CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN Ở chương này, tác giả luận văn nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số. Các nội dung được đề cập đến, đó là các khái niệm liên quan, các lý thuyết được vận dụng và đặc điểm địa bàn nghiên cứu cùng một số đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo. Khái niệm công cụ + “Nghèo” Nghèo đói là một vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu.
Nghèo đói không chỉ là vấn đề xã hội ở các nước lạc hậu, kém phát triển mà ngay cả những nước công nghiệp phát triển cũng tồn tại một bộ phận dân cư bị đánh giá là nghèo. Tuy vậy, quan niệm về nghèo đói vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, cho tới nay cũng chưa có khái niệm chính thống về đói nghẻo. Nghiên cứu của Rowntree năm 1991 cho thấy, nghẻo đói là sự thiếu hụt một lượng dinh dưỡng nảo đó đề tồn tại được. Vào những năm 1970, Townsend quan niém rang “nghéo doi khong chi thiếu khả năng đáp ứng các nhu câu dinh dưỡng tối thiểu mà còn thiếu khả năng theo kịp chuẩn mực của một xã hội nhất định nào đó ” [13] Cũng trong thời kỳ này, nghèo đói đã được mở rộng từ quan niệm về thu nhập sang một khái niệm rộng hơn đó là nhu cầu cơ bản.
Theo đó, nghiên cứu của ILO cho rằng “nghèo đói không chỉ là thiểu thốn về thu nhập mà thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ y té, giáo đục và các dịch vụ cơ bản khác ” [13] Tại hội nghị chống nghèo đói đo Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc — Thái Lan vào tháng 9/1993, đã đề cập tới nghèo đói như sau: “n#ghẻo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu câu cơ bản của con người mà những nhu cau ay đã được xã hội thừa nhận phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương” [13]. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagenr, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể về người 15 nghèo “Người nghèo là tất cả những ai mà có thu nhập thấp hơn dưới IUSD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu dé ton tai” [13]. Tóm lại, có thê đưa ra một khái niệm chung về nghẻo đói như sau: Nghèo đói là một phạm trà chỉ mức sống của một cộng đồng hoặc một nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo được những nhu câu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn đã được xã hội thừa nhận. + Phụ nữ nghèo Theo tô chức Escap đưa ra tại hội nghị chống đói nghèo năm 1993 thi “Phu nữ nghèo là những người chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu câu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống trung bình của cộng động xét trên mọi phương diện ”.
* Phuong pháp Công tác xã hội cá nhân Khái niệm - Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một-một. Nó được nhân viên xá hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện chức năng xã hội. (theo Grace Mathew) [9] - Công tác xã hội cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo về an sinh con người sử dụng để giúp các cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của ho. (theo HELEN HARRIS PERLMAN) [9] Hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đem lại cho đất nước nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt nhưng những vấn đề như thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, thảm họa, nghẻo đói, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là người nghèo dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vẫn cần sự hỗ trợ của Nhà nước để vươn lên thoát nghèo.
Nhằm giải quyết những thách thức trên cần có sự chung tay của toàn xã hội, trong đó công tác xã hội đóng vai trò rất quan trọng. Ở Việt Nam nghề công tác xã hội mới chỉ ở bước đầu hình thành và phát triển từ khi Thủ tướng Chính phủ 16 ký Quyết định 32/2010/QĐ-TTg (còn gọi là Đề án 32) về phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020. Từ khi Đề án được ban hành, công tác xã hội mới chính thức được coi như một ngành khoa học, một nghề chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức. Tuy nhiên, công tác xã hội đối với người nghèo chưa có chính sách cụ thể mà chủ yếu vẫn lồng ghép vào các hoạt động của ngành lao động thương binh và xã hội; Mặt trận và các đoàn thể; các dịch vụ cung cấp cho người nghèo còn bỏ ngỏ dẫn đến các chính sách được thực hiện song hiệu quả mang lại chưa cao.
Do đó vấn đề đặt ra là cần có những chính sách cụ thê nhằm phát triển nghề công tác xã hội, trong đó có chính sách nhằm phát triển công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiêu số, nhằm giúp họ tăng năng lực, chủ động tự tin thụ hưởng các chính sách của Nhà nước. Mặt khác, cần phát triển mạng lưới cung cấp các dịch vụ cho người nghèo dân tộc thiểu số. Các giải pháp mà nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ người nghèo dân tộc thiểu số tiếp cận các chính sách, các dịch vụ: Hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ y tế; các dịch vụ về nhà ở, đất sản xuất; các dịch vụ thông tin liên lạc, truyền thông. Hỗ trợ sản xuất cho người nghèo dân tộc thiểu số nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập, làm giàu chính đáng: Hỗ trợ kỹ năng đối thoại chính sách giảm nghèo cho người nghèo dân tộc thiểu số; Trên cơ sở các chính sách hỗ trợ về giáo dục, đào tạo và dạy nghề cho người nghèo dân tộc thiêu số và con em họ đi học, nhân viên công tác xã hội hỗ trợ cho hộ nghèo dân tộc thiêu số tiếp cận một cách tốt nhất các chính sách về giáo dục, như: hỗ trợ, tư vấn cho con em họ tự tin đến trường và thấy được những lợi ích của việc học.
Mặt khác, kết nối với các cơ quan thực hiện các chính sách miễn, giảm học phí cho con em hộ nghèo dân tộc thiêu số được hưởng các chính sách một cách tốt nhất, làm cho người nghèo dân tộc thiểu số và các cơ quan cung cấp, thực hiện chính sách hiểu nhau và chia sẻ những khó khăn của nhau. Bên cạnh đó nhân viên công tác xã hội khi làm việc với các thành viên của hộ nghèo dân tộc thiểu số, sẽ xác định được nhu cầu học nghề của từng thành viên trong gia đình, từ đó có kế hoạch kết nối với các tô chức, cá nhân, các trung tâm dạy nghề để hỗ trợ họ chọn học nghề phù hợp, giúp họ tự tin khi tham gia học nghề và tìm nghề 17 nghiệp ổn định sau khi học. Mặt khác nhân viên xã hội sẽ kết nối các doanh nghiệp bao tiêu sản phâm khi người nghèo dân tộc thiểu số làm ra, giúp họ ổn định được đầu ra của sản phẩm và có thu nhập ôn định. Nhân viên công tác xã hội phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương thực hiện khảo sát xác định nhu cầu học nghề của lao động nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn từng huyện, thành phố làm căn cứ để cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch đào tạo nghè cho lao động nghèo dân tộc thiểu số hăng năm.
Ngoài ra, nhân viên công tác xã hội còn là người chuyền tải ý kiến của người nghèo dân tộc thiểu số đến với các cơ quan chức năng, giúp các cơ quan chức năng thực hiện đầy đủ các chính sách cho người nghèo, nhất là chính sách hỗ trợ hộ nghèo dân tộc thiêu số tại các xã đặc biệt khó khăn, bảo đảm đúng quy định và từng bước xã hội hóa, từ đó giúp người nghèo thụ hưởng đầy đủ các chính sách. Tiến trình công tác xã hội cá nhân Tiến trình CTXH Cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữa NVXH với thân chủ để giải quyết vấn đề. Trong quá trình này, thông qua mối quan hệ tương giao giữa NVCTXH với thân chủ, NVXH dùng chính các quan điểm, giá trị, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kĩ năng của minh để giúp thân chủ hiểu rõ vấn đề của mình đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết van đề, cải thiện điều kiện sống của mình. Tiến trình CTXHCN là quá trình bao gồm các bước của các hoạt động do NVXH và thân chủ thực hiện để giải quyết vấn đề.
Trong quá trình giúp đỡ từ nhiều nguồn khác nhau, có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập dữ liệu, thâm định và lượng giá. Có thê mô phỏng theo 7 bước sau: Bước 1: Tiếp cận thân chủ Tiếp cận ca là bước đầu tiên có thê thân chủ tự tìm đến với nhân viên công tác xã hội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng có thê chính nhân viên công tác xã hội lại là người tìm đên với thân chủ 18 trong phạm vi hoạt động theo chức năng của mình. Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã hội tạo được ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn. Bước 2: Thu thập thông tin Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên công tác xã hội phải tiến hành thu thập thông tin nhằm xác định vấn đề thân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết.
Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình công tác xã hội cá nhân, nó đóng vai trò quan trọng trong cá quá trình và kết quả của nó là sự định hướng cho tất cả các bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tới chân đoán và cach tri liệu đúng. Bước 3: Chuẩn đoán Gồm 3 thành tố: Chuan đoán, Phân tích, Thâm định -_ Chuân đoán xem xét tính chất của vấn đề và những trục trặc của nó trên cơ sở các dữ liệu thu nhân được - Phan tich là chỉ ra nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn.