Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu phát triển bền vững và nhiệm vụ xã hội trọng yếu tại Việt Nam. Dù công cuộc đổi mới đã mang lại nhiều thành tựu kinh tế, tình trạng nghèo đói vẫn còn diễn biến phức tạp tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, phụ nữ nghèo đơn thân làm chủ hộ là nhóm xã hội chịu nhiều tổn thương kép: vừa gánh vác trách nhiệm kinh tế nuôi sống cả gia đình, vừa đối mặt với sự thiếu thốn tình cảm, mặc cảm tự ti, ít giao tiếp xã hội và chịu nhiều định kiến từ cộng đồng.

Tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, qua một năm thực hiện Chương trình Xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 đã giảm xuống còn 1.362 hộ (chiếm 5,01%). Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ dân tộc thiểu số làm chủ hộ vẫn chiếm tới 28,8%. Xã Đồng Văn là một trong những xã vùng cao đặc biệt khó khăn nhất của huyện Bình Liêu, nơi có tỷ lệ lớn phụ nữ dân tộc thiểu số nghèo đơn thân sinh sống. Nhằm hỗ trợ nhóm đối tượng này nâng cao năng lực tự vươn lên, đề tài "Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc can thiệp hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh" được thực hiện theo định hướng ứng dụng thực hành.

Mục đích nghiên cứu tập trung vào việc áp dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân (CTXHCN) để tìm hiểu nhu cầu, nhận diện nan đề, cùng thân chủ xây dựng và thực thi kế hoạch trợ giúp, kết nối nguồn lực nhằm cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực hòa nhập xã hội. Nhiệm vụ can thiệp bao gồm:

  1. Làm rõ các khái niệm và hình thành cơ sở lý thuyết cho hoạt động can thiệp hỗ trợ phụ nữ nghèo theo hướng CTXH cá nhân.
  2. Xác định thân chủ, phân tích nhu cầu, nhận diện khó khăn và vận dụng tiến trình CTXHCN để hỗ trợ thân chủ vượt qua rào cản tâm lý - xã hội.
  3. Thực hiện tham vấn tâm lý và kết nối các nguồn lực kinh tế - xã hội giúp thân chủ ổn định tâm lý, có sinh kế và hòa nhập cuộc sống.
  4. Lượng giá, đánh giá kết quả can thiệp và rút ra bài học kinh nghiệm cho thực hành CTXH giảm nghèo tại địa phương.

Đối tượng, khách thể và phạm vi can thiệp:

  • Đối tượng can thiệp: Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động can thiệp hỗ trợ trực tiếp phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số.
  • Khách thể can thiệp: Trường hợp chị Vũ Thị Thu (sinh năm 1982), phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số, chủ hộ đơn thân tại thôn 8, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
  • Phạm vi không gian: Thôn 8, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 7/2018 đến tháng 3/2019.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động công tác xã hội cá nhân trực tiếp với 01 trường hợp thân chủ cụ thể kết hợp khảo sát thực trạng địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Đề tài xây dựng trên hệ thống các khái niệm chuẩn mực về nghèo đói từ các tổ chức quốc tế và học giả (Rowntree, Townsend, ILO, Hội nghị Chống đói nghèo ESCAP 1993, Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen 1995). Phương pháp Công tác xã hội cá nhân được định vị theo định nghĩa của Grace Mathew và Helen Harris Perlman, đặt trong bối cảnh phát triển nghề CTXH tại Việt Nam theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (Đề án 32).

Hai lý thuyết nền tảng được vận dụng trực tiếp vào quá trình can thiệp bao gồm:

  • Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow: Nhận diện thứ bậc nhu cầu của thân chủ từ nhu cầu thể chất, vật chất sinh tồn cơ bản, nhu cầu an toàn, đến nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện, từ đó xác định ưu tiên can thiệp.
  • Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory): Xem xét thân chủ như một hệ thống vi mô trong mối tương tác đa chiều với các hệ thống xung quanh: hệ thống phi chính thức (gia đình, bạn bè, hàng xóm), hệ thống chính thức (Hội Phụ nữ, Ban xóa đói giảm nghèo, thôn bản) và hệ thống xã hội (trạm y tế, trường học, ngân hàng, chính sách).

Phương pháp nghiên cứu và can thiệp thực tế

Nghiên cứu kết hợp các phương pháp định tính và thực hành can thiệp chuyên môn:

  • Phân tích tài liệu: Khai thác các văn bản chính sách, giáo trình CTXH ứng dụng, Báo cáo kinh tế - xã hội xã Đồng Văn năm 2017–2018, Báo cáo của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã và dữ liệu rà soát hộ nghèo theo chuẩn tiếp cận đa chiều.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp điều kiện sinh hoạt, nhà ở, tư liệu sản xuất và quan sát gián tiếp nét mặt, cử chỉ, thái độ ứng xử của thân chủ và người thân trong gia đình.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 14 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc, bao gồm: 01 cuộc với thân chủ, 01 cuộc với Phó Chủ tịch xã kiêm Trưởng ban Xóa đói giảm nghèo (XĐGN), 01 cuộc với Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, 01 cuộc với Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn 8 và 10 cuộc với phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn.
  • Phương pháp can thiệp CTXH cá nhân: Triển khai theo tiến trình 7 bước (Tiếp cận thân chủ; Thu thập thông tin; Chẩn đoán; Lên kế hoạch trị liệu; Trị liệu/Triển khai kế hoạch; Lượng giá; Kết thúc và chuyển giao).
  • Công cụ chẩn đoán chuyên ngành: Sơ đồ cây phả hệ (Genogram), Sơ đồ sinh thái (Ecomap), Bảng phân tích điểm mạnh - điểm yếu (SWOT cá nhân), và Cây vấn đề (Problem Tree).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nghèo đói, phụ nữ nghèo và tiến trình công tác xã hội cá nhân, đồng thời phác họa bức tranh tổng thể về kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu.

Xã Đồng Văn có diện tích tự nhiên gần 6.300 ha, cách trung tâm huyện Bình Liêu 24 km, có địa hình núi cao hiểm trở với hơn 2.500 ha rừng hồi và rừng phòng hộ. Năm 2017, xã đã thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/ĐU của Đảng ủy xã, vận động nhân dân hiến 53.278 cây hồi, quế; đứng ra tín chấp vay vốn 10,567 tỷ đồng cho phát triển kinh tế hộ; phối hợp Ban Dân tộc tỉnh hỗ trợ 28 hộ khó khăn về nhà ở với kinh phí 820 triệu đồng.

Về tình trạng nghèo đói, cuối năm 2017 xã có 255/676 hộ nghèo (chiếm 37,72%) và 178/676 hộ cận nghèo (chiếm 26,33%). Đến cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 125/702 hộ (chiếm 17,8%), hộ cận nghèo còn 203/702 hộ (chiếm 28,9%). Riêng nhóm phụ nữ làm chủ hộ nghèo năm 2017 có 46/180 hộ (giảm từ 68 hộ năm 2016).

TT Thôn, xóm Tổng số hộ Hộ nghèo (Hộ) Hộ nghèo (Khẩu) Tỷ lệ hộ nghèo (%) Hộ cận nghèo (Hộ) Hộ cận nghèo (Khẩu) Tỷ lệ hộ cận nghèo (%)
1 Thôn 1 203 16 51 7,88 6 14 2,95
2 Thôn 2 158 9 21 5,70 6 14 3,80
3 Thôn 3 124 14 20 11,30 4 7 3,22
4 Thôn 4 103 15 29 14,56 4 11 3,90
5 Thôn 5 141 15 96 10,60 20 76 14,20
6 Thôn 6 177 28 120 15,82 14 68 7,90
7 Thôn 7 102 20 101 19,60 19 92 18,20
8 Thôn 8 178 24 102 13,48 38 147 21,34
Tổng Toàn xã 1.186 141 540 12,54 111 429 9,97

Nguồn: Báo cáo UBND xã Đồng Văn, năm 2017

Chương này cũng chỉ ra các đặc điểm tâm lý đặc thù của phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn: tâm lý mặc cảm, tự ti, thu mình, ngại giao tiếp với người ngoài do áp lực kinh tế và định kiến xã hội; tính khí dễ nổi cáu do lao động vất vả; tâm lý phó mặc số phận dẫn đến thói quen trông chờ, ỷ lại vào các khoản trợ cấp nhà nước.


Chương 2: Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo vùng dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn

Chương 2 mô tả chi tiết tiến trình thực hành can thiệp cá nhân trên trường hợp thân chủ Vũ Thị Thu (36 tuổi, dân tộc thiểu số, trú tại thôn 8, sinh kế dựa vào 3 sào ruộng, chồng mất năm 2015 do tai nạn, nuôi 2 con nhỏ: Nông Văn Minh sinh năm 2006 và Nông Duy Mạnh sinh năm 2009 bị khuyết tật bẩm sinh tứ chi).

Thông qua tiếp cận, phỏng vấn sâu và sử dụng cây vấn đề, nhân viên công tác xã hội xác định 3 nan đề lớn của thân chủ:

  1. Gặp nhiều khó khăn về kinh tế, thiếu vốn và thiếu việc làm ổn định, thu nhập phụ thuộc vào trợ cấp Nghị định 136/CP.
  2. Khủng hoảng tâm lý, mang nặng mặc cảm, tự ti, sống cô lập và chịu định kiến từ xung quanh.
  3. Gánh nặng chăm sóc con trai út bị khuyết tật toàn thân, tốn kém thời gian và chi phí thuốc men.

Kế hoạch can thiệp được xây dựng và triển khai theo hai nhóm mục tiêu cốt lõi:

Nhóm mục tiêu Hoạt động cụ thể Nguồn lực kết nối Kết quả đạt được
1. Giải quyết khó khăn kinh tế - Hỗ trợ đăng ký lớp dạy nghề trồng nấm rơm (mô hình 3 trong 1) theo Quyết định 1956.
- Tư vấn kỹ thuật chăn nuôi bò sinh sản.
- Vận động vay vốn sản xuất.
- Ban XĐGN xã Đồng Văn.
- Hội LHPN xã Đồng Văn.
- Cán bộ thú y xã (anh Nông Văn Dũng).
- Tổ tiết kiệm số 8 thôn 8 (Hội LHPN).
- Thân chủ hoàn thành thủ tục tham gia lớp nghề nấm rơm (khai giảng tháng 9/2018 tại Nhà văn hóa thôn 8).
- Tiếp thu quy trình khử trùng, chăm sóc bò sinh sản.
- Được Tổ tiết kiệm số 8 phê duyệt vay vốn 5.000 đồng không tính lãi, trả góp trong 15 tháng để làm chuồng và mua giống bò.
2. Cải thiện vấn đề tâm lý - Trò chuyện, lắng nghe, tham vấn cá nhân (2 buổi chuyên sâu, 2h/buổi kết hợp vấn đàm thường xuyên).
- Nêu gương các cá nhân vượt khó.
- Động viên tham gia sinh hoạt chi hội phụ nữ thôn.
- Nhân viên CTXH.
- Chi hội Phụ nữ thôn 8 (chị Nông Thị Bùi).
- Câu lạc bộ Phụ nữ thôn.
- Thân chủ cởi mở, giải tỏa cảm xúc tiêu cực, nhận thức rõ giá trị của bản thân.
- Giảm thái độ bi quan, có ý thức chủ động tham gia sinh hoạt cộng đồng và giảm khoảng cách với hàng xóm.

Trong tiến trình này, nhân viên công tác xã hội đã thể hiện linh hoạt các vai trò: người khai thông/tạo điều kiện, người biện hộ/đại diện bảo vệ quyền lợi, người kết nối nguồn lực, người giáo dục/cung cấp kiến thức và người tham vấn tâm lý.


Kết quả và đóng góp

Kết quả can thiệp cụ thể

  • Về kinh tế và sinh kế: Kết nối thành công giúp thân chủ nộp đơn và được xét duyệt tham gia lớp đào tạo nghề trồng nấm rơm theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ. Giúp thân chủ tiếp cận trực tiếp với cán bộ chuyên môn để được tư vấn kỹ thuật chuồng trại, phòng tiêm phòng dịch cho bò sinh sản. Vận động Tổ tiết kiệm số 8 thôn 8 hỗ trợ cho vay vốn 5.000 đồng với lãi suất 0% trong 15 tháng để mở rộng chăn nuôi.
  • Về tâm lý và xã hội: Thân chủ từ trạng thái buông xuôi, mặc cảm đã dần lấy lại sự tự tin, giảm bớt tâm lý ỷ lại, cởi mở chia sẻ hoàn cảnh và chủ động tham gia các hoạt động tập thể do Chi hội Phụ nữ thôn 8 tổ chức. Mối quan hệ giữa gia đình thân chủ và cộng đồng dân cư xung quanh được cải thiện, giảm thiểu sự xa lánh và kỳ thị.

Đóng góp của đề tài

  • Ý nghĩa khoa học: Đề tài kiểm chứng tính khả thi và mức độ tương thích của các lý thuyết phương Tây (Thang nhu cầu Maslow, Thuyết hệ thống sinh thái) khi ứng dụng vào can thiệp thực tế đối với nhóm phụ nữ yếu thế vùng dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp tài liệu minh chứng sinh động về quy trình tiếp cận, đánh giá và can thiệp ca (case work) cho cán bộ làm công tác giảm nghèo, Hội Phụ nữ và nhân viên xã hội cơ sở tại các huyện miền núi khó khăn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện theo mô hình can thiệp ca đơn lẻ ($n = 1$) trên đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân tại thôn 8, xã Đồng Văn trong khoảng thời gian xác định (tháng 7/2018 đến tháng 3/2019), do đó các phát hiện mang tính cá biệt cao và phụ thuộc nhiều vào đặc thù văn hóa - xã hội địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang phương pháp Công tác xã hội nhóm (hỗ trợ nhóm phụ nữ đơn thân) hoặc Công tác xã hội phát triển cộng đồng nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của mạng lưới an sinh xã hội địa phương trong giảm nghèo bền vững.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Phát triển cộng đồng trong việc học tập kỹ năng quản lý ca, phương pháp vấn đàm và lập kế hoạch trị liệu cá nhân.
  • Cán bộ làm công tác giảm nghèo, cán bộ phụ trách công tác phụ nữ và bảo trợ xã hội tại các xã vùng cao, vùng biên giới.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Quy trình 7 bước áp dụng phối hợp các công cụ trực quan (Cây phả hệ, Sơ đồ sinh thái, Cây vấn đề, Kế hoạch can thiệp mục tiêu kép) để xử lý đồng thời bài toán kinh tế và rào cản tâm lý cho thân chủ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể can thiệp chính của khóa luận là ai và gặp phải hoàn cảnh gì?

Khách thể can thiệp là chị Vũ Thị Thu (sinh năm 1982), dân tộc thiểu số, sinh sống tại thôn 8, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Chị là mẹ đơn thân nuôi 2 con trai (trong đó con út sinh năm 2009 bị khuyết tật bẩm sinh tứ chi), gia đình chỉ có 3 sào ruộng, kinh tế kiệt quệ sau khi chồng qua đời do tai nạn giao thông năm 2015, thu nhập chính dựa vào trợ cấp xã hội theo Nghị định 136/CP và luôn mang tâm lý mặc cảm, tự ti.

2. Hai lý thuyết cốt lõi nào được vận dụng trong suốt tiến trình can thiệp?

Tác giả sử dụng Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (để đánh giá các tầng nhu cầu từ sinh học, sinh kế đến an toàn, tình cảm và tôn trọng) và Lý thuyết hệ thống sinh thái (để phân tích các tác động qua lại giữa thân chủ với gia đình, hàng xóm, tổ chức đoàn thể và các cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội).

3. Những giải pháp kinh tế cụ thể nào đã được triển khai cho thân chủ?

Nhân viên công tác xã hội đã:

  1. Kết nối với Ban XĐGN và Hội Phụ nữ xã đưa thân chủ vào danh sách học lớp nghề trồng nấm rơm theo mô hình "3 trong 1" (Quyết định 1956).
  2. Đưa thân chủ đến gặp cán bộ thú y xã tư vấn kỹ thuật vệ sinh chuồng trại và tiêm phòng dịch cho bò giống.
  3. Vận động Tổ tiết kiệm số 8 thuộc Chi hội Phụ nữ thôn 8 phê duyệt cho thân chủ vay vốn 5.000 đồng không tính lãi suất với thời hạn hoàn trả 15 tháng.

4. Tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ tại địa bàn nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?

Theo số liệu trong văn bản, tại huyện Bình Liêu, tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ dân tộc làm chủ hộ chiếm 28,8%. Tại xã Đồng Văn, năm 2016 có 68 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, đến năm 2017 giảm xuống còn 46 hộ nghèo trên tổng số 180 hộ nghèo toàn xã.


Kết luận

Khóa luận đã phản ánh toàn diện thực trạng đời sống và tâm lý của phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh thông qua việc triển khai tiến trình công tác xã hội cá nhân trên một trường hợp điển hình. Bằng việc kết hợp các liệu pháp tâm lý và kỹ năng kết nối nguồn lực sinh kế, tác giả đã chứng minh hiệu quả thực tiễn của vai trò nhân viên công tác xã hội trong việc tháo gỡ khó khăn kinh tế và khơi dậy ý chí tự lực vươn lên của đối tượng yếu thế. Công trình đóng góp bài học kinh nghiệm thiết thực cho công tác giảm nghèo đa chiều dựa vào nội lực và mạng lưới an sinh tại các địa bàn miền núi khó khăn.