Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội Chương 2: Cơ sở l kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. Chương 4 ứu thực tiễn về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN CHO GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 1. Nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Những nghiên cứu về tham vấn Tham vấn ra đời và phát triển từ rất lâu nhưng phải đến thế kỷ XX mới xuất hiện các nghiên cứu về tham vấn, kỹ năng tham vấn theo hướng chuyên nghiệp.
Những người có đóng góp cho sự ra đời của ngành tham vấn có thể kể đến là Francis Galton, Wilhelm Wundt, James Catell, G.Stanley Hall, Alfred Binet, Jesse Davis, Frank Parson, Robert Yerkers [16 ]. Thuật ngữ tham vấn (Counseling) được B.Jesse David sử dụng đầu tiên khi ông thiết lập trung tâm tham vấn hướng nghiệp giáo dục tại Detroit năm 1898. Ông là người đưa ra nghiên cứu về hướng nghiệp mang tính giáo dục với phương thức hướng dẫn trong trợ giúp con người tìm việc làm phù hợp với đặc điểm của cá nhân.Parsons (1854 - 1908) đã nghiên cứu và phát triển cách thức hướng nghiệp chặt chẽ hơn với ba bước cơ bản: 1/ Nhận thức rõ về bản thân, thái độ, mong muồn, tiềm lực và hạn chế cá nhân; 2/ Giúp đối tượng nhận thức rõ về công việc, những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức cũng như hướng phát triển; 3/ Làm rõ mối quan hệ của các yếu tố trên để đối tượng cân nhắc và quyết định. Trên cơ sở tư tưởng của F.Wiliamsom (1900 - 1979) bổ sung và phát triển quy trình tham vấn giải quyết vấn đề với 5 bước từ chẩn đoán tới kết thúc và theo dõi.
Những lý luận về phương thức hướng nghiệp của F.Wiliamson trở thành nguyên lý cơ bản cho cách thức tham vấn sau này [dẫn theo 45,Tr. Với việc phát triển của trào lưu hướng nghiệp và tham vấn nghề, nên có sự phát triển mạnh của các loại trắc nghiệm, phong trào trắc nghiệm được sử dụng nhiều vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả lĩnh vực tham vấn. Tiêu biểu như nghiên cứu trắc nghiệm đo lường trí tuệ, năng lực của Alfred Binet (1896), trắc nghiệm điều chỉnh thích ứng nghề nghiệp của Harry Kitson (1925 ), đo lường hứng thú nghề nghiệp của Woodworth (1927), sở thích nghề nghiệp của E. 9 Strong (1943), trắc nghiệm tính cách của H.Eysenck, trắc nghiệm khả năng giao tiếp của V.Dakharov, trắc nghiệm đo lường trạng thái tâm lý hẫng hụt của Rosenzweig [45].
Tuy nhiên, trắc nghiệm cung cấp những kỹ thuật để hiểu biết về đặc điểm và khả năng của con người, nhưng có chưa thực sự giúp người tham vấn khám phá được những yếu tố cội nguồn và định hướng can thiệp sâu hơn cho sự thay đổi ở đối tượng. Hạn chế này đã được khắc phục bởi những nghiên cứu và ứng dụng của các kỹ thuật trị liệu khác nhau sau này. Trước tiên là những nghiên cứu của các nhà trị liệu phân tâm, đại diện là S. Với những khám phá về vô thức, cấu trúc nhân cách và những cơ chế tự vệ của con người, S.Freud đã cung cấp cho tham vấn các kỹ thuật can thiệp như phân tích giấc mơ, xử lý hiện tượng chuyển dịch và chuyển dịch ngược, tự do liên tưởng nhằm tìm tới cội nguồn của vấn đề thông qua khám phá những mong muốn, mối quan hệ xã hội trong tầng bậc vô thức của thân chủ.
Việc sử dụng những kỹ năng hỏi, lắng nghe một cách tích cực khi thực hiện các kỹ thuật trên được S.Freud nhấn mạnh trong quá trình tham vấn. NVCTXHđã vận dụng những lý thuyết của Freud để ứng dụng trong việc giúp đỡ thân chủ của họ thoát khỏi những rối nhiễu tâm lý. Những thuật ngữ như: bản năng xung động (vô thức), bản ngã (ý thức), và siêu ngã (siêu thức); các quá trình vô thức, các cơ chế phòng vệ, sự đề kháng và liên tưởng thông suốt, sự chuyển vai… ngày nay đã trở nên quen thuộc đối với khoa học trợ giúp về tâm lý, đặc biệt là đối với NVCTXH chuyên nghiệp. Nếu các nhà trị liệu phân tâm chú trọng trong những trải nghiệm quá khứ của đối tượng, thì các nhà tâm lý nhận thức hành vi, các nhà tâm lý học Gestalt lại nhấn mạnh kinh nghiệm hiện tại của con người.
Các tác giả của những trường phái này cho rằng, con người có thể thay đổi được khi người tham vấn giúp họ nhận thức và chịu trách nhiệm về bản thân, về hiện tại chứ không phải về người khác hay quá khứ. Các nhà tâm lý học hành vi như F.Bandura đưa ra kỹ thuật loại bỏ hành vi không thích ứng thông qua học hỏi và thử nghiệm hành vi mới. Những khiếm khuyết của cách tiếp cận này khi bỏ qua vai trò của nhận thức trong hình thành hành vi và được các nhà trị liệu nhận thức hành vi là do cách nhìn nhận thế giới của con người không thực tiễn, các nhà trị liệu nhận thức hành vi đã đưa ra những kỹ thuật loại bỏ niềm tin phi lý như: thư giãn, củng cố tích cực hay củng cố 10 âm tính, giải thích hợp lý, giải mẫn cảm hệ thống, huấn luyện nâng cao khả năng tự tin ở đối tượng [69]. Khác với cách tiếp cận trực tiếp của các trường phái trị liệu trên, Carl Rogers (1902 - 1987) với phương pháp thân chủ trọng tâm đã chuyển liệu pháp tham vấn có định hướng, từ tham vấn nghề nghiệp, tham vấn dựa vào trải nghiệm quá khứ sang tham vấn tập trung vào giải quyết vấn đề của họ với tập sách “Tham vấn và trị liệu tâm lý”.
Với quan điểm, con người chứa đựng trong họ tiềm năng tự thay đổi, ông đề xuất phương thức trị liệu bằng trao đổi tâm tình để tạo ra môi trường thân thiện, từ đó giúp đối tượng hiểu và tự điều chỉnh để đạt được trạng thái cân bằng. Trong cách tiếp cận này, ông chú ý việc sử dụng kỹ thuật trị liệu thông qua tương tác nhiều hơn là đo lường tâm lý. Cách tiếp cận và kỹ thuật can thiệp này của Carl Rogers đã có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động tham vấn và trị liệu tâm lý không những tại thời điểm đó mà còn cho đến tận ngày nay [54]. Trong tâm lý học Xô Viết, những nghiên cứu về cách thức trị liệu tâm lý cũng đã được phát triển ở thập kỷ 70 và đi sâu vào tìm kiếm những tác động tạo nên sự tự tin, tâm thế xã hội mang tính giáo dục nhân cách, lao động và đạo đức ở cá nhân.
Nghiên cứu của V.Miasishev (1973) hướng tới khám phá xung đột của cá nhân và xây dựng lại ở họ mối quan hệ tích cực thông qua liệu pháp trò chuyện.Miager (1973) quan tâm tới trị liệu gia đình trên cơ sở của việc tạo ra sự tác động tương hỗ giữa các thành viên trong gia đình nhằm giúp họ hiểu biết lẫn nhau và thay đổi bản thân. Hướng nghiên cứu của X.Libix (1967) là trị liệu nhóm nhằm giúp cá nhân tăng cường nhận thức trong mối quan hệ liên nhân cách.Zakharov (1971, 1973) lại đưa ra mô hình can thiệp theo xu hướng kết hợp sự tác động cá nhân, gia đình và nhóm. Những kỹ thuật trên đã phần nào mô phỏng cách thức can thiệp trong tham vấn. Tuy nhiên, người ta nhận thấy nó vẫn chỉ là một công cụ đơn giản và sẽ không đem lại hiệu quả cao, nếu chúng không được sử dụng một cách tinh tế với một nghệ thuật - kỹ năng tương tác giữa NVCTXH và thân chủ và xem đây là những KNTVcơ bản.
Điều này đã được các nghiên cứu của nhiều tác giả khắc phục vào những giai đoạn nửa sau của thế kỷ XX [46]. Phần lớn các nghiên cứu ở giai đoạn này tập trung vào những kỹ năng tương tác cơ bản giữa NVCTXH và thân chủ. Điển hình như nghiên cứu của R.Carkhuff (1972) về giao tiếp - như là nghệ thuật 11 trợ giúp và vai trò làm mẫu của NVCTXH đối với khả năng học tập hành vi mới của đối tượng. Các nghiên cứu của M.Thomas Sknovhotlt và A.Egan (1994) [75] tiếp cận từ góc độ nghề trợ giúp và đề cập tới kỹ năng giúp đỡ trong đó có KNTV cơ bản dưới góc độ của kỹ năng giao tiếp trong tạo lập môi trường tương tác giữa người trợ giúp với thân chủ.Gibson và Marianne H.Mitchell [94] đưa ra quan điểm để hành nghề tham vấn thì nhà tham vấn cần phải hội tụ các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp; kỹ năng chẩn đoán, đánh giá; kỹ năng thuyết phục và kỹ năng quản lý.
Trong đó đặc biệt đi sâu vào các kỹ năng giao tiếp bao gồm: kỹ năng giao tiếp không lời và kỹ năng giao tiếp bằng lời. Kỹ năng giao tiếp không lời được thể hiện qua việc sử dụng thời gian, sử dụng những cử động cơ thể (ánh mắt, nụ cười, tay, đầu.), sử dụng giọng nói (tốc độ, nhịp độ, thời lượng, cách diễn đạt), sử dụng môi trường giao tiếp (khoảng cách, trang trí, trang phục, vị trí). Kỹ năng giao tiếp bằng lời như: lắng nghe, phản hồi, đặt câu hỏi. Đây là các kỹ năng rất cơ bản để nhà tham vấn có thể thiết lập sự tin tưởng đối với thân chủ, thu thập thông tin và trợ giúp hiệu quả.
Một số tác giả khác lại nghiên cứu sâu hơn về các KNTV trong quá trình trợ giúp, như nghiên cứu của H. Những nghiên cứu vê tham vấn gia đình, tham vấn gia đình trẻ tự kỷ 1. Tham vấn gia đình Bên cạnh các hướng nghiên cứu về tham vấn cá nhân, tham vấn nghề nghiệp hay các kỹ năng tham vấn thì các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy khi giúp đỡ cá nhân thì cần đặt họ vào bối cảnh của cá nhân đó, như gia đình, cộng đồng, xã hội mà cá nhân đó sinh sống. Các hướng nghiên cứu này đã tiếp cận sự trợ giúp con người trong một mối quan hệ xã hội rộng hơn chứ không chỉ bó hẹp trong cá nhân như một số cách tiếp cận trị liệu được đề cập ở trên.
Vì thế, hướng nghiên cứu về tham vấn gia đình cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu.các nghiên cứu này đã bổ sung các phương thức can thiệp hành vi suy nghĩ của một cá nhân thông qua tác động nhằm thay đổi cách thức tương tác trong gia đình.