MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, với nền kinh tế xã hội phát triển kéo theo đó là những hệ lụy về vấn đề xã hội ngày càng tăng, xuất hiện nhiều những vấn đề gây bức xúc cho toàn xã hội, như vấn đề gia tăng của tệ nạn xã hội ( cờ bạc, mại dâm, ma túy.), những hành vi vi phạm pháp luật cũng xuất hiện càng nhiều. Trong đó, xâm hại tình dục là một vấn đề vô cùng nhạy cảm trong xã hội. Đó là vấn đề không còn mới, tuy nhiên gần đây trên tất cả các trang mạng xã hội và phương tiện thông tin đại chúng đều nhắc đến vấn đề này ngày càng nhiều.
Theo số liệu mới nhất công bố ngày 29/3 tại tọa đàm Chính sách về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, UNICEF khu vực Đông Á - Thái Bình Dương tổ chức, từ năm 2011-2015, có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an, mặc dù chỉ là phần nhỏ so với thực tế nhưng mỗi năm trung bình có 1.800 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, trong số 1.000 vụ xâm hại tình dục, số vụ mà trẻ em là nạn nhân chiếm đến 65%, đa số nạn nhân là nữ ở độ tuổi 12-15 (chiếm 57,46%), tuy nhiên số trẻ em dưới 6 tuổi bị xâm hại là vấn đề rất đáng báo động, chiếm tới 13,2% (Nguyễn Tuấn Anh , Đinh Duy Thịnh, 2017). Mọi trẻ em trong xã hội dù là nông thôn hay thành thị đều có nguy cơ bị xâm hại, hơn nữa đối tượng bị xâm hại không chỉ có trẻ gái, mà con bao gồm cả trẻ trai. Điều đáng nói hơn là sau khi bị xâm hại trẻ thường không hoặc không dám kể về những gì đã diễn ra với bản thân mình.Trẻ có thể bị xâm hại tình dục dưới nhiều hình thức khác nhau( sờ mó vào bộ phận sinh dục, xem phim ảnh 1 z khiêu dâm.) Cho dù sử dụng hình thức xâm hại nào đi nữa thì các hành vi này đều gây tổn thương cho trẻ ở các mức độ khác nhau.
Sự xâm hại đến trẻ không chỉ làm tổn thương trẻ ở ngay thời điểm bị xâm hại, mà còn có thể gây nên những tổn thương, ám ảnh trong suốt quãng đời còn lại của trẻ, đặc biệt đối với những trẻ không thể kể về sự xâm hại này nay không nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ hoặc trị liệu từ phía gia đình và xã hội. Những trải nghiệm về sự xâm hại khi còn nhỏ, có thể lớn lên và tạo cho trẻ tin rằng tình dục là cách duy nhất để thể hiện cảm xúc và sự an toàn, bản thân mình được yêu thương. Xâm hại tình dục là vấn đề gây ra nhiều bức bối cho xã hội, để tránh được những tình huống xấu xảy ra với chính con em và người thân của mình thì người lớn, nhất là các bậc cha mẹ cần hướng dẫn và dạy con mình những điều cần thiết để tránh được những sự việc nguy hiểm diễn ra. Trong nhiều gia đình hiện nay các bậc phụ huynh không nghĩ rằng việc dạy kỹ năng phòng chống xâm hại cho con là cần thiết khi ở độ tuổi còn nhỏ, và dù có hướng dẫn thì cũng không có sự lặp đi lặp lại nhiều lần để tạo phản xạ.
Các nội dung cha mẹ dạy con chủ yếu là chào hỏi, lễ phép, không đi với người lạ, ngoài ra những nội dung khác như việc giáo dục giới tính cho con chưa được đề cập đến nhiều. Các bậc cha mẹ không thể lúc nào cũng ở bên để bảo vệ và chia sẻ cùng con, vì ngoài hoạt động sinh hoạt ở nhà trẻ còn có những hoạt dộng vui chơi giải trí và học tập khác. vậy nên việc dạy trẻ cách tự bảo vệ mình là điều cần thiết. Ngoài môi trường là gia đình ra thì Nhà trường cũng có giáo dục những vấn đề cơ bản cho trẻ như là văn hóa, hành vi, nhân cách và một số kỹ năng mềm được truyền đạt thông qua các buổi ngoại khóa.
Tuy nhiên,bên cạnh giáo dục về văn hóa thì những giáo dục khác về giới tính, về phòng chống xâm hại, lạm dụng tình dục cho trẻ thì lại chưa được quan tâm nhiều.Tại trường học trên địa bàn nghiên cứu 2 z hiện nay chưa có các hình thức giáo dục cụ thể cũng như cách truyền tải thông tin về giáo dục giới tính hay phòng chống xâm hại đến học sinh và phụ huynh. Chính vì vậy giáo dục về giới tính, về cách phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ rất cần được quan tâm để truyền tải đến các đối tượng trực tiếp một cách hiệu quả, không chỉ truyền đạt đến trẻ mà còn đến cha mẹ trẻ, những người trực tiếp nuôi dạy và chăm sóc trẻ. Xã Thượng Cường là một xã dân tộc miền núi nằm trên địa bàn Huyện Chi Lăng- Lạng Sơn, gồm 12 thôn và có dân số là 3.000 dân, và có 687 hộ gia đình trong đó có 168 trẻ nằm trong độ tuổi tiểu học tuổi tương đương với 154 gia đình. Dân tộc chủ yếu ở địa bàn chủ yếu là người Nùng, Tày, người Kinh chiếm số lượng nhỏ và chủ yếu là người di cư từ nơi khác đến.
