Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Tìm hiểu những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi (Trên tư liệu ngôn ngữ trẻ em ở nội thành Hà Nội)" được tác giả Lưu Thị Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Cao Đàm, bảo vệ năm 1996 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngôn ngữ giữ vai trò là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người trong đời sống xã hội và là công cụ trực tiếp của tư duy. Trẻ em khi sinh ra chưa thể sử dụng ngôn ngữ ngay lập tức mà phải trải qua một tiến trình tiếp nhận, hình thành và hoàn thiện dần. Giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi là thời kỳ nền tảng định hình năng lực ngôn ngữ của trẻ thông qua quá trình tương tác thường xuyên với người lớn và môi trường xung quanh. Việc nghiên cứu các bước phát triển ngôn ngữ lứa tuổi mầm non là nhiệm vụ cấp thiết của giáo dục học và ngôn ngữ học, bởi ngôn ngữ đóng vai trò trung tâm thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cùng các quá trình tâm lý khác.
Ở Việt Nam, từ thập niên 1970, Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em Trung ương và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã triển khai nhiều khảo sát về thể lực, tâm lý và ngôn ngữ trẻ em. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các phạm vi lứa tuổi hẹp (như giai đoạn vườn trẻ từ 1 đến 3 tuổi hoặc từng mốc tháng tuổi riêng lẻ), nghiên cứu trên các trường hợp đơn lẻ hoặc khảo sát từng bình diện biệt lập. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình khảo sát có hệ thống, xuyên suốt toàn bộ tiến trình phát triển từ 1 đến 6 tuổi trên cả ba phương diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, dựa trên nguồn ngữ liệu thực nghiệm quy mô lớn kết hợp phương pháp nghiên cứu dọc và nghiên cứu ngang.
Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát và xác lập các cứ liệu khoa học, số liệu cụ thể về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam từ 1 đến 6 tuổi, trọng tâm là sự phát triển về từ vựng và ngữ pháp, đồng thời cung cấp các nhận xét sơ lược về mặt ngữ âm.
- Xác định các quy luật phát triển về lượng và chất của ngôn ngữ trẻ em qua từng thời kỳ, phân tích các yếu tố vật chất thần kinh, năng lực nhận thức và môi trường xã hội tác động đến quá trình này.
- Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm và định hướng giáo dục ngôn ngữ phù hợp với từng độ tuổi (1-2 tuổi, 2-3 tuổi, 4-6 tuổi) nhằm làm cơ sở cho việc điều chỉnh, biên soạn chương trình chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà trẻ, mẫu giáo và giáo trình đào tạo giáo viên mầm non.
- Đóng góp tư liệu tiếng Việt thực chứng cho các luận điểm của ngôn ngữ học đại cương, tâm lý - ngôn ngữ học, ngôn ngữ bệnh lý học (phục hồi chức năng cho người bệnh thất ngôn - aphasia) và giáo dục trẻ khiếm thính.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lời nói và các biểu hiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) của trẻ em Việt Nam trong giai đoạn tiền ngôn ngữ và giai đoạn ngôn ngữ (từ 1 đến 72 tháng tuổi).
- Phạm vi không gian: Các nhà trẻ, trường mẫu giáo và hộ gia đình tại 4 quận nội thành Hà Nội (gồm Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng).
- Địa bàn nhà trẻ: Nhà trẻ Kim Liên (Đống Đa), Nhà trẻ Hoa Hồng (Đống Đa), Nhà trẻ Xí nghiệp Dược phẩm II (Hai Bà Trưng), Nhà trẻ Khu Tập thể Trường Đại học Tổng hợp (Hai Bà Trưng), Nhà trẻ 20/10 (Hoàn Kiếm), Nhà trẻ 147 Nguyễn Thái Học (Ba Đình), Nhà trẻ số 4 Hoàng Diệu (Ba Đình), Nhà trẻ Nguyễn Biểu (Ba Đình).
- Địa bàn mẫu giáo: Trường Mẫu giáo Việt - Bun (Hai Bà Trưng), Trường Mẫu giáo Sao Mai (Hai Bà Trưng), Trường Mẫu giáo 20/10 (Hoàn Kiếm), Trường Mẫu giáo 1/6 (Ba Đình), Trường Mẫu giáo số 1 An Dương (Ba Đình), Trường Mẫu giáo Hoa Sen (Ba Đình).
- Phạm vi thời gian và mẫu khảo sát: Tác giả sử dụng tư liệu tích lũy hơn 20 năm, kết hợp nguồn dữ liệu từ Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em Trung ương và Viện Nghiên cứu Trẻ em trước tuổi học. Tổng số lượt phát ngôn được thống kê bao gồm 14.506 câu ở lứa tuổi 1-3 và hơn 84.000 câu ở lứa tuổi 4-6.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Vấn đề ngôn ngữ trẻ em từ sơ sinh đến tuổi học đường đã được giới khoa học quốc tế nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận:
- Trường phái tâm lý học và ngôn ngữ học Liên Xô: Các tác giả như A.N. Leontev, L.S. Vygotsky, A.M. Shakharovich (Shakhnazovich), E.I. Tikhieva, S.L. Rubinshtein, P.Y. Galperin, M.M. Koltsova, N.M. Denixova đã tiếp cận ngôn ngữ trẻ em từ mối liên hệ giữa tư duy, giao tiếp và sự phát triển tâm lý. Leontev xem giao tiếp là cơ chế bên trong của đời sống xã hội và sự phát triển lời nói của trẻ trước hết là sự phát triển của các phương thức giao tiếp. Vygotsky khẳng định ngôn ngữ phát triển nhằm mục đích nhận thức và giao tiếp, không thuần túy dựa trên sự phát triển nhận thức đơn độc.
- Các nghiên cứu tại Mỹ và Tây Âu: M.A.K. Halliday nghiên cứu chức năng ngôn ngữ ban đầu; E. Bates (1976) phân tích bước chuyển từ cử chỉ sang ký hiệu và mối quan hệ giữa nhận thức và ngôn ngữ; M.M. Lewis (1967) và E.H. Lenneberg (1967) phân tích bản chất sinh lý của các chuỗi âm bập bẹ; C.A. Ferguson (1975) khảo sát cơ chế tự điều chỉnh hoạt động phát âm của trẻ nhỏ.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, từ năm 1972 đến năm 1986, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em Trung ương đã khởi xướng nhiều công trình nền tảng:
- GS. Lê Quang Thiêm (1972) với công trình "Dấu hiệu của việc nắm từ ở trẻ nhỏ thể hiện qua lời nói".
- GS. Đoàn Thiện Thuật (1972) với nghiên cứu "Những cứ liệu ban đầu về ngôn ngữ trẻ em Việt Nam lứa tuổi vườn trẻ 24-36 tháng".
- GS. Bùi Khánh Thế với bài viết "Những ghi chép về ngôn ngữ của một em bé 25 tháng và vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trẻ thơ Việt Nam".
- Các khóa luận tốt nghiệp tại Khoa Ngữ văn: Nguyễn Minh Châu khảo sát cứ liệu ngôn ngữ trẻ ở gia đình và nhà trẻ lứa tuổi 2-3; Lưu Thị Lan nghiên cứu đặc trưng ngữ pháp câu nói của trẻ 1-3 tuổi; Lê Danh Khiêm nghiên cứu tác động ngôn ngữ của người xung quanh đối với trẻ lứa tuổi vườn trẻ.
- Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Huy Cẩn (1990) về "Quá trình hình thành và phát triển tiếng nói trẻ em Việt Nam từ 1-3 tuổi", tập trung làm rõ các hành vi giao tiếp khởi đầu và sự chuyển hóa từ vận động sang ký hiệu.
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu tâm lý - ngôn ngữ học đi trước, đặc biệt là khung phân tích của trường phái Xô Viết và các nghiên cứu của Nguyễn Huy Cẩn. Tuy nhiên, luận án tạo lập vị trí học thuật riêng bằng cách:
- Mở rộng khung độ tuổi khảo sát từ 1 đến 6 tuổi, kết nối liên tục giữa hai giai đoạn nhà trẻ (1-3 tuổi) và mẫu giáo (4-6 tuổi).
- Xử lý đồng thời cả ba thành phần ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp trên cùng một hệ thống ngữ liệu thực tế của trẻ em sinh sống tại khu vực đô thị nội thành Hà Nội.
- Cung cấp các tỷ lệ thống kê cụ thể về cấu trúc câu, loại từ, câu đúng - sai, từ đó rút ra các căn cứ khoa học phục vụ trực tiếp cho hoạt động phân chia nhóm lớp và đổi mới phương pháp sư phạm mầm non.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm thao tác
Luận án áp dụng hướng tiếp cận tâm lý - ngôn ngữ học (Psycholinguistics) kết hợp phân tích liên ngành giữa ngôn ngữ học, tâm lý học, sinh lý học thần kinh và xã hội học. Các luận điểm lý thuyết nền tảng gồm:
- Tiếp thu ngôn ngữ là quá trình chủ động: Trẻ tiếp nhận tiếng mẹ đẻ thông qua sự "đồng hóa" ngôn ngữ, kết hợp giữa yếu tố bắt chước và yếu tố sáng tạo, giữa điều kiện chủ quan (tâm sinh lý) và khách quan (môi trường giáo dục, giao tiếp xã hội). Trẻ không thụ động lặp lại máy móc theo mô hình kích thích - phản ứng (S-R) mà sử dụng thao tác tổng hợp hóa làm năng lực trung tâm để nắm bắt nghĩa của từ và quy tắc cấu tạo câu.
- Mối quan hệ thống nhất giữa tư duy và ngôn ngữ: Ngôn ngữ là công cụ hình thành và biểu đạt tư duy. Nhận thức của trẻ phát triển từ cảm tính đến lý tính sẽ quyết định mức độ mở rộng của vốn từ và độ phức tạp của ngữ pháp; ngược lại, sự phong phú của ngôn ngữ tạo tiền đề nâng cao năng lực nhận thức.
- Các khái niệm cơ bản được định vị trong luận án:
- Giai đoạn tiền ngôn ngữ: Giai đoạn trước khi trẻ sử dụng ký hiệu ngôn ngữ để giao tiếp (từ sơ sinh đến khoảng 12 tháng tuổi), chủ yếu dùng nét mặt, cử chỉ, vận động thân thể và âm thanh phát ra.
- Giai đoạn ngôn ngữ: Giai đoạn trẻ bắt đầu dùng từ ngữ và câu (từ 1 tuổi trở lên) để giao tiếp xã hội.
- Từ thụ động: Các từ trẻ đã hiểu nghĩa khi người lớn phát ngôn hoặc yêu cầu thực hiện hành động nhưng trẻ chưa tự phát âm ra được.
- Từ chủ động: Các từ trẻ tự ý phát âm và sử dụng đúng mối liên hệ giữa hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa để biểu đạt nhu cầu.
- Âm bập bẹ và âm bập bẹ có nghĩa: Âm bập bẹ là cấu tạo âm tiết tự nhiên thuận tiện cho bộ máy phát âm trước các kích thích (xuất hiện từ khoảng 9 tháng); âm bập bẹ có nghĩa là âm được gắn vào một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể để biểu thị một mong muốn xác định (ví dụ: [măm măm] khi thấy bát bột).
Phương pháp nghiên cứu
Công trình phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu dọc (Longitudinal method): Theo dõi, ghi chép liên tục lời nói và hành vi ngôn ngữ của 2 trẻ từ 1 tháng đến 72 tháng tuổi (cháu Bùi Lan Anh, nữ, sinh ngày 09/12/1975 và cháu Bùi Thọ Thạch Lâm, nam, sinh ngày 01/08/1989). Phương pháp này bảo đảm tính đồng nhất và tính kế thừa liên tục của tư liệu.
- Phương pháp nghiên cứu ngang (Cross-sectional method): Khảo sát diện rộng trên các nhóm trẻ tại 8 nhà trẻ và 6 trường mẫu giáo ở 4 quận nội thành Hà Nội. Mỗi năm tuổi nghiên cứu khoảng 30 trẻ, chia thành các phân nhóm cách nhau 3 tháng tuổi (13, 15, 18, 21, 24, 27, 30, 33, 36, 42, 48, 51, 54, 57, 60, 61, 64, 66, 69, 72 tháng tuổi).
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Xử lý và tính tỷ lệ phần trăm (%) trên tổng số 14.506 câu nói của trẻ lứa tuổi 1-3 và hơn 84.000 câu nói của trẻ lứa tuổi 4-6, phân loại chi tiết theo cấu trúc câu, loại hình ngữ pháp, tỷ lệ câu đúng - sai và mục đích phát ngôn.
- Phương pháp phân tích liên ngành: Đối chiếu hiện tượng ngôn ngữ với các mốc phát triển phản xạ sinh lý của cơ quan phát âm (vận động môi, hàm, nhai nuốt) và các giai đoạn phát triển tâm lý giao tiếp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Dẫn luận về ngôn ngữ trẻ em
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án thông qua việc làm rõ các khái niệm công cụ, đối chiếu ngôn ngữ trẻ em với ngôn ngữ chung và phân tích các yếu tố chi phối quá trình thụ đắc ngôn ngữ:
- Bản chất của ngôn ngữ trẻ em: Ngôn ngữ trẻ em hình thành từ hệ thống ngôn ngữ chung của cộng đồng nhưng mang tính chất thô sơ, cụ thể và có những nét sáng tạo độc đáo riêng biệt. Việc hiểu nghĩa từ của trẻ ban đầu chỉ giới hạn ở các sự vật, hành động cụ thể cảm nhận được bằng giác quan; các từ trừu tượng hoặc khái quát cao thường bị trẻ hiểu máy móc hoặc hiểu theo tình huống đi kèm.
- Thao tác tổng hợp hóa trong thụ đắc từ ngữ: Khả năng bắt chước đóng vai trò thúc đẩy ở giai đoạn đầu, nhưng thao tác tổng hợp hóa mới là yếu tố cốt lõi. Khi tiếp nhận từ mới (ví dụ từ "áo"), trẻ trải qua các bước: tri giác dấu hiệu hình thức bên ngoài (tay áo, cúc áo, cổ áo), hình thành biểu tượng chung, nắm bắt công dụng chức năng (áo để mặc, cúc để cài) và cuối cùng xác lập mối quan hệ ký hiệu - sự vật.
- Ba nhóm yếu tố tác động đến sự phát triển ngôn ngữ:
- Yếu tố vật chất - thần kinh sinh lý: Sự hoàn thiện của não bộ, thính giác và bộ máy phát âm. Khuyết tật bẩm sinh ở tai, lưỡi hay tổn thương vùng vỏ não phụ trách tiếng nói sẽ trực tiếp gây câm, điếc, ngọng hoặc thất ngôn.
- Sự phát triển khả năng nhận thức: Tiến trình từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính tạo điều kiện cho trẻ mở rộng vốn từ loại, kéo dài câu và thiết lập các phán đoán logic.
- Môi trường giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn: Hoạt động trực tiếp với đồ vật giúp hình thành biểu tượng tinh thần; môi trường giao tiếp chuẩn mực của người lớn xung quanh cung cấp khuôn mẫu ngữ âm và phong cách diễn đạt cho trẻ.
Chương 2: Những bước phát triển về ngữ âm và từ vựng trong ngôn ngữ trẻ em Việt Nam
Chương 2 trình bày các mốc phát triển ngữ âm và từ vựng từ 1 đến 6 tuổi dựa trên các quan sát định tính và thống kê định lượng:
Bước phát triển ngữ âm
- Giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 - 12 tháng):
- Trẻ 2 tháng tuổi bắt đầu có phản xạ hướng về tiếng nói, phát ra các âm họng, âm gốc lưỡi ngắn như
[gư], [gơ], mập mạp môi.
- Trẻ 5 tháng tuổi bắt đầu nhận biết và phản ứng với ngữ điệu giọng nói (phấn chấn khi nghe giọng dịu dàng, mếu khóc khi nghe giọng giận dữ).
- Trẻ 7 - 9 tháng tuổi xuất hiện các chuỗi âm bập bẹ phân biệt được cao độ, âm sắc như
[cha cha cha], [va va va], [za za zà], đồng thời hình thành khả năng bắt chước âm thanh người lớn.
- Trẻ 9 - 10 tháng tuổi xuất hiện âm bập bẹ có nghĩa gắn liền với tình huống cụ thể (như phát âm
[măm măm] khi muốn ăn).
- Giai đoạn ngôn ngữ (từ 1 tuổi trở lên):
- Trẻ 1 - 2 tuổi: Xuất hiện các chuỗi âm bập bẹ cấu trúc 3 thành phần (âm đầu - âm chính - âm cuối) như
[pap], [chay]. Các từ đầu tiên xuất hiện là những từ có cấu âm đơn giản, chỉ người và sự vật gần gũi (bà, mẹ, bế, gà).
- Trẻ 2 - 3 tuổi: Các phụ âm môi
[b], [m], [p] xuất hiện sớm nhất do liên quan trực tiếp đến phản xạ bú mẹ và vận động cơ môi - hàm khi nhai nuốt. Các phụ âm đầu phổ biến gồm [b], [m], [d], [t], [n], [c]; các phụ âm ít xuất hiện là [g], [ph]. Trẻ dưới 3 tuổi mắc nhiều lỗi thay thế phụ âm đầu, lược bỏ hoàn toàn âm đệm tròn môi do cơ chế sinh lý chưa uốn tròn môi được (hoa $\rightarrow$ ha, qua $\rightarrow$ ca, xoan $\rightarrow$ xan, hoe $\rightarrow$ hè). Về nguyên âm, trẻ phát âm đúng nhất nguyên âm [a], [ư]; phụ âm cuối [n] xuất hiện nhiều nhất; thanh điệu ngã [~] và hỏi [?] chưa ổn định, hay bị chuyển thành thanh sắc và nặng.
- Trẻ 4 - 6 tuổi: Thính giác âm vị tinh tế hơn, các âm vị được định vị hoàn chỉnh. Trẻ 5 tuổi có khả năng phát âm mềm dẻo, tiếp thu tự nhiên ngữ điệu tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ. Đến 6 tuổi, trẻ cơ bản phát âm chuẩn toàn bộ hệ thống âm vị.
| Thành phần ngữ âm |
Đặc điểm phát triển ở trẻ 2 - 3 tuổi |
Hiện tượng sai lệch điển hình |
| Phụ âm đầu |
Xuất hiện sớm: [b], [m], [p], [d], [t], [n], [c]. Ít xuất hiện: [g], [ph]. |
Thay thế âm: k $\rightarrow$ t (quả $\rightarrow$ tủa), d $\rightarrow$ t (đóng $\rightarrow$ tóng), g $\rightarrow$ h (gà $\rightarrow$ hà), l $\rightarrow$ n (làm $\rightarrow$ nam), p $\rightarrow$ b (đèn pin $\rightarrow$ đèn bin), tr $\rightarrow$ ch (trời $\rightarrow$ chời). |
| Âm đệm |
Khó phát âm do chưa uốn tròn môi. |
Lược bỏ âm đệm: hoa $\rightarrow$ ha, qua $\rightarrow$ ca, xoan $\rightarrow$ xan. |
| Nguyên âm |
Phát âm chuẩn xác: [a], [ư]. Chưa ổn định ở một số nguyên âm đôi/đơn. |
Biến đổi: ê $\rightarrow$ â (ếch $\rightarrow$ ấc), â $\rightarrow$ ư (chân $\rightarrow$ chưn), i $\rightarrow$ ia (bút chì $\rightarrow$ bút chia), uô $\rightarrow$ iêu (hươu $\rightarrow$ hiếu). |
| Phụ âm cuối |
Xuất hiện nhiều nhất: [n]. Xuất hiện ít: [k], [p]. |
Phát âm chưa chuẩn một số âm cuối khép. |
| Thanh điệu |
Thanh ngã [~] và hỏi [?] chưa ổn định. |
Chuyển đổi: ngã/hỏi $\rightarrow$ sắc/nặng (võng $\rightarrow$ vóng, quả $\rightarrow$ cạ). |
Bước phát triển từ vựng
- Mốc xuất hiện từ đầu tiên trung bình là 12 tháng tuổi (một số trẻ sớm ở 10-11 tháng, trẻ muộn ở 17-18 tháng).
- Về lượng: Vốn từ tăng trưởng theo tháng tuổi, xuất hiện các bước nhảy vọt tại các thời điểm 21 tháng và 30 tháng, thúc đẩy sự chuyển hóa từ từ thụ động sang từ chủ động và triệt tiêu dần các âm bập bẹ.
- Về chất: Trẻ chuyển từ việc chỉ hiểu các từ đơn lẻ chỉ danh từ cụ thể sang việc làm chủ hệ thống từ loại đa dạng (động từ, tính từ, đại từ, số từ, từ nối). Ở lứa tuổi 4-6, xuất hiện thêm nhiều từ ghép, cụm từ, thành ngữ và các từ ngữ gợi cảm miêu tả màu sắc, hình khối, âm thanh.
Chương 3: Những bước phát triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ trẻ em Việt Nam
Chương 3 phân tích quy luật hình thành cấu trúc câu và khả năng sử dụng câu theo mục đích phát ngôn:
- Phát triển cấu trúc câu: Trẻ 1-3 tuổi chủ yếu sử dụng câu đơn có cấu trúc ngắn gọn (1-2 từ). Lên 4-6 tuổi, câu đơn mở rộng nhiều thành phần và câu phức hợp tăng dần theo độ tuổi, trong đó câu phức hợp chiếm ưu thế là dạng phức hợp đẳng lập (nối các vế câu đơn kế tiếp nhau).
- Phân tích các dạng câu sai ngữ pháp:
- Câu rút gọn thành phần quan hệ: Trẻ chỉ nêu các sự vật, hành động cạnh nhau mà lược bỏ các từ nối chỉ quan hệ (ví dụ:
Cô Đệ đi chợ thịt cá, Em vẽ đồng hồ cho, Con chim nhảy trên).
- Câu sai trật tự từ: Trẻ sắp xếp từ ngữ lộn xộn do phản ánh nhận thức vội vã (ví dụ:
Cất thìa mẹ đi, Ớt cay mẹ lắm, Chỗ này là không được chúng mày ngồi).
- Câu không mạch lạc trong ngôn ngữ độc thoại: Xuất hiện ở trẻ từ 30 tháng tuổi trở lên khi trẻ tự nói một mình. Lời nói ghép nối tự do các sự vật, hiện tượng trẻ quan sát được với các yếu tố tưởng tượng, cấu trúc câu rời rạc do năng lực ngôn ngữ chưa theo kịp tốc độ nhận thức.
- Hệ thống biện pháp phát triển ngôn ngữ theo độ tuổi:
- Giai đoạn 1 - 2 tuổi: Sử dụng tranh ảnh trực quan khổ lớn, màu sắc rõ ràng vẽ từng vật riêng biệt; cho trẻ tiếp xúc vật thật; giáo viên phát âm mẫu chậm rãi, rõ ràng; tổ chức các trò chơi luyện cơ môi - hàm như "gọi gà", "gọi chim", bắt chước tiếng kêu con vật (
meo meo, ò ó o, be be) hoặc phương tiện giao thông (bim bim); tạo tình huống kích thích nhu cầu nói chủ động thay vì đáp ứng ngay mong muốn của trẻ.
- Giai đoạn 2 - 3 tuổi: Sửa lỗi phát âm phụ âm đầu và thanh điệu thông qua đọc ca dao, đồng dao có vần điệu (bài "Con rùa", "Dung dăng dung dẻ" để rèn âm
[r], [d]); người lớn sử dụng ngữ điệu phong phú, biểu cảm; tận dụng môi trường dạo chơi thiên nhiên và tranh chủ đề để hướng dẫn trẻ gọi tên, nhận biết màu sắc.
- Giai đoạn 4 - 6 tuổi: Rèn luyện kỹ năng cảm thụ ngôn từ qua đọc thơ, kể chuyện diễn cảm; mở rộng nghĩa từ trừu tượng và từ so sánh (
đỏ rực, đỏ thắm, trắng như bông); tổ chức đàm thoại theo chủ đề, trò chơi đóng vai (người bán hàng), trò chơi đoán vật qua tiếng kêu, nối từ; hướng dẫn trẻ kể chuyện theo tranh và thuật lại trải nghiệm thực tế để phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm: Luận án cung cấp bộ ngữ liệu quy mô lớn, chuẩn xác về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam từ 1 đến 6 tuổi, lấp đầy khoảng trống dữ liệu xuyên suốt hai cấp học mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo).
- Khẳng định tính kế thừa và quy luật chuyển hóa: Chứng minh tiến trình ngôn ngữ diễn ra liên tục từ thấp đến cao, giai đoạn sau kế thừa và phát triển từ giai đoạn trước. Sự phát triển diễn ra đồng bộ trên cả ba bình diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
- Làm sáng tỏ cơ chế tâm lý - ngôn ngữ học: Luận án chứng minh quá trình thụ đắc tiếng mẹ đẻ là quá trình chủ động (đồng hóa), kết hợp giữa bắt chước và sáng tạo, trong đó thao tác tổng hợp hóa giữ vai trò hạt nhân. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nhận thức không phải lúc nào cũng song hành tuyệt đối; sự chênh lệch giữa nhận thức đi trước và năng lực biểu đạt bằng từ ngữ là nguyên nhân tạo ra các cấu trúc câu đặc thù và các lỗi sai ngữ pháp ở trẻ nhỏ.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Căn cứ tổ chức và phân chia nhóm lớp: Luận án chỉ ra rằng mức độ chênh lệch ngôn ngữ giữa các tháng tuổi ở trẻ 1-3 tuổi là rất lớn, do đó tại các nhà trẻ bắt buộc phải chia thành các nhóm nhỏ theo tháng tuổi để chăm sóc, giáo dục. Ngược lại, ở lứa tuổi mẫu giáo (4-6 tuổi), sự chênh lệch thu hẹp dần; trẻ 5 tuổi và 6 tuổi có thể học chung trong các lớp ghép để tăng cường giao tiếp và học hỏi lẫn nhau.
- Đổi mới tiêu chuẩn đánh giá ngôn ngữ:
- Đối với trẻ 1-3 tuổi: Số lượng từ và số lượng câu là chỉ số định lượng then chốt, mục tiêu trọng tâm là khuyến khích trẻ nói nhiều để chuyển đổi từ thụ động sang chủ động.
- Đối với trẻ 4-6 tuổi: Tiêu chuẩn đánh giá chuyển sang chất lượng ngôn ngữ, tập trung vào khả năng dùng từ gợi cảm, sử dụng câu phức hợp, diễn đạt mạch lạc và đúng ngữ cảnh, không thuần túy đánh giá dựa trên số lượng từ phát ra.
- Định hướng dạy ngoại ngữ sớm: Trẻ từ 5 tuổi có độ nhạy bén tri giác âm thanh và khả năng phát âm mềm dẻo, tự nhiên. Do đó, luận án đề xuất có thể cho trẻ 5 tuổi làm quen với ngoại ngữ (như tiếng Nga, tiếng Anh) thông qua nghe, phát âm và hội thoại ngắn, với yêu cầu bắt buộc là giáo viên giảng dạy phải có phát âm thật chuẩn xác.
- Ứng dụng liên ngành: Cung cấp cơ sở đối chiếu cho y học thần kinh trong điều trị phục hồi chức năng ngôn ngữ đối với bệnh nhân thất ngôn (aphasia) và định hướng phương pháp sư phạm chuyên biệt cho Viện Câm điếc Trung ương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi không gian: Khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung chủ yếu trên địa bàn 4 quận nội thành Hà Nội. Ngữ liệu phản ánh đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em sống tại môi trường đô thị, có điều kiện tiếp xúc sớm với các phương tiện thông tin đại chúng và đời sống vật chất hiện đại (xuất hiện các từ ngữ như
băng video, cát-sét, điện thoại, Panasonic), chưa bao quát địa bàn nông thôn và miền núi.
- Hạn chế về nội dung ngữ âm: Luận án xác định trọng tâm là từ vựng và ngữ pháp, do đó các phân tích về ngữ âm chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét sơ lược các mốc ban đầu, chưa đi sâu phân tích thực nghiệm ngữ âm học bằng máy móc chuyên dụng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát so sánh ngôn ngữ trẻ em giữa các vùng miền địa lý khác nhau; tiếp tục nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn tác động của các yếu tố xã hội, trình độ văn hóa gia đình và các phương tiện truyền thông công nghệ đối với tiến trình phát triển lời nói của trẻ em.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Tâm lý học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp nghiên cứu dọc và nghiên cứu ngang, cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng phong phú về các hiện tượng ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt trẻ em.
- Đối với giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Công trình cung cấp cơ sở khoa học để giảng dạy các học phần "Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ", "Tâm lý học trẻ em trước tuổi học" và hệ thống bài tập thực hành sửa lỗi phát âm, rèn luyện câu mạch lạc cho trẻ.
- Đối với các nhà biên soạn chương trình và cán bộ quản lý giáo dục: Cung cấp luận cứ thực tiễn để thiết kế chuẩn phát triển ngôn ngữ trẻ mầm non, phân bổ khung chương trình theo độ tuổi và tổ chức mô hình lớp học mầm non phù hợp.
- Đối với bác sĩ phục hồi chức năng và chuyên gia giáo dục đặc biệt: Là nguồn tư liệu tham khảo đối chiếu quá trình thụ đắc ngôn ngữ bình thường với tiến trình phục hồi tổn thương ngôn ngữ ở người bệnh mất ngôn và phương pháp can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật thính giác.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân định các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ em như thế nào?
Luận án phân chia tiến trình phát triển thành hai thời kỳ chính:
- Thời kỳ tiền ngôn ngữ (0 đến khoảng 12 tháng tuổi): Trẻ giao tiếp chủ yếu bằng cử chỉ, nét mặt, vận động cơ thể và âm bập bẹ; bắt đầu tiếp nhận ngữ điệu và hiểu một số từ quen thuộc.
- Thời kỳ ngôn ngữ (từ 1 đến 6 tuổi): Trẻ sử dụng các ký hiệu ngôn ngữ thực thụ, chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn 1-3 tuổi (hình thành từ đầu tiên, câu đầu tiên, phát triển từ chủ động và nắm ngữ âm cơ bản) và giai đoạn 4-6 tuổi (hoàn thiện ngữ âm, phát triển từ ghép, cụm từ, câu mở rộng, câu phức hợp và năng lực nói mạch lạc).
2. Các lỗi phát âm phổ biến nhất ở trẻ em lứa tuổi 2 - 3 tuổi là gì?
Ở lứa tuổi 2-3, trẻ thường mắc các lỗi:
- Thay thế các phụ âm đầu khó bằng phụ âm dễ hơn (
k $\rightarrow$ t, d $\rightarrow$ t, g $\rightarrow$ h, l $\rightarrow$ n, p $\rightarrow$ b, tr $\rightarrow$ ch).
- Lược bỏ hoàn toàn âm đệm tròn môi do cơ quan cấu âm chưa uốn tròn môi được (
hoa $\rightarrow$ ha, xoan $\rightarrow$ xan).
- Nhầm lẫn các nguyên âm (
ê $\rightarrow$ â, â $\rightarrow$ ư, i $\rightarrow$ ia, uô $\rightarrow$ iêu).
- Thanh điệu ngã
[~] và hỏi [?] chưa ổn định, thường bị phát âm chuyển đổi thành thanh sắc hoặc thanh nặng.
3. Tiêu chuẩn đánh giá năng lực ngôn ngữ giữa trẻ 1-3 tuổi và trẻ 4-6 tuổi khác nhau như thế nào?
- Với trẻ 1-3 tuổi: Số lượng từ và số lượng câu là chỉ số tiêu biểu phản ánh sự phát triển tốt. Mục tiêu giáo dục là khuyến khích trẻ nói thật nhiều để mở rộng vốn từ và chuyển hóa từ thụ động sang chủ động.
- Với trẻ 4-6 tuổi: Số lượng từ hay câu không còn là thước đo duy nhất. Tiêu chuẩn chuyển sang đánh giá chất lượng diễn đạt: khả năng dùng từ ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh, sử dụng câu có cấu trúc phức tạp và khả năng trình bày câu chuyện mạch lạc, đúng ngữ cảnh.
4. Vì sao luận án kiến nghị cho trẻ 5 tuổi làm quen với ngoại ngữ?
Từ 5 tuổi, khả năng tri giác âm thanh của trẻ trở nên rất nhạy bén, bộ máy phát âm có độ mềm dẻo và tiếp thu tự nhiên các loại ngữ điệu giọng nói. Việc cho trẻ 5 tuổi tiếp xúc với ngoại ngữ thông qua nghe, phát âm từ/câu ngắn và hội thoại đơn giản sẽ rèn luyện độ nhạy của thính giác, độ linh hoạt của cơ quan phát âm và phản xạ giao tiếp nhanh nhẹn, tạo nền tảng thuận lợi cho việc học ngoại ngữ ở các cấp học tiếp theo.
5. Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng câu nói lộn xộn, không mạch lạc ở trẻ từ 30 tháng tuổi trở lên?
Hiện tượng này xuất hiện chủ yếu trong dạng ngôn ngữ tự do (tự nói một mình). Nguyên nhân là do tốc độ phát triển nhận thức và trí tưởng tượng của trẻ diễn ra nhanh hơn năng lực ngôn ngữ; trẻ có nhu cầu diễn đạt nhiều sự vật, hiện tượng cùng lúc nhưng chưa nắm vững các quy tắc kết hợp cú pháp và chưa biết lựa chọn từ ngữ phù hợp, dẫn đến việc chắp nối các sự việc rời rạc, thiếu từ nối chỉ quan hệ hoặc sai trật tự từ.
Kết luận
Luận án "Tìm hiểu những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi (Trên tư liệu ngôn ngữ trẻ em ở nội thành Hà Nội)" của tác giả Lưu Thị Lan là công trình nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về tiến trình thụ đắc tiếng mẹ đẻ của trẻ em mầm non Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu dọc trên cá thể và nghiên cứu ngang trên diện rộng với hàng chục nghìn phát ngôn, tác giả đã làm sáng tỏ các quy luật phát triển về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cùng các yếu tố tâm sinh lý và xã hội tác động. Công trình mang lại giá trị học thuật thực chứng vững chắc cho ngành tâm lý - ngôn ngữ học tiếng Việt, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp sư phạm và căn cứ khoa học trực tiếp cho việc đổi mới chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non.