Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Hiệp Thương, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan và PGS.TS. Nguyễn Đức Sơn, chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành (mã số: 62.05), bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Về tính cấp thiết, tác giả phân tích rằng số lượng trẻ em mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ đang gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, trở thành mối quan tâm lớn của xã hội. Thống kê quốc tế chỉ ra sự biến thiên đáng kể: tại Mỹ vào những năm 1980 tỷ lệ là 1/2000 trẻ, đến năm 2011 đã lên tới khoảng 1/110 trẻ với khoảng 560.000 trường hợp; tại Anh tỷ lệ vào khoảng 1/150 trẻ em. Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của Trường Đại học Y Hà Nội trên 6.583 trẻ từ 18 đến 24 tháng tuổi tại tỉnh Thái Bình ghi nhận tỷ lệ hiện mắc là 0,46%, trong đó tỷ lệ trẻ trai/gái là 6,4/1; một số khảo sát tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội ghi nhận tỷ lệ tương ứng là 8/1 và 4,9/1. Sự xuất hiện của trẻ tự kỷ tạo ra cú sốc tâm lý, khủng hoảng tinh thần, áp lực kinh tế và nguy cơ rạn nứt các mối quan hệ trong gia đình. Trong hệ thống can thiệp, nhân viên công tác xã hội giữ vai trò hỗ trợ các nhóm yếu thế, trong đó tham vấn là nhiệm vụ trung tâm nhằm giải tỏa căng thẳng và tăng cường năng lực ứng phó của gia đình.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong khi các nghiên cứu về can thiệp trị liệu trực tiếp cho trẻ tự kỷ ngày càng nhiều, các công trình hỗ trợ và tham vấn chuyên sâu cho gia đình trẻ tự kỷ còn rất hạn chế. Đồng thời, dù kỹ năng tham vấn cơ bản đã được giảng dạy trong ngành công tác xã hội, thực tiễn cho thấy nhân viên công tác xã hội vẫn gặp nhiều lúng túng khi vận dụng vào bối cảnh đặc thù của gia đình trẻ tự kỷ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội, phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan tác động, từ đó đề xuất biện pháp và tiến hành thực nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng này.

Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Hệ thống hóa và xác định những vấn đề lý luận về tham vấn; kỹ năng tham vấn; kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội; các yếu tố ảnh hưởng tới các kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
  2. Khảo sát đánh giá thực trạng kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
  3. Đề xuất một số biện pháp tác động và tổ chức thực nghiệm tác động nâng cao một số kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức độ và biểu hiện của kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.

Về phạm vi nội dung, luận án tập trung vào biểu hiện và mức độ thực hiện năm kỹ năng tham vấn cơ bản (kỹ năng thiết lập mối quan hệ, kỹ năng hỏi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng phản hồi) và bốn kỹ năng tham vấn chuyên biệt (kỹ năng cung cấp thông tin, kỹ năng đương đầu, kỹ năng can thiệp, kỹ năng vận động và kết nối nguồn lực), cùng các yếu tố chủ quan và khách quan chi phối. Về khách thể, đề tài khảo sát hai nhóm: nhân viên công tác xã hội và cha mẹ trẻ tự kỷ. Về phạm vi không gian, nghiên cứu được triển khai tại ba cơ sở chăm sóc, can thiệp trẻ tự kỷ trên địa bàn thành phố Hà Nội: Trường mầm non Newstar (Ngôi sao sáng, 240 Trần Duy Hưng), Trường mầm non Ánh Sao Mai (69/255 Phố Vọng), và Trung tâm Sao Biển (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 136 Xuân Thủy).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy sự phát triển của hoạt động tham vấn và kỹ năng tham vấn trải qua nhiều giai đoạn trên thế giới và tại Việt Nam:

Ở nước ngoài, nghiên cứu tham vấn hình thành từ cuối thế kỷ XIX với dấu mốc B. Jesse Davis lập trung tâm tham vấn hướng nghiệp giáo dục tại Detroit năm 1898. Frank Parsons (1854-1908) xây dựng mô hình ba bước căn bản của hướng nghiệp, sau đó F. Williamson (1900-1979) phát triển thành quy trình tham vấn giải quyết vấn đề gồm năm bước. Trào lưu trắc nghiệm tâm lý hỗ trợ tham vấn phát triển mạnh mẽ qua các công cụ đo trí tuệ của Alfred Binet (1896), thích ứng nghề nghiệp của Harry Kitson (1925), hứng thú nghề nghiệp của Woodworth (1927), sở thích của E. Strong (1943), nhân cách của H. Eysenck, giao tiếp của V. Dakharov và hẫng hụt tâm lý của Rosenzweig.

Về trị liệu và can thiệp, Sigmund Freud đóng góp các kỹ thuật phân tâm học (liên tưởng tự do, phân tích giấc mơ, giải tỏa chuyển dịch). Albert Bandura cùng các tác giả hành vi và nhận thức phát triển kỹ thuật loại bỏ niềm tin phi lý và định hình hành vi mới. Carl Rogers (1902-1987) tạo bước chuyển mang tính nền tảng sang liệu pháp thân chủ trọng tâm qua tác phẩm "Tham vấn và trị liệu tâm lý", đề cao sự tương tác và tiềm năng tự giải quyết vấn đề của thân chủ. Trường phái tâm lý học Xô Viết có các nghiên cứu trị liệu của V. Miasishev (1973), Miager (1973), X. Libix (1967) và Zakharov (1971, 1973) kết hợp can thiệp cá nhân, gia đình và nhóm.

Về kỹ năng tham vấn, các tác giả nửa sau thế kỷ XX đi sâu vào kỹ năng tương tác: R. Carkhuff (1972), M. Thomas Skovholt và G. Egan (1994), Gibson và Marianne H. Mitchell (phân định kỹ năng giao tiếp không lời và có lời), Neukrug (1999, phân loại kỹ năng thiết yếu, chung, nâng cao, đặc biệt), Tan Esther (2004, hệ thống 35 kỹ năng chia thành 4 nhóm), và Richard Nelson (2003). Về tham vấn gia đình, C. Thomas Holland (1993), Ackerman và Satir, S. Minuchin, C. Robert (1976) đóng góp các mô hình cấu trúc quyền lực và học tập xã hội. Về tham vấn cho trẻ khuyết tật và trẻ tự kỷ, các tác giả tiêu biểu gồm Leo Kanner (1943, đặt nền móng khái niệm tự kỷ), Rosemarie S. Cook (1990), David M. Luterman (1996), Hornby G. (2000), Vismara (2008), và nghiên cứu cắt ngang năm 2012 trên 38 phụ huynh (28 mẹ, 10 bố) dựa theo mô hình hành vi gia đình của McCubbin và Patterson (1983).

Tại Việt Nam, trước năm 1945, nhân viên xã hội tại Bệnh viện Bạch Mai đã sử dụng tham vấn hỗ trợ bệnh nhân; trước năm 1975 ở miền Nam, Trường đào tạo cán sự xã hội Caritas thuộc Hội Chữ đỏ Pháp đã đưa nội dung này vào giảng dạy. Năm 1988, phòng tư vấn tâm lý đầu tiên ra đời tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các nghiên cứu thực trạng và nhu cầu tham vấn được tiến hành bởi Dương Diệu Hoa (2007), Nguyễn Thị Thanh Bình (1997), Phạm Thanh Bình (2014), Phạm Văn Tư (2015). Cơ sở lý luận được phân tích bởi Nguyễn Ngọc Phú, Trần Thị Minh Đức, Phạm Tất Dong, Trần Quốc Thành, Nguyễn Thị Mùi, Trần Thị Lệ Thu, Bùi Thị Xuân Mai, Hoàng Anh Phước.

Về kỹ năng tham vấn, các tài liệu và công trình tiêu biểu gồm: Nguyễn Thơ Sinh (2001), Kiến Văn và Lý Chủ Hưng (2007), luận án của Bùi Thị Xuân Mai (2007, khảo sát 4 kỹ năng cơ bản trên 479 cán bộ xã hội), Trần Thị Minh Đức (2008, 2010, 2011), luận án của Hoàng Anh Phước (2012, nghiên cứu kỹ năng tham vấn học đường trên 45 cán bộ và 400 học sinh), và Nguyễn Văn Tường (2012). Về tham vấn gia đình, các tài liệu của UNICEF (2005), Bùi Thị Xuân Mai (2008), và Trần Đình Tuấn (2013) đã phác thảo các kỹ thuật can thiệp gia đình nói chung.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù hệ thống y văn đã đề cập nhiều đến tham vấn cá nhân, tham vấn học đường và tham vấn gia đình nói chung, mảng nghiên cứu chuyên sâu về kỹ năng tham vấn dành riêng cho gia đình có trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội hoàn toàn chưa được khảo sát có hệ thống tại Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác lập khung lý luận gồm cả kỹ năng cơ bản và kỹ năng chuyên biệt, đo lường thực trạng và kiểm chứng biện pháp thực nghiệm nâng cao kỹ năng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hai nguyên tắc phương pháp luận tâm lý học:

  • Nguyên tắc hoạt động: Kỹ năng được hình thành, biến đổi và bộc lộ trong hoạt động; do đó kỹ năng tham vấn của nhân viên công tác xã hội được nghiên cứu trực tiếp thông qua hoạt động thực tiễn hỗ trợ trẻ tự kỷ và cha mẹ các em.
  • Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Kỹ năng chịu sự chi phối đa chiều của các yếu tố chủ quan (sự say mê, hứng thú; kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm; tính tích cực, chủ động) và khách quan (cơ hội đào tạo; hình thức khuyến khích; yêu cầu công việc), đòi hỏi phải xem xét các mối tương quan tổng thể.

Về mặt lý luận, tác giả tổng hợp hai khuynh hướng quan niệm về kỹ năng: khuynh hướng kỹ thuật hành động (đại diện bởi A. Petrovxki) và khuynh hướng năng lực hành động (N. Levitov, Platonov, Vũ Dũng, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, J. Sheafor), đồng thuận với định nghĩa của Hoàng Anh Phước: kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để đạt kết quả theo mục đích đề ra. Quy trình hình thành kỹ năng được tổng hợp từ quan điểm ba giai đoạn của Vũ Dũng, năm giai đoạn của Golubev, và quy trình ba bước (nhận thức mục đích - làm thử theo mẫu - luyện tập) của V. Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N. Petrovxki, Trần Quốc Thành. Về khái niệm tham vấn và kỹ năng tham vấn, tác giả kế thừa quan điểm của Carl Rogers (1952), Patterson (1954), Egan (1994), Zastrow (1985), Anthony Yeo (1993), Neukrug (1999), Tan Esther (2004), Richard Nelson (2003), và tiếp thu định nghĩa kỹ năng tham vấn của Bùi Thị Xuân Mai (2007).

Về khái niệm trẻ tự kỷ, luận án tiếp cận định nghĩa của Liên hợp quốc (2008), phân loại rối loạn phổ tự kỷ (ASDs) theo ICD-10 của WHO và DSM-V của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ thành 5 nhóm: Rối loạn tự kỷ, Rối loạn Asperger, Rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ (CDD), Hội chứng Rett, và Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (PDD-NOS). Ba biểu hiện đặc trưng gồm: khiếm khuyết quan hệ xã hội, khiếm khuyết ngôn ngữ giao tiếp, và hành vi sở thích rập khuôn lặp lại. Về tâm lý gia đình trẻ tự kỷ, tác giả vận dụng lý thuyết hệ thống gia đình của Turnbull về vòng đời gia đình qua 4 giai đoạn, mô hình hành vi gia đình của McCubbin và Patterson (1983), cùng 5 giai đoạn phản ứng tình cảm của cha mẹ (sốc/từ chối, tức giận/tự trách, mặc cả theo Elisabeth Kübler-Ross, buồn nản/suy sụp, chấp nhận/tìm cách giải quyết). Về công tác xã hội, tác giả sử dụng định nghĩa của Hiệp hội Công tác xã hội Quốc tế (2011), IASW và các vai trò của Federico (1973).

Khung cấu trúc kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội được luận án phân định thành hai nhóm:

Nhóm kỹ năng Các kỹ năng thành phần Mục tiêu và biểu hiện chính
Kỹ năng tham vấn cơ bản 1. Thiết lập mối quan hệ
2. Kỹ năng hỏi
3. Kỹ năng lắng nghe
4. Kỹ năng thấu hiểu
5. Kỹ năng phản hồi
Tạo lập môi trường an toàn, lắng nghe tích cực không phán xét, sử dụng câu hỏi gợi mở, thấu cảm với nỗi đau của cha mẹ, phản hồi cảm xúc và nhận thức giúp thân chủ nhận diện vấn đề.
Kỹ năng tham vấn chuyên biệt 1. Cung cấp thông tin
2. Kỹ năng đương đầu
3. Kỹ năng can thiệp
4. Vận động và kết nối nguồn lực
Cung cấp tri thức chính xác về phổ tự kỷ; trợ giúp cha mẹ vượt qua khủng hoảng tâm lý; hướng dẫn kỹ thuật can thiệp hành vi tại nhà; liên kết các nguồn lực y tế, giáo dục, tài chính và xã hội.

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu;
  • Phương pháp chuyên gia;
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát nhân viên công tác xã hội và cha mẹ trẻ tự kỷ);
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm tập trung;
  • Phương pháp nghiên cứu tiểu sử và nghiên cứu trường hợp (Case Study);
  • Phương pháp thực nghiệm tác động nhằm nâng cao kỹ năng tham vấn chuyên biệt;
  • Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học (kiểm định độ tin cậy thang đo, tính điểm trung bình ĐTB, so sánh khác biệt đánh giá, phân tích tương quan và hồi quy dự báo mức độ kỹ năng dưới tác động của các yếu tố).

Tác giả xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ kỹ năng và hệ thống thang đánh giá tương ứng để chuẩn hóa quá trình khảo sát và đo lường thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội

Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh chính: các nghiên cứu về tham vấn và kỹ năng tham vấn nói chung; các nghiên cứu về tham vấn gia đình và tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ. Tác giả chỉ ra quy luật phát triển của tham vấn từ các kỹ thuật trắc nghiệm, tư vấn hướng nghiệp sơ khai chuyển dần sang các trường phái trị liệu tâm lý chuyên sâu (phân tâm, hành vi - nhận thức, thân chủ trọng tâm) và mở rộng thành kỹ năng tương tác xã hội.

Tại Việt Nam, chương 1 phản ánh lịch sử hình thành nghề công tác xã hội và hoạt động tư vấn, đồng thời phân tích các tài liệu tập huấn, giáo trình và luận án tiến sĩ liên quan. Tác giả kết luận rằng các công trình trong nước chủ yếu mới dừng lại ở việc phản ánh nhu cầu, khó khăn trong công tác tham vấn học đường hoặc tham vấn chung; chưa có công trình nào nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô hình rèn luyện kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội, khẳng định tính mới của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ: kỹ năng, cơ chế hình thành kỹ năng, tham vấn, kỹ năng tham vấn, trẻ tự kỷ, gia đình trẻ tự kỷ và nhân viên công tác xã hội. Tác giả phân tích cấu trúc tâm lý của gia đình trẻ tự kỷ theo lý thuyết hệ thống của Turnbull qua các giai đoạn vòng đời:

Giai đoạn vòng đời Vấn đề thường gặp của cha mẹ Vấn đề của anh chị em
Trước tuổi đi học (0 - 5 tuổi) Lo lắng kiểm tra, chẩn đoán; thông báo cho gia đình; tìm kiếm dịch vụ; bối rối về lòng tự trọng; xác định mức độ khuyết tật và kỳ vọng. Thiếu sự chăm sóc của cha mẹ; ghen tị với trẻ tự kỷ; sợ hãi, hiểu lầm về hội chứng.
Trẻ đến trường (6 - 12 tuổi) Thiết lập nền nếp gia đình; điều chỉnh tình cảm trước áp lực học tập của trẻ; lựa chọn hình thức giáo dục; huy động nguồn lực. Phân chia trách nhiệm chăm sóc; lo lắng cho trẻ; thiếu thời gian giải trí; ngại ngùng khi học cùng trường.
Thành niên (12 - 21 tuổi) Điều chỉnh tâm lý khi khuyết tật kéo dài; xử lý vấn đề giới tính, dậy thì; định hướng bạn bè và kế hoạch học nghề, sau khi ra trường. Cảm thông, chia sẻ; đôi khi ngượng ngùng trước bạn bè; tham gia tổ chức hoạt động hỗ trợ.
Người lớn (Từ 21 tuổi trở lên) Lập kế hoạch người giám hộ; sắp xếp nơi ăn chốn ở lâu dài; điều chỉnh tình cảm khi con phụ thuộc suốt đời; tìm kiếm công việc. Hỗ trợ tài chính, chăm sóc; điều chỉnh thái độ; chuẩn bị thay thế vai trò cha mẹ trong tương lai.

Tác giả đi sâu phân tích 5 giai đoạn biến đổi cảm xúc của cha mẹ khi đối diện với hội chứng của con, đồng thời xác lập nội hàm của 5 kỹ năng cơ bản và 4 kỹ năng chuyên biệt. Chương này cũng phân loại chi tiết các yếu tố chi phối: nhóm yếu tố chủ quan (sự say mê, hứng thú; kiến thức đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn; tính tích cực, chủ động) và nhóm yếu tố khách quan (cơ hội đào tạo nâng cao trình độ; hình thức khuyến khích tại cơ quan; yêu cầu công việc).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn. Tác giả mô tả chi tiết quy trình xây dựng công cụ khảo sát bảng hỏi, quy trình lấy ý kiến chuyên gia, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và phương pháp nghiên cứu trường hợp. Mẫu nghiên cứu chính thức được tiến hành trên hai nhóm khách thể tại ba cơ sở: Trường mầm non Newstar, Trường mầm non Ánh Sao Mai và Trung tâm Sao Biển (ĐHSPHN).

Tác giả thiết lập hệ thống tiêu chí, các yêu cầu mức độ thực hiện kỹ năng tham vấn và kiểm tra độ tin cậy của các thang đo (độ tin cậy thang đo kỹ năng tham vấn cơ bản và chuyên biệt). Bên cạnh đó, chương 3 thiết kế quy trình thực nghiệm tác động: lựa chọn nhóm thực nghiệm, xây dựng nội dung tập huấn tác động vào các kỹ năng chuyên biệt, sử dụng bài tập tình huống để đo lường mức độ chuyển biến trước và sau can thiệp.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội

Chương 4 là chương trọng tâm trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ thực tiễn:

  • Thực trạng kỹ năng tham vấn cơ bản: Phân tích mức độ thực hiện 5 kỹ năng (thiết lập mối quan hệ, hỏi, lắng nghe, thấu hiểu, phản hồi). Tác giả so sánh đánh giá giữa nhân viên công tác xã hội và cha mẹ trẻ tự kỷ để thấy được khoảng cách giữa tự đánh giá và mức độ hài lòng thực tế của thân chủ.
  • Thực trạng kỹ năng tham vấn chuyên biệt: Đánh giá điểm trung bình và phân bố mức độ của 4 kỹ năng (cung cấp thông tin, đương đầu, can thiệp, vận động và kết nối nguồn lực), chỉ ra những kỹ năng còn ở mức thấp.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Đánh giá thực trạng các yếu tố chủ quan (sự say mê, kiến thức chuyên môn, tính chủ động) và khách quan (cơ hội đào tạo, khuyến khích, yêu cầu công việc); sử dụng phân tích tương quan và mô hình hồi quy để dự báo sự thay đổi mức độ kỹ năng tham vấn dưới tác động của các yếu tố đơn nhất và các cụm yếu tố.
  • Kết quả thực nghiệm tác động: So sánh mức độ kỹ năng chuyên biệt và kỹ năng chung của nhân viên công tác xã hội trước và sau thực nghiệm, kết quả giải quyết các bài tập tình huống, kết hợp phân tích trường hợp điển hình nhằm chứng minh tính hiệu quả của biện pháp can thiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa và bổ sung khung lý luận chuyên biệt về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội trong điều kiện Việt Nam. Đóng góp nổi bật là việc phân định rõ ràng cấu trúc kỹ năng thành hai nhóm: 5 kỹ năng tham vấn cơ bản và 4 kỹ năng tham vấn chuyên biệt, đồng thời xác lập hệ thống tiêu chí và thang đo đánh giá kỹ năng có độ tin cậy khoa học.

Về mặt thực tiễn, luận án đem lại các kết quả cụ thể:

  • Phản ánh trung thực bức tranh thực trạng về kỹ năng tham vấn của nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở can thiệp trẻ tự kỷ tại Hà Nội, chỉ ra sự chênh lệch giữa kỹ năng cơ bản và kỹ năng chuyên biệt, cũng như sự khác biệt trong cảm nhận giữa nhân viên và phụ huynh.
  • Đo lường và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, xác định vai trò dự báo của các cụm yếu tố đào tạo, động lực nghề nghiệp và môi trường quản lý đối với kỹ năng tham vấn.
  • Khẳng định tính khả thi và hiệu quả của biện pháp thực nghiệm tác động thông qua sự cải thiện rõ rệt về điểm số kỹ năng chuyên biệt, khả năng giải quyết bài tập tình huống và phân tích trường hợp lâm sàng sau thực nghiệm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn: đổi mới chương trình đào tạo công tác xã hội theo hướng chuyên sâu về khuyết tật phát triển; tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng đương đầu và kết nối nguồn lực; hoàn thiện cơ chế chính sách, khen thưởng và hỗ trợ chuyên môn cho nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở trị liệu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trên địa bàn thành phố Hà Nội và tập trung khảo sát tại ba cơ sở trị liệu chuyên biệt (Trường mầm non Newstar, Trường mầm non Ánh Sao Mai, Trung tâm Sao Biển). Do đó, kết quả nghiên cứu chưa phản ánh đầy đủ thực trạng kỹ năng tham vấn của nhân viên công tác xã hội ở các khu vực nông thôn, các tỉnh thành khác hoặc trong các bệnh viện nhi tuyến công lập trên toàn quốc.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra định hướng:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát khách thể trên quy mô liên tỉnh và toàn quốc nhằm nâng cao tính đại diện.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các kỹ thuật tham vấn tương ứng với từng giai đoạn phát triển đặc thù của trẻ tự kỷ (tuổi dậy thì, tuổi trưởng thành) và từng nhóm rối loạn chuyên biệt trong phổ tự kỷ (như hội chứng Asperger, Rett, PDD-NOS).
  • Xây dựng và chuẩn hóa bộ tài liệu tập huấn kỹ năng tham vấn chuyên biệt thành giáo trình ứng dụng chính thức trong hệ thống đào tạo đại học và sau đại học ngành Công tác xã hội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu học thuật có giá trị thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Tâm lý học, Công tác xã hội, Giáo dục đặc biệt: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần về công tác xã hội với người khuyết tật, tâm lý học can thiệp và kỹ năng tham vấn gia đình.
  • Nhân viên công tác xã hội, cán sự xã hội, chuyên viên tâm lý tại các bệnh viện, trung tâm phục hồi chức năng và trường mầm non chuyên biệt: Cung cấp khung thao tác cụ thể về 4 kỹ năng chuyên biệt (cung cấp thông tin, hỗ trợ đương đầu, hướng dẫn can thiệp, kết nối nguồn lực) để nâng cao chất lượng hỗ trợ cha mẹ trẻ tự kỷ.
  • Các nhà quản lý cơ sở chăm sóc trẻ khuyết tật và người làm chính sách an sinh xã hội: Tham khảo các phát hiện về yếu tố môi trường làm việc, cơ hội đào tạo và chế độ đãi ngộ để xây dựng chính sách nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên trợ giúp xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội thành những nhóm kỹ năng cụ thể nào?
Luận án phân chia thành hai nhóm: nhóm kỹ năng tham vấn cơ bản (5 kỹ năng: thiết lập mối quan hệ, hỏi, lắng nghe, thấu hiểu, phản hồi) và nhóm kỹ năng tham vấn chuyên biệt (4 kỹ năng: cung cấp thông tin, đương đầu, can thiệp, vận động và kết nối nguồn lực).

2. Vòng đời của gia đình có trẻ tự kỷ trải qua những giai đoạn nào theo lý thuyết mà tác giả sử dụng?
Theo lý thuyết hệ thống gia đình của Turnbull được tác giả trích dẫn, vòng đời gia đình có trẻ tự kỷ trải qua 4 giai đoạn chính: giai đoạn trước tuổi đi học (trẻ từ 0 đến 5 tuổi), giai đoạn trẻ đến trường (từ 6 đến 12 tuổi), giai đoạn thành niên (từ 12 đến 21 tuổi), và giai đoạn người lớn (từ 21 tuổi trở lên).

3. Phản ứng tình cảm của cha mẹ khi phát hiện con mắc hội chứng tự kỷ thường diễn biến qua các giai đoạn nào?
Dựa trên mô hình tâm lý học và quan điểm của Elisabeth Kübler-Ross, luận án khái quát 5 giai đoạn phản ứng tình cảm điển hình của cha mẹ: Giai đoạn 1: Sốc, từ chối, không tin; Giai đoạn 2: Tức giận, tự trách mình (cảm giác có tội); Giai đoạn 3: Mặc cả (tự lý giải để trì hoãn sự thật); Giai đoạn 4: Buồn nản, suy sụp; Giai đoạn 5: Chấp nhận và tìm cách giải quyết.

4. Những yếu tố chủ quan và khách quan nào được luận án phân tích tác động đến kỹ năng tham vấn của nhân viên công tác xã hội?
Nhóm yếu tố chủ quan gồm: sự say mê, hứng thú với công việc; kiến thức chuyên môn được đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn; tính tích cực, chủ động của nhân viên. Nhóm yếu tố khách quan gồm: cơ hội đào tạo nâng cao trình độ; hình thức khuyến khích làm việc tại cơ quan; yêu cầu công việc.

5. Khách thể và địa bàn khảo sát thực tiễn của đề tài được triển khai tại những đơn vị nào?
Khảo sát thực tiễn được thực hiện trên hai nhóm khách thể là nhân viên công tác xã hội và cha mẹ trẻ tự kỷ tại ba cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội: Trường mầm non Newstar (Ngôi sao sáng, 240 Trần Duy Hưng), Trường mầm non Ánh Sao Mai (69/255 Phố Vọng), và Trung tâm Sao Biển trực thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (136 Xuân Thủy).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hiệp Thương là công trình nghiên cứu chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành, giải quyết vấn đề kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội. Bằng việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận, điều tra định lượng, phỏng vấn sâu và thực nghiệm tác động, tác giả đã làm rõ cấu trúc 9 kỹ năng thành phần cùng các yếu tố chi phối. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và giải pháp khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo chuyên môn và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ tại Việt Nam.