Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi lệch chuẩn Chương 3: Thực trạng hành vi lệch chuẩn nơi trẻ em đường phố tại TTGDDNTTN TP. Chương 4: Một số biện pháp khắc phục một số hành vi lệch chuẩn nơi trẻ em đường phố tại TTGDDNTTN TP. Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LỆCH CHUẨN 1. TỔNG QUAN VỀ HÀNH VI LỆCH CHUẨN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM Mối quan tâm về quá trình hình thành HVLC nơi trẻ em đã tăng nhanh trong hơn 1 thập kỷ.
Trong thời gian hiện nay, xã hội với sự phát triển không ngừng về nhiều mặt đã làm cho tâm lý trẻ em cũng thay đổi. Các em phải ứng phó với thời đại và chịu áp lực nặng nè về mặt tinh thần. Biểu hiện của sự ứng phó và chịu áp lực về mặt tinh thần thể hiện qua HVLC nơi các em. Những HVLC này đã ảnh hưởng đến lối sống, cách hành xử, chuẩn mực đạo đức, tương lai của xã hội.
Chính vì thế, những nghiên cứu về HVLC nơi các trẻ em để tìm ra nguyên nhân, và giải pháp giáo dục càng trở nên cấp thiết với giới tâm lý học hơn bao giờ hết. Việc nghiên cứu HVLC của con người được diễn ra với nội dung rất phong phú, với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học, xã hội học, đạo đức học, giáo dục học…. Lịch sử vấn đề hành vi lệch chuẩn Ngay từ thời cổ đại, người Ai cập, Hy Lạp và Do Thái thường giải thích mọi sự vật, hiện tượng đều quy về thần thánh và các thế lực tự nhiên. Và những HVLC cũng được cho là hành vi người bị quỷ ám, bị thế lực huyền bí chia phối [14].
Hippocrater là người Hy Lạp đầu tiên đưa ra lý thuyết về hành vi rối loạn bắt nguồn từ cơ thể. Theo ông, HVLC là dấu hiệu của bệnh chứ không phải của quỷ ám. Ông cho rằng nguyên nhân rối loạn có thể thuộc về bệnh lý của não, được tạo ra do sự xáo trộn bốn chất dịch chính trong cơ thể đó là mật đen, mật vàng, máu và đờm giải. Nếu con người cáu kỉnh, hiếu động thì được cho là do có lượng nước mắt quá mức; nếu con người u sầu, trầm cảm thì được xem là do có lượng mật đen quá mức; những người tỏ vẻ vui buồn thất thường, thái quá được nghĩ là có lượng máu quá mức và những ai tính tình ù lì, lạnh lùng được cho rằng có lượng đờm dãi quá nhiều.
Như vậy, ông giải thích HVLC là do sự mất cân bằng sinh lý. Mô hình lý 5 Luan van thuyết chất dịch này cho rằng có thể điều chỉnh hành vi rối loạn bất thường bằng cách sử dụng những cách điều trị trên cơ thể [9]. Ở Đông Phương, nhà nho giáo Tuân Tử (313 – 238 TCN) cho rằng “Nhân chi sