Thực trạng truyền thông dự phòng HIV/AIDS cho người Khmer ở Trà Cú, Trà Vinh

Luận văn phân tích thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến công tác truyền thông dự phòng HIV/AIDS trong cộng đồng người Khmer tại Trà Cú, Trà Vinh.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Chuyên khoa II

2017

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng truyền thông HIV AIDS ở cộng đồng dân tộc Khmer Trà Cú

Truyền thông HIV/AIDS tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh là một lĩnh vực y tế công cộng quan trọng nhằm nâng cao kiến thức và ý thức phòng chống lây nhiễm trong cộng đồng dân tộc Khmer. Theo nghiên cứu năm 2017, tình hình phòng chống HIV/AIDS tại khu vực này gặp nhiều thách thức do đặc thù văn hóa, ngôn ngữ và nhận thức của cộng đồng. Các hoạt động truyền thông dự phòng lây truyền được triển khai thông qua nhiều phương tiện khác nhau, từ các buổi tuyên truyền cộng đồng đến các chương trình tập huấn cho cán bộ y tế. Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt động này còn hạn chế do tỷ lệ tiếp cận thông tin và mức độ hiểu biết về phòng ngừa HIV/AIDS của người dân còn thấp, đặc biệt ở các nhóm dân cư hẻo lánh.

1.1. Tình hình dịch HIV AIDS và các đối tượng có nguy cơ cao

Dịch HIV/AIDS ở huyện Trà Cú chủ yếu tập trung ở những nhóm nguy cơ cao bao gồm những người tiêm chích ma túy, phụ nữ mại dâm, và những người có quan hệ tình dục không an toàn. Cộng đồng dân tộc Khmer, vì đặc thù văn hóa và điều kiện kinh tế xã hội, thường có tỷ lệ nhiễm virus HIV cao hơn so với dân tộc kinh. Việc thiếu hiểu biết về phương pháp phòng chống lây nhiễm HIV và những định kiến về bệnh tật làm cho công tác truyền thông phòng chống HIV/AIDS trở nên cấp bách và quan trọng hơn.

1.2. Vai trò của các hoạt động truyền thông hiện tại

Các hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS hiện nay tại huyện Trà Cú được thực hiện bởi các cơ sở y tế, các tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương. Những hình thức truyền thông chủ yếu bao gồm tuyên truyền lưu động, lớp học cộng đồng, và phát tài liệu phòng ngừa lây nhiễm. Tuy nhiên, hiệu quả còn hạn chế do khoảng cách ngôn ngữ, văn hóa và khó khăn trong tiếp cận công tác truyền thông có chất lượng cao.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả truyền thông phòng chống HIV AIDS

Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông dự phòng lây truyền HIV/AIDS ở cộng đồng Khmer rất đa dạng và phức tạp. Các yếu tố về cơ sở vật chất, nhân lực, tài chínhyếu tố xã hội văn hóa đều đóng vai trò quan trọng trong thành công hay thất bại của các chương trình phòng ngừa HIV/AIDS. Cụ thể, sự thiếu hụt phương tiện truyền thông hiệu quả, hạn chế về cán bộ y tế có kinh nghiệm, và các rào cản văn hóa ngôn ngữ là những yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả. Ngoài ra, kiến thức và thái độ của người dân, sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, và mức độ tham gia của cộng đồng cũng là những yếu tố ảnh hưởng quan trọng khác.

2.1. Yếu tố cơ sở vật chất và trang thiết bị

Cơ sở vật chấtphương tiện truyền thông tại các trạm y tế xã ở huyện Trà Cú còn rất hạn chế. Nhiều trạm y tế thiếu máy chiếu, loa phát thanh, và các tài liệu phòng chống HIV/AIDS bằng tiếng Khmer. Thiếu hụt về trang thiết bị truyền thông làm giảm hiệu quả các hoạt động tuyên truyền phòng ngừa lây nhiễm HIV đến cộng đồng dân tộc Khmer.

2.2. Yếu tố nhân lực và năng lực cán bộ

Cán bộ y tế tham gia công tác truyền thông thường thiếu kiến thức chuyên sâu về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và kỹ năng giao tiếp hiệu quả. Số lượng cơ sở tập huấn về truyền thông dự phòng còn ít, và nhiều cán bộ không hiểu rõ về yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa HIV của cộng đồng Khmer.

