Chương 1 NHÀ VĂN VÕ HỒNG VÀ NHỮNG SÁNG TÁC VỀ THẾ GIỚI TUỔI THƠ 1. Cuộc đời và văn nghiệp Võ Hồng 1. Cuộc đời Võ Hồng Võ Hồng là tên thật và là bút danh của nhà văn khi sáng tác. Ông sinh ngày 05 tháng Chạp năm Nhâm Tuất (giấy khai sinh ghi ngày 05/05/1921) tại làng Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên – một miền văn hóa còn khép kín nhiều bí ẩn và huyền thoại.
Võ Hồng được nuôi dưỡng lớn khôn nhờ gia đình người Bác, một điền chủ giàu có trong vùng châu thổ Sông Cái, sở lỵ của Phú Yên từ thời mở cõi. Ông viết văn từ rất sớm, bắt đầu từ thời tiền chiến và viết đều đặn từ năm 1959 cho tới lúc ông mất. Võ Hồng quê ở Phú Yên nhưng hơn nửa thế kỷ ông sống, dạy và viết ở thành phố Nha Trang nên người Nha Trang cũng như độc giả, học trò của ông mặc nhiên xem ông là người Nha Trang. Chính vì vậy, hầu hết các tác phẩm của ông đã ra đời ở ngôi nhà số 51 Hồng Bàng và cũng là nơi ông đã vĩnh viễn chia tay người bạn đời khi cả ông và người vợ thương yêu đều còn trẻ.
Tuổi thiếu niên ông học ở trường phủ, trường tỉnh. Năm 1939, ông học Trung học ở Qui Nhơn. Khi đang học lớp Đệ Tam niên Trường Collège Qui Nhơn, Võ Hồng được khai sáng khả năng văn chương của mình khi thầy Trần Cảnh Hảo phê vào bài viết của ông trong một giờ Việt Văn: “Tôi nhận thấy có vài đóa hoa trong bài của anh” (Nguyễn Thị Thu Trang, 2003). Năm 1939, Võ Hồng thành công với văn chương ở tuổi 16 với truyện ngắn được đăng trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy, tên truyện là Mùa gặt, bút hiệu Ngân Sơn.
Đây cũng chính là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự nghiệp văn chương của nhà văn. Luan van 16 Sau khi kết thúc chương trình học Đệ Tứ niên ở Trường Collège Qui Nhơn, Võ Hồng học ban Tú tài ở Hà Nội. Ông có ba năm học ở Hà Nội. Thời gian học Tú tài ở Hà Nội, Võ Hồng làm quen với văn chương và được gặp những bậc tài danh làng văn bấy giờ như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo.
Năm 1943, Võ Hồng lên tàu về quê, việc học hành dang dở và ước mơ về tương lai phải bỏ lại ở Hà Nội. Năm 1959, Võ Hồng chính thức khai bút và gia nhập vào giới văn chương với tập truyện ngắn Hoài cố nhân. Bản thảo chép tay của truyện dài Ngôi sao nhỏ viết 1943 và Chỉ một lần năm 1945 hiện nay vẫn còn được lưu giữ. Hoài cố nhân là tấm thẻ thông hành có giá trị để Võ Hồng vững tin bước vào con đường văn nghiệp.
Các nhà nghiên cứu phê bình, độc giả chú ý đến sự ra đời của quyển sách khi giữa một văn đàn đồ sộ các tác phẩm cung cấp cho độc giả những sự kiện lịch sử; những đề tài, nhân vật mang tầm vóc sử thi mà văn chương của Võ Hồng lại nhẹ nhàng với những con người bình dị, hiền hòa cùng phong cách văn chương chững chạc. Trong bài Phê bình những truyện ngắn đầu năm 59 – cuối năm 60, Nguyễn Văn Xuân nhận định: “Điều nhận xét đầu tiên của tôi: Võ Hồng không phải là người mới viết, mặc dầu – hình như thế - ông ít hay viết truyện ngắn cho các báo, tạp chí. Tập truyện ngắn đầu tay này của ông từ lối bố cục đến kỹ thuật viết, đẩy truyện đi tới, đến lời văn đã đạt đến mức làm chủ ngòi bút của mình” (Nguyễn Thị Thu Trang, 2003). Cuộc đời của nhà văn đã trải qua 20 năm từ 1939 đến 1959 – một khoảng thời gian đầy biến động của chiến tranh.
Kinh nghiệm thực tiễn ấy đã trở thành vốn tích lũy sống có giá trị để nhà văn khai thác xây dựng tác phẩm. Rời ghế nhà trường, vào năm 21 tuổi, ông trở thành Bí thư của Tòa Tổng đốc 4 tỉnh miền Nam Trung Việt đóng tại Đà Lạt dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim. Chiến tranh nổ ra, ông theo đoàn người di tản tránh giặc, tham gia kháng chiến. Năm 23 tuổi, ông là Trưởng ty Bình dân Học vụ tỉnh Phú Yên, Luan van 17 sinh sống và làm việc vào những năm 1946 đến 1953.
Từ 26 tuổi, Võ Hồng trở thành nhà giáo, dạy Quốc văn, Anh văn, Pháp văn. Cuộc đời của Võ Hồng không phải người dân Phú Yên nào cũng dám mơ ước đến, nhưng sự trang trọng, đài các dường như chưa bao giờ xuất hiện trong văn chương của nhà văn, chỉ được thấp thoáng nhắc qua đôi chỗ. Vì thế các nhân vật của Võ Hồng đều là những người nhà quê, hiền lành, thật thà và chân chất, chăm chỉ làm ăn với đám ruộng, miếng vườn. Họ nghèo, nhưng không có bản chất đói rách, bần tiện hay keo kiệt.
Họ sống theo lẽ phải, đạo lí thường tình và giữ đúng đạo lí làm người. Trong khoảng thời gian hai mươi năm, ông đã đi và ở rất nhiều nơi: Qui Nhơn, Hà Nội, Đà Lạt, Phan Rang, Phú Yên, Khánh Hòa,… Thời kháng chiến, ông cùng vợ dạy học ở trường Trung học Lương Văn Chánh (Phú Yên), sau đó làm hiệu trưởng trường này. Năm 1953, ông bị bệnh xin nghỉ dài hạn. Năm 1954, Võ Hồng đưa vợ con về quê vợ là Đà Lạt.
Giai đoạn này ông được tiếp cận với rất nhiều tác phẩm văn học Đông, Tây. Năm 1955, Võ Hồng cùng gia đình xuống Nha Trang và sinh sống bằng nghề dạy học ở các trường tư. Gia đình chưa kịp yên ổn thì vợ ông bệnh nặng và mất vào năm 1957 để lại cho ông ba đứa con thơ dại, đứa út mới ba tuổi. Văn chương đối với ông lúc này chính là người bạn tâm tình, giúp ông giải tỏa những nỗi niềm tâm sự, giao cảm với đời và đem lại niềm vui sáng tạo.
Võ Hồng là một nhà văn quen thuộc ở miền Nam. Nếu không tính những tác phẩm được tái bản, tuyển tập, in chung thì Võ Hồng cũng đã có khoảng 30 đầu sách được in và rất nhiều bài viết được đăng trên các báo trong nước. Hơn 60 năm gắn bó với văn chương. Ông đã có 8 tiểu thuyết và truyện dài, trên 70 truyện ngắn cùng nhiều tùy bút, bút ký, tập truyện viết cho thiếu nhi.
Nhiều tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy, trích giảng trong sách giáo khoa văn cho chương trình trung học trước năm 1975. Trước năm 1975, truyện của Võ Hồng đã được chọn đưa vào chương trình Giảng văn phổ Luan van 18 thông. Vài ví dụ như bài Học sinh quê mùa trích trong tác phẩm Hoài cố nhân được biên soạn bởi Đỗ Văn Tú trong chương trình của lớp Đệ Thất, bài Tấm ảnh được trích trong truyện ngắn Trận đòn hòa giải (phần cuối) trong chương trình của lớp Đệ lục cũng của Đỗ Văn Tú. Một số bài đăng khác trong sách Giảng văn của Nhà Xuất bản Trí Đăng và của Thế Uyên.
Sau Hoài cố nhân và Ngày xưa in chung tập, Võ Hồng tiếp tục viết các truyện ngắn và gửi đăng trên các báo, tạp chí trước khi tập họp và xuất bản thành sách. Truyện Tai họa cuối cùng đăng trên tạp chí Bách Khoa số 107 ra ngày 15/06/1961, truyện Chuyện cái răng – Bách Khoa số đặc biệt 115, 116,… Đến năm 1963, Nhà xuất bản Thời Mới in tập truyện ngắn thứ hai Lá vẫn xanh. Năm 1965, tập truyện ngắn khác với tiêu đề Vết hằn năm tháng được ra đời. Đến lúc này, tên tuổi Võ Hồng đã trở nên quen thuộc với các độc giả trong nước.
Giai đoạn Võ Hồng sáng tác sung mãn nhất là những năm 1965 đến 1970. Trong năm 1966, ông đã cho ra đời hai tập truyện ngắn, một tiểu thuyết và một truyện thiếu nhi là Con suối mùa xuân, Khoảng mát, Hoa bươm bướm và Tuổi thơ êm đềm. Năm 1968 ông cho trình làng các tác phẩm truyện dài như Người về đầu non, Gió cuốn và Bên kia đường. Như cánh chim bay là tiểu thuyết nhận được sự quan tâm nhiều nhất và là một trong số những quyển sách bán chạy nhất.
Tiểu thuyết miêu tả toàn cục tỉnh Phú Yên trong những năm kháng chiến chống Pháp với các mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, xen vào đó là những mẩu chuyện nho nhỏ của đời thường rất sinh động. Sau Như cánh chim bay, bên cạnh những truyện ngắn, Võ Hồng còn viết về một quyển tiểu thuyết nữa nói về tệ nạn ma túy đang lan tràn ở miền Nam những năm trước năm 1975. Đầu năm 1974, tiểu thuyết Thiên đường trên cao hoàn thành, đăng trên tạp chí Văn nhưng đến năm 1987, Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình mới cho xuất bản lần đầu. Năm 1988, Hội Văn học Nghệ thuật Nha Trang tập hợp những truyện ngắn chưa xuất bản của Võ Hồng in trong tập Trong vùng rêu Luan van 19 im lặng.
Sau năm 1975, nhà văn Võ Hồng có 16 tác phẩm được xuất bản rộng rãi đến với người đọc, như Vẫy tay ngậm ngùi, Thương mái trường xưa, Một bông hồng cho cha, tập Trầm tư, tập thơ Hồn nhiên tuổi ngọc,… Võ Hồng là một nhà giáo ưu tú với vốn học vấn chắc chắn, trình độ ngoại ngữ Anh, Pháp lưu loát. Khi ông chính thức bước vào làng văn, phong trào sáng tác và báo chí ở miền Nam đang phát triển. Số lượng các tác giả và báo chí phát hành gia tăng. Ông không ở trong một nhóm bút, một trường phái văn chương nào cho dù ở thời điểm đó xuất hiện nhiều khuynh hướng, nhiều phong cách thể hiện trên văn đàn.
Bởi lẽ, so với thời tiền chiến, vẫn chưa có nhóm nào có đội ngũ mạnh và cùng chí hướng như nhóm “Tự lực văn đoàn”. Thế hệ của Võ Hồng được tiếp xúc và học tập, viết tiếng Pháp, văn chương Tây phương. Chặng mười tuổi, ông thưởng thức văn chương văn học Việt Nam của nhóm “Tự lực văn đoàn”, truyện miền Nam của Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, báo Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu thuyết thứ Năm,. từ tủ sách của gia đình.
Những năm đầu cầm bút, văn phong của ông có chịu ảnh hưởng khá đậm từ xúc cảm, đặt câu, dùng quan hệ địa danh từ. Sau trưởng thành, ông dần hình thành bản sắc văn chương của riêng mình. Tiếp xúc với vài sinh ngữ như Anh, Pháp, Nhật… giúp nhà văn đặt câu rõ nghĩa nhưng cách nhìn nhận, cách cảm xúc thì không bị chi phối. Khi các cây bút khác vội vàng rời xa phấn trắng bảng đen thì Võ Hồng lại tiếp tục cần mẫn với nghề giáo của mình, mặc dù chỉ là buổi vừa học vừa chơi của những đứa trẻ hàng xóm từ 4 đến 5 tuổi.
Đến với nghề viết, ông chỉ coi văn chương là nghề chính sau nghề giáo.