chương I Dan luận - Một số vấn đề về ngôn ngữ trẻ em. Một số khái niệm về ngôn ngữ trẻ em. Theo cách hiểu thông thường, trẻ em được sinh ra và lớn lên trong xã hội loài người. Hàng ngày trẻ được nghe tiếng nói của những người xung quanh nói chuyện.
trao đổi với nhau và với trẻ. Dần dần trẻ hiểu được tiếng nói và biết ye noi. Qua trình học nói của trẻ được diễn ra cùng với sự hoàn thiện dan của su phát triển sinh lý và tâm lý trẻ. Trẻ càng lớn thì nhu cầu hiểu biết về thế giới xung quanh càng tăng, nhu cầu trao đổi của trẻ với mọi người càng nhiều.
Chính những nhu cầu ấy đòi hỏi trẻ phải tiếp thu nắm bắt và sử dụng lời nói ( ngôn ngữ ) như một phương tiện giao tiếp quan trọng. Quá trình học nói của trẻ cũng chính là quá trình hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ. Và ngôn ngữ trẻ em là tất cả những từ, những câu nói mà trẻ ở các lứa tuổi dùng đê giao tiép VỚI moi người. Trong ngôn ngữ trẻ em có một số khái niệm mà chúng tôi thấy cần thiết phải làm sang to ở luận án này.
Giai đoạn tiền ngôn ngữ. Giai đoạn ngôn ngữ. Từ có tính chat thụ động. Từ có tính chat chủ động.
Âm bập be. Am bap be có nghĩa. Giai đoạn tiền ngôn ngữ. Giai đoạn tiền ngôn ngữ thường được hiểu là giai đoạn trước khi đứa trẻ dùng các ký hiệu ngôn ngữ để giao tiếp.
ở giai đoạn này, phương tiện giao tiếp của trẻ chủ yếu là cử chỉ. nét mặt, hành động của tay hoặc thân thể trẻ. các hoạt động phát âm, các âm bập bẹ của đứa trẻ. Giai đoạn ngôn ngữ.
Là giai đoạn trẻ bát đầu biết dùng các ký hiệu ngôn ngữ để giao tiếp. Giai đoạn này ở trẻ bát đầu xuất hiện các từ đầu tiên, câu đầu tiên. Chúng được trẻ sử dụng vào mục đích giao tiếp. Dần dân ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển phong phú lên.
Từ có tính chất thụ động. Đó là các từ biểu thị các sự vật, hành động.trẻ hiểu được khi ta nói : - Chi cho cô (bac, chú. hoặc thực hiện được yêu cầu cua cô. - Gio tay lên.
- Bé cười đi nao. - Nhắm mat vào. - Chào mẹ đi nào. nhưng trẻ chưa tự nói lên được các từ đó.
Từ có tính chất chủ động. Là những từ ngữ mà trẻ có thẻ tự ý nói ra. Moi từ đêu là những tín hiệu có tính chất hai mặt : - Biểu hiện : âm thanh. - Được biểu hiện : nghĩa của từ.
Âm bap be. Một số người cho rang tiếng âm bap be là những tô hop âm tiết (Lennoberg - 1967), người khác lại cho đó là những âm “mãn nguyện” và phân biệt chúng với những tiếng kêu khong mãn nguyện” (Lewis - 1967). Chúng tôi đồng ý với tác giả Nguyễn Huy Can cho rang tiếng bap be đó là những cấu tạo âm tiết thuận tiện đối với bộ máy phát âm, được cấu tạo một cách tự nhiên trước các kích thích trực tiếp nhăm biểu hiện nhu cầu giao tiếp của trẻ. Tiếng bap be của trẻ em Việt Nam xuất hiện khoảng từ 9 tháng tuổi.
Am bap be có nghĩa. Đó là các âm bập bẹ trong một hoàn cảnh nhất định, chúng biểu hiện một ý nghia nao đó. [dây dây day] bé chi sách rơi.Leontev- 1974, giao tiếp là quá trình xác lập và duy trì hoạt động trao đổi trực tiếp hay gián tiếp và có tính mục đích thông qua một phương tiện nào đó giữa những người có liên quan với nhau về mặt tâm lý. Những điểm giống nhau và khác nhau của ngôn ngữ trẻ em trong đối chiếu với những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ nói chung.
Để có thể giao tiếp được với mọi người trong xã hội mà trước hết là với những người thân trong gia đình, trẻ phải từng bước học nắm phương diện ngữ âm, hình thành và phát triển vốn từ, nắm bat các qui tắc ngữ pháp của ngôn ngữ ( tiếng mẹ đẻ ) mà mọi thành viên trong xã hội đang sử dụng làm phương tiện giao tiếp với nhau. Nhu vậy là ngôn ngữ cua trẻ cũng chính là các âm, các từ, các loại câu nói mà trẻ tiếp thu được từ hệ thống ngôn ngữ chung, thông qua lời nói của mọi người trong xã hội đến với trẻ, được trẻ ở các lứa tuổi sử dụng dé giao tiếp với mọi người xung quanh. Song, so với ngôn ngữ chung thì ngôn ngữ của trẻ còn thô sơ và đơn giản, nhưng lại mang những nét rất riêng của trẻ mà ta không tìm thấy trong ngon ngữ của người lớn. Chang han, khi nhặt rau với mẹ, mẹ bảo nhặt bỏ những cái lá già này đi.
Bé chỉ vào những cái lá non ở ngọn rau hỏi : "Thế cái lá trẻ day à me”. hoặc khi thấy quả táo rơi vào khe cửa bé nói :” Nó đi vào đây rồi, quả táo to lăm. Từ I- 6 tuổi là thời kỳ mà trẻ đang hình thành và phát triển ngôn ngữ với các bước phát triển khác nhau trên các mặt ngữ âm. từ vựng và ngữ pháp.
Do đó việc tri giác 4m thanh cua từ, phát âm các từ của trẻ, được phát triển và hoàn chỉnh dan theo sự phát triển khả nang nhận thức của trẻ về các sự vật. hiện l4 tượng mà từ ngữ bieu thị và sự hoàn thiện của bộ máy phát am. Chang han trẻ ở lứa tudi nào đó chỉ có thể phát âm được một so 4m này mà chưa the phát âm được những âm khác. Mặt khác, ở mỏi lứa tuổi trẻ có được một số lượng từ nhất định.
Số lượng từ của trẻ được tăng lên theo tháng tuoi, năm tuổi của trẻ. Song so với người lớn thì vốn từ của trẻ còn ít hơn rất nhiều. Việc hiểu nghĩa các từ của trẻ còn rat hạn chế : Phan lớn trẻ mới chỉ hiểu được các từ mà nghĩa của nó biểu thị những sự vật, hành động cụ thể, những đặc điểm, tính chất của những sự vật. hiện tượng có thể cảm nhận được bảng các giác quan.
Còn đối với các từ có tính chất trừu tượng, có tính khái quát cao. hoặc biéu thị sự vật một cách tổng thể. hay biểu thị những khái niệm thì trẻ hiểu được rất ít hoặc là chưa hiểu gì. Tuy nhiên trẻ vẫn sử dụng những từ đó một cách máy móc theo văn cảnh hoặc tương tu như văn cảnh mà người lớn dùng để giao tiếp với tre.
Về ngữ pháp : Các câu nói trong ngôn ngữ của trẻ phản lớn là các câu đơn. Câu phức hợp được tang dần theo lứa tuổi của trẻ nhưng chủ yếu vẫn là câu phức hợp dang lập (gồm nhiều cau đơn nối tiếp nhau). Ngoài ra khi muốn diễn đạt một sự việc, hiện tượng có liên quan đến nhau trẻ mới chỉ nêu được các sự vật. sự việc rồi đem đặt cạnh nhau mà chưa biết ding các từ biểu thi mối quan hệ đó : Mời bố ăn cơm đói bụng.
Minh - 33 tháng. Lúc nay thăng ấy nó đứt chân con. Quân - 33 tháng. Đức Minh xuống nước quả bóng.
Tuấn Anh - 27 tháng. có khi câu nói của trẻ rất lộn xộn. trẻ không sắp xếp được các từ để diễn đạt điều trẻ muốn nói. Chú bẻ em khỏi ngã thang Hoàng khỏi bè khỏi cho nó ngã.
Hoàng - 30 tháng. Vì vay, ngòn ngữ trẻ em cân phải được nghiên cứu dé có biện pháp giúp cho trẻ phát triển tiếp cận dan đến hệ thống ngon ngữ chung một cách tốt nhất. để trẻ có thể sử dụng được ngôn ngữ theo đúng chức năng của nó. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người trong xã hội và ngôn ngữ là công cụ để thể hiện và phát triển tư duy.
Về quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ. Trẻ em mới sinh ra chưa thể nói được ngay. Dé có thé nói được trẻ phải tiếp thu học nám tiếng mẹ đẻ, hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ. Sự hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ được các nhà nghiên cứu xem xét, nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau.
Theo Bates, Nguyễn Huy Can :" Sự phát triển ngôn ngữ của đứa trẻ đi từ thấp đến cao và có sự kế thừa lẫn nhau giữa các giai đoạn.” ( Bates- 1976, Nguyễn Huy Cẩn- 1990) Nguyễn Huy Can cho rang :Có thé tìm thấy nguồn gốc của su phát triển ngôn ngữ ở các giai đoan trước." Tác giả Kak-Hainodich cho răng :" Su phát triển ngôn ngữ diễn ra theo từng thời kỳ riêng biệt và phù hợp với các giai đoạn nhất định của lứa tuổi.Shaknazovich thì "sự phát triển ngôn ngữ ở đứa trẻ không phải là sự mở rộng các cấu trúc bẩm sinh, là cái tương ứng với ngữ pháp phổ quát của N. Việc học nam ngôn ngữ ở đứa trẻ cũng không phải là hành vi học tập có tính máy móc theo so đồ S - R ( kích thích phản ứng ) của trường phái tao sinh, thực chất là dem đồng nhất chương trình của máy tính với hoạt động phức tạp là lời nói của con người. Leontev cho rang :” Sự phát triển của lời nói (ngôn ngữ) của trẻ em trước hết là sự phát trién của phương thức giao tiếp.Vvgotsky cho rang :" Bản chất sự phát triển của ngon ngữ nham mục đích giao tiếp và nhận thức và tất nhiên sự phát trién ngôn ngữ của đứa tre không chỉ thuần tuý dựa trên sự phát triển của khả năng nhận thức của đứa trẻ.” Chúng tôi đồng ý với quan điểm của các tác giả nói trên về sự hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ nhìn từ nhiều góc độ. Các quan điểm này sẽ là cơ sở lý thuyết cho chúng tôi khi đi vào nghiên cứu các bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1- 6 tuổi.
Một số các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em khác cho rang trong quá trình phát triển của kha nang ngon ngữ. kha nang bat chước của trẻ chiếm vị trí quan trọng trong việc học nắm tiếng mẹ đẻ. Chúng tôi không hoàn toàn thong nhất với ý kiến này. Theo sự quan sát và trên tư liệu thực tế cua minh, chúng tôi thấy rang trong quá trình hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ, trẻ không chỉ bát chước.
lặp lại hoàn toàn những gi trẻ tiếp nhận được ở người lớn mà có sự chuyển đôi dé trở thành của trẻ. Do đó đã tạo nên những nét rất riêng biệt, độc đáo trong ngôn ngữ trẻ em. ( chúng tôi sẽ phân tích kỹ vấn đề này ở các chương sau.