III. Kiến thức và nhận thức về HIV AIDS trong cộng đồng Khmer

Kiến thức về HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc Khmer tại huyện Trà Cú còn rất hạn chế. Nhiều người dân chưa hiểu rõ về đường lây truyền HIV, phương pháp phòng chống hiệu quả, và các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm cơ bản như sử dụng bao cao su hay kiểm tra HIV định kỳ. Những định kiến sai lầm về bệnh, sự kỳ thị với những người nhiễm virus HIV, và thiếu ý thức về phòng ngừa lây truyền mẹ con là những vấn đề nổi cộm. Kết quả kiến thức hiểu biết của người Khmer về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS cho thấy tỷ lệ người có kiến thức đúng đầy đủ còn rất thấp, đặc biệt ở những người có trình độ học vấn thấp và sống ở những vùng hẻo lánh.

3.1. Mức độ nhận thức về đường lây truyền và phòng chống

Phần lớn dân tộc Khmer biết đến HIV/AIDS nhưng kiến thức về đường lây truyền thường không chính xác. Nhiều người vẫn tin vào những quan niệm sai lầm như HIV có thể lây qua ăn chung, nước bọt hay tiếp xúc bình thường. Kiến thức về phòng chống chủ yếu giới hạn ở việc tránh quan hệ tình dục hoặc sử dụng bao cao su, nhưng ý thức thực hiện vẫn rất thấp.

3.2. Định kiến và kỳ thị xã hội với người nhiễm HIV

Định kiến và kỳ thị là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác truyền thông phòng chống HIV/AIDS. Cộng đồng Khmer thường coi bệnh HIV/AIDS là sợi dây xấu hổ, liên quan đến hành vi bất chính. Những người nhiễm virus HIV thường bị cô lập, từ chối chữa trị, và không dám tiết lộ tình trạng bệnh của mình, điều này làm phòng ngừa lây nhiễm trở nên khó khăn hơn.

IV. Giải pháp cải thiện hiệu quả truyền thông phòng chống HIV AIDS

Để nâng cao hiệu quả truyền thông dự phòng lây truyền HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc Khmer, cần thiết phải áp dụng nhiều giải pháp toàn diện. Thứ nhất, cần tăng cường trang thiết bịphương tiện truyền thông tại các trạm y tế, đồng thời phát triển tài liệu truyền thông bằng tiếng Khmer có nội dung phù hợp với yếu tố văn hóa địa phương. Thứ hai, phải nâng cao năng lực cán bộ thông qua tập huấn chuyên sâu về kiến thức HIV/AIDSkỹ năng truyền thông hiệu quả. Thứ ba, cần tăng cường tham gia cộng đồng và sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội, lãnh đạo địa phương, và những lãnh đạo tâm linh có ảnh hưởng. Cuối cùng, phải giảm thiểu định kiến thông qua các hoạt động vận động xã hộituyên truyền nhân đạo về phòng ngừa và chếch trị HIV/AIDS.

4.1. Phát triển tài liệu và phương tiện truyền thông phù hợp

Cần thiết phải phát triển tài liệu truyền thông bằng tiếng Khmer với nội dung phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS được thích ứng với yếu tố văn hóa địa phương. Phương tiện truyền thông nên đa dạng bao gồm video, poster, brocure, và các chương trình radio/TV bằng tiếng Khmer. Các hoạt động tuyên truyền phòng chống nên tập trung vào những nhóm nguy cơ cao và những thông tin phòng ngừa lây nhiễm thiết thực.

4.2. Xây dựng mô hình truyền thông cộng đồng bền vững

Cần xây dựng mô hình truyền thông dựa trên sức mạnh cộng đồng, với sự tham gia tích cực của những lãnh đạo địa phương và những người có ảnh hưởng cao trong cộng đồng Khmer. Các hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS nên được tổ chức định kỳ, có kiểm đánh giá kết quả rõ ràng, và điều chỉnh liên tục dựa trên phản hồi từ cộng đồng để đảm bảo hiệu quả truyền thông bền vững.

20/12/2025
Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác truyền thông dự phòng lây nhiễm hiv aids trong cộng đồng dân tộc khmer tại huyện trà cú tỉnh trà vinh năm 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thuật ngữ Hơn 35 năm sau khi những ca nhiễm AIDS đầu tiên được phát hiện tại Mỹ, một nhóm các nhà khoa học quốc tế trong bài báo số ra trên tờ tạp chí Science (Mỹ) cho biết virus HIV bắt nguồn từ những con tinh tinh hoang ở miền nam Cameroon. Nghiên cứu cho rằng con người nhiễm phải virus chết chóc này từ tinh tinh sau khi giết và ăn thịt chúng. Người đầu tiên trên thế giới được phát hiện bị nhiễm HIV là một người đàn ông đến từ Kinshasa ở một vùng quê gần Congo.

Mẫu máu của người này đã được lưu lại vào năm 1959 dùng cho nghiên cứu y học, vài chục năm trước khi các nhà khoa học biết đến sự tồn tại của virus HIV. Ở người, HIV dẫn tới AIDS nhưng tinh tinh có một dạng khác được gọi là virus làm suy yếu hệ miễn dịch khỉ và không gây hại cho chúng. Tuy nhiên con người lại là loài động vật dễ bị ảnh hưởng bởi HIV. Cơ thể không thể chống lại virus HIV được bởi vì virus HIV không như các loại virus khác.

HIV là chữ viết tắt từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus) Là vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể sẽ phá huỷ hệ thống miễn dịch, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh [3]. AIDS là chữ viết tắt từ tiếng Anh (Acquired Immune Deficiency Syndrome) Nghĩa là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” đây là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm nên người nhiễm HIV dễ mắc nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư, các bệnh này diễn biến ngày càng nặng dẫn đến tử vong cho người bệnh [3]. Kiến thức về HIV/AIDS: Là mức độ hiểu biết về HIV/AIDS, đường lây truyền, cách phòng, chống HIV/AIDS [5] 1.

Thực hành phòng chống lây truyền HIV/AIDS : Là việc thực hiện các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS như không QHTD với nhiều người, sử dụng BCS trong QHTD, không dùng chung bơm kim tiêm, 5 khuyên bạn tình nên đi xét nghiệm, không cho con bú khi mẹ nhiễm HIV, không mang thai sinh con nếu mẹ nhiễm HIV [2]. Truyền thông Là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác trong đó có ít nhất trên hoặc bằng hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận.

Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói, ra hiệu, hay viết; nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, học được cú pháp của ngôn ngữ 1. Giáo dục sức khỏe Cũng giống như giáo dục chung, đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người. Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người.

GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫnđến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe 1. Các loại hình và phương tiện truyền thông 1. Truyền thông trực tiếp Truyền thông với cá nhân: Có rất nhiều cách truyền thông đối với cá nhân như thông qua thăm hộ gia đình, gọi điện thoại, gửi thư cá nhân, trao đổi trực tiếp, trình bài giảng, giúp tự học và tư vấn. Khái niệm tư vấn: Tư vấn là một quá trình giao tiếp giữa nhân viên tư vấn, và đối tượng cần được hỗ trợ nhằm giúp họ hiểu rõ hơn vấn đề mình cần phải giải quyết, tự tìm ra các giải pháp rồi tự mình quyết định chọn giải pháp thích hợp nhất, từ đó thay đổi hành vi của bản thân.

Truyền thông nhóm: Có nhiều cách như họp, tham quan, trình bày, đóng vai…Truyền thông theo nhóm có giá trị là mọi người trong nhóm sẽ hỗ trợ động 6 viên nhau để xúc tiến hoặc duy trì các hoạt động liên quan đến truyền thông, có cơ hội để trao đổi kỹ năng và học tập lẫn nhau. Truyền thông với cộng đồng: Sử dụng truyền thông cho cộng đồng khi vấn đề sức khỏe có ảnh hưởng đến nhiều người, hoặc tất cả mọi người trong cộng đồng, đòi hỏi phải tập hợp các nguồn lực của cộng đồng mới giải quyết được. Huy động tất cả các kênh truyền thông có thể có được. Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, trước hết cần tập trung vào những người tích cực và sớm nhận ra sự cần thiết phải thay đổi.

Từ đó chính những người này sẽ truyền thông với những người khác, nhóm khác để thúc đẩy quá trình thay đổi hành vi của cả cộng đồng. Truyền thông gián tiếp Truyền thông gián tiếp: Là quá trình truyền tải các thông điệp đến người nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình. Các thông điệp truyền tải theo kênh này có những ưu điểm đến được với nhiều người một cách nhanh chóng cùng một lúc, đáng tin cậy hơn vì được phát ra từ một nguồn thống nhất, có thể nhắc đi nhắc lại nhiều lần để củng cố nhận thức, niềm tin, thái độ, thực hành, của những người theo dõi thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng. Truyền thông gián tiếp chủ yếu: báo chí, phát thanh, truyền hình, phim video ,Pa no ,Áp phích, tờ rơi, nhưng nhược điểm là khó đánh hiệu quả 1.

Sử dụng phương tiện trực quan trong truyền thông. Phương tiện trực quan: Là những công cụ truyền đạt thông tin sử dụng các tín hiệu trực quan (âm thanh, hình ảnh, mùi, vị, sờ nắm). Có rất nhiều phương tiện trực quan, từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại. Các loại trực quan bao gồm vật thực, mô hình, tranh ảnh, áp phích, băng video.

