức, niềm tin, thái độ, thực hành, của những người theo dõi thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng. Truyền thông gián tiếp chủ yếu: báo chí, phát thanh, truyền hình, phim video ,Pa no ,Áp phích, tờ rơi, nhưng nhược điểm là khó đánh hiệu quả 1.
Sử dụng phương tiện trực quan trong truyền thông. Phương tiện trực quan: Là những công cụ truyền đạt thông tin sử dụng các tín hiệu trực quan (âm thanh, hình ảnh, mùi, vị, sờ nắm). Có rất nhiều phương tiện trực quan, từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại. Các loại trực quan bao gồm vật thực, mô hình, tranh ảnh, áp phích, băng video.
Phương tiện trực quan được sử dụng để minh họa cho các nội dung truyền thông, ở tất cả các biện pháp truyền thông phù hợp như truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp, giúp cho đối tượng suy nghĩ và ghi nhớ dễ dàng hơn thông qua sự cảm nhận của những giác quan nghe và nhìn. Truyền thông giáo dục phòng chống HIV/AIDS. Truyền thông giáo dục phòng chống HIV/AIDS ở tuyến cơ sở là hành động cung cấp, chia sẽ, trao đổi thông tin, kiến thức giữa cộng tác viên (CTV),cán bộY tế 7 (CBYT),các ngành đoàn thể, các chùa…cho các nhóm đối tượng, các thành viên trong gia đình và những người gần gũi khác với người nhiễm HIV.Và cộng đồng nhằm giúp họ có kiến thức hiểu biết và thực hành đúng trong phòng ngừa lây nhiễm HIV Trong lĩnh vực giáo dục sức khỏe (GDSK) truyền thông là một biện pháp quan nâng cao sức khỏe cá nhân và cộng đồng. Đầu tư cho truyền thông có khả năng mang lại độ bao phủ rộng, hiệu quả cao với chi phí thấp.
Truyền thông có nhiều hình thức và nhiều nhóm đối tượng đích khác nhau. Truyền thông có thể thay đổi được những tập quán cũ và tạo ra những chuẩn mực mới là một trong những giải pháp quan trọng trong các chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS những giai đoạn vừa qua và hiện nay. Tình hình dịch HIV/AIDS 1. Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới Bệnh HIV/AIDS trên lâm sàng được phát hiện đầu tiên tại Mỹ.
Ðó là 5 trường hợp đồng tính luyến ái nam bị viêm phổi nặng ở Los Angeles (Califonia, Mỹ) do P.Carini được phát hiện. Tháng 3 năm 1981, nhiều trường hợp ung thư da Kaposi được báo cáo ở New York. Một điều đáng lưu ý là tất cả các người bệnh bị suy giảm miễn dịch trầm trọng này đều là những người trẻ, đồng tính luyến ái, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh. Nguyên nhân của tình trạng này lúc đó chưa được biết, song dựa trên các yếu tố địa lý, người ta cho rằng đây là một bệnh truyền nhiễm [3].
Năm 1982, người ta thấy căn bệnh tương tự như trên ở những người mắc bệnh ưa chảy máu, nghiện chích ma túy, những người Haiti có quan hệ tình dục khác giới và trên những đứa trẻ sinh ra từ những người mẹ trong nhóm người đã bị mắc bệnh. Các bệnh án này chứng minh giả thuyết căn nguyên là do một loại vi rút lan truyền qua đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang thai nhi [3]. Theo báo cáo của UNAIDS, năm 2013, cả thế giới có 35 triệu người đang sống chung với HIV, 2,1 triệu ca nhiễm HIV mới và 1,5 triệu người khác chết vì bệnh AIDS. Tỉ lệ ca nhiễm HIV mới hàng năm giảm 38% kể từ năm 2001 và tỉ lệ người chết vì bệnh AIDS đã giảm 35% kể từ năm 2005.
UNAIDS cho biết, hiện vẫn chưa có cách ngăn ngừa loại vi rút này. Tuy nhiên, nguy cơ chuyển sang giai đoạn 8 AIDS sẽ được đẩy lùi đáng kể nếu người nhiễm HIV tuân thủ phác đồ điều trị bằng thuốc kháng retrovirus (ARV) [14] [27] [33] Một trong các mục tiêu của UNAIDS đưa ra là 90-90-90, tức 90% người nhiễm HIV biết mình bị HIV, 90% người nhiễm HIV được chữa trị và 90% trường hợp chữa trị có tác dụng khi kiềm chế được số lượng vi rút trong người bệnh nhân ở mức thấp nhất. Một mục tiêu khác của kế hoạch này là giảm số người mắc bệnh HIV/AIDS mới mỗi năm trên toàn thế giới xuống còn 89% [29].Tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam Theo Báo cáo của Bộ Y tế “Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ trọng tâm năm 2016” Trong năm 2015 cả nước phát hiện mới 10.195 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS 6.130, số bệnh nhân tử vong 2.130 trường hợp; trong đó nữ chiếm 34,1%, nam chiếm 66%; lây truyền qua đường tình dục chiếm 50,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 36,1%, mẹ truyền sang con chiếm 2,8%, không rõ chiếm 10,4%. Kết quả giám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,3%, phụ nữ bán dâm 2,7% và tình dục đồng giới là 5,2% [4].
Tính đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong. Theo ước tính, cả nước hiện có khoảng 254.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng, mỗi năm có khoảng 12.000 trường hợp mới nhiễm HIV.