Trình độ học vấn chủ yếu còn thấp, vẫn còn người dân không biết chữ, chính vì vậy đây là một trong những yếu tố rào cản trong vấn đề tiếp cận thông tin của người dân. Địa bàn nằm gần với Quốc lộ 279, dân cư tập chung quây quần sống tại một khu, số trẻ trong độ tuổi tiểu học chiếm khá đông, hiện nay theo tìm hiểu thì ở tại địa phương chưa có mô hình giáo dục nào có liên quan đến việc, hỗ trợ cho cha mẹ có con cái trong độ tuổi tiểu học những kiến thức, kĩ năng, cách nhận biết hành vi xâm hại. Nhất là với những trẻ trong độ tuổi tiểu học, trong chính các trường tiểu học tại địa phương vấn đề này cũng chưa nhận được sự quan tâm mặc dù trên địa bàn đã có trường hợp về xâm hại tình dục diễn ra.Các chương trình, các chuyên đề thảo luận của các bậc cha mẹ chủ yếu chỉ tập trung vào vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ đã lập gia đình, chính vì vậy nên vấn đề về giáo dục giới tính hay những chương trình, những sự quan tâm về việc dạy trẻ nhỏ cách tự bảo vệ bản thân mình càng cần được quan tâm và chú trọng. Quan trọng hơn cả chính là vai trò của các bậc cha mẹ trong việc dạy cho 3 z con của mình cách tự bảo vệ bản thân, nếu như trẻ em không có các kĩ năng tự bảo vệ bản thân mình khỏi những hành vi gây hại đối với bản thân mình thì sẽ có những hậu quả xấu và những vấn đề ngoài ý muốn xảy ra với trẻ.
Ảnh hưởng đến tuổi thơ của trẻ và hơn thế là ảnh hưởng đến cuộc sống sau này khi lớn lên… vậy nên cha mẹ lại càng cần có thêm kiến thức để giáo dục và chia sẻ với con cái về vấn đề này. Vậy nên từ đó chúng tôi nhận thấy vai trò của NVCTXH, của gia đình, nhà trường trong vấn đề giáo dục trẻ em kĩ năng bảo vệ bản thân, phòng chống xâm hại tình dục là điều vô cùng quan trọng. Với những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Hỗ trợ cha mẹ giáo dục trẻ em kĩ năng bảo vệ bản thân phòng chống xâm hại tình dục tại xã Thƣợng Cƣờng-Chi Lăng-Lạng Sơn” làm đề tài luận văn của mình. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Hiện nay vấn đề xâm hại tình dục trẻ em không còn là vấn đề quá mới mẻ dù là ở trên thế giới hay Việt Nam và việc phòng chống xâm hại tình dục hiện nay cũng rất được quan tâm, nhất là đối với vấn đề phòng chống cho trẻ , không chỉ trên Thế giới mà ở nước ta đã có nhiều cơ quan, tổ chức, hay những nhà nghiên cứu tìm hiểu và có những công trình nghiên cứu, hội thảo, báo cáo hay những tác phẩm viết về vấn đề này xoay quanh những nguyên nhân, những ảnh hưởng, những biện pháp đề phòng, ngoài ra cũng có nhiều khía cạnh khác được khai thác như từ phía gia đình, các mối quan hệ quanh trẻ.
Các đề tài nghiên cứu, tìm hiểunhận thứcvề xâm hại tình dục và phòng chống xâm hại tình dục Để phòng chống được xâm hại tình dục xảy ra thì một trong những yếu tố quan trọng là sự hiểu biết của mọi người về vấn đề đó, có nhiều nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về khía cạnh này như: nghiên cứu Fatmeh Ahmad Alzoubi và các cộng sự (2018), nghiên cứu của Julia Rudolph và Melanie J. Zimmer- Gembeck (2018) và nghiên cứu của Yichen Jin và các cộng sự tại viện trẻ em và vị thành niên Heath, Trường y tế công cộng, Đại học Bắc kinh Trung Quốc. Nghiên cứu của Fatmeh Ahmad Alzoubi và các cộng sự (2018) tập trung vào tìm hiểu về các Kiến thức và nhận thức của người mẹ về lạm dụng tình dục trẻ em ở Jordan,cụ thể như: để hiểu những nỗ lực của các bà mẹ Jordan để ngăn chặn lạm dụng tình dục, các nhà nghiên cứu đã đánh giá kiến thức chung của các bà mẹ về lạm dụng tình dục, nhận thức, kiến thức về các dấu hiệu và triệu chứng của lạm dụng tình dục và kiến thức của họ về thực hành phòng chống lạm dụng tình dục liên quan đến nhân khẩu học của họ. Thiết kế mô tả mặt cắt ngang được sử dụng với mẫu 488 bà mẹ thuận tiện.
Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi tự báo cáo gồm 52 mục. Hầu hết các bà mẹ trong nghiên cứu này đều là người Hồi giáo và kết hôn. Một nửa số bà mẹ có trình độ sau trung học và chỉ có 36% được tuyển dụng. Nghiên cứu cho thấy phần lớn các bà mẹ đều hiểu biết về lạm dụng tình dục và thực hành phòng ngừa của mình.
Mặc dù chỉ có 17% bà mẹ đã bắt đầu thực hành một số biện pháp phòng ngừa lạm dụng tình dục khi con họ còn nhỏ (1-4 tuổi) và chưa đến một nửa (48,8%) đã bắt đầu khi con cái của họ từ 4–6 tuổi. Ba phần tư (74%) số bà mẹ cho biết rằng giáo dục trẻ em về lạm dụng tình dục có thể ngăn chặn nó. Chỉ có 37,7% biết về luật liên quan đến lạm dụng tình dục ở Jordan và chưa đến một nửa số bà mẹ biết về các 5 z tổ chức xã hội cung cấp dịch vụ cho trẻ em bị lạm dụng tình dục.