Phương tiện trực quan được sử dụng để minh họa cho các nội dung truyền thông, ở tất cả các biện pháp truyền thông phù hợp như truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp, giúp cho đối tượng suy nghĩ và ghi nhớ dễ dàng hơn thông qua sự cảm nhận của những giác quan nghe và nhìn. Truyền thông giáo dục phòng chống HIV/AIDS. Truyền thông giáo dục phòng chống HIV/AIDS ở tuyến cơ sở là hành động cung cấp, chia sẽ, trao đổi thông tin, kiến thức giữa cộng tác viên (CTV),cán bộY tế 7 (CBYT),các ngành đoàn thể, các chùa…cho các nhóm đối tượng, các thành viên trong gia đình và những người gần gũi khác với người nhiễm HIV.Và cộng đồng nhằm giúp họ có kiến thức hiểu biết và thực hành đúng trong phòng ngừa lây nhiễm HIV Trong lĩnh vực giáo dục sức khỏe (GDSK) truyền thông là một biện pháp quan nâng cao sức khỏe cá nhân và cộng đồng. Đầu tư cho truyền thông có khả năng mang lại độ bao phủ rộng, hiệu quả cao với chi phí thấp.

Truyền thông có nhiều hình thức và nhiều nhóm đối tượng đích khác nhau. Truyền thông có thể thay đổi được những tập quán cũ và tạo ra những chuẩn mực mới là một trong những giải pháp quan trọng trong các chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS những giai đoạn vừa qua và hiện nay. Tình hình dịch HIV/AIDS 1. Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới Bệnh HIV/AIDS trên lâm sàng được phát hiện đầu tiên tại Mỹ.

Ðó là 5 trường hợp đồng tính luyến ái nam bị viêm phổi nặng ở Los Angeles (Califonia, Mỹ) do P.Carini được phát hiện. Tháng 3 năm 1981, nhiều trường hợp ung thư da Kaposi được báo cáo ở New York. Một điều đáng lưu ý là tất cả các người bệnh bị suy giảm miễn dịch trầm trọng này đều là những người trẻ, đồng tính luyến ái, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh. Nguyên nhân của tình trạng này lúc đó chưa được biết, song dựa trên các yếu tố địa lý, người ta cho rằng đây là một bệnh truyền nhiễm [3].

Năm 1982, người ta thấy căn bệnh tương tự như trên ở những người mắc bệnh ưa chảy máu, nghiện chích ma túy, những người Haiti có quan hệ tình dục khác giới và trên những đứa trẻ sinh ra từ những người mẹ trong nhóm người đã bị mắc bệnh. Các bệnh án này chứng minh giả thuyết căn nguyên là do một loại vi rút lan truyền qua đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang thai nhi [3]. Theo báo cáo của UNAIDS, năm 2013, cả thế giới có 35 triệu người đang sống chung với HIV, 2,1 triệu ca nhiễm HIV mới và 1,5 triệu người khác chết vì bệnh AIDS. Tỉ lệ ca nhiễm HIV mới hàng năm giảm 38% kể từ năm 2001 và tỉ lệ người chết vì bệnh AIDS đã giảm 35% kể từ năm 2005.

UNAIDS cho biết, hiện vẫn chưa có cách ngăn ngừa loại vi rút này. Tuy nhiên, nguy cơ chuyển sang giai đoạn 8 AIDS sẽ được đẩy lùi đáng kể nếu người nhiễm HIV tuân thủ phác đồ điều trị bằng thuốc kháng retrovirus (ARV) [14] [27] [33] Một trong các mục tiêu của UNAIDS đưa ra là 90-90-90, tức 90% người nhiễm HIV biết mình bị HIV, 90% người nhiễm HIV được chữa trị và 90% trường hợp chữa trị có tác dụng khi kiềm chế được số lượng vi rút trong người bệnh nhân ở mức thấp nhất. Một mục tiêu khác của kế hoạch này là giảm số người mắc bệnh HIV/AIDS mới mỗi năm trên toàn thế giới xuống còn 89% [29].Tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam Theo Báo cáo của Bộ Y tế “Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ trọng tâm năm 2016” Trong năm 2015 cả nước phát hiện mới 10.195 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS 6.130, số bệnh nhân tử vong 2.130 trường hợp; trong đó nữ chiếm 34,1%, nam chiếm 66%; lây truyền qua đường tình dục chiếm 50,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 36,1%, mẹ truyền sang con chiếm 2,8%, không rõ chiếm 10,4%. Kết quả giám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,3%, phụ nữ bán dâm 2,7% và tình dục đồng giới là 5,2% [4].

Tính đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong. Theo ước tính, cả nước hiện có khoảng 254.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng, mỗi năm có khoảng 12.000 trường hợp mới nhiễm HIV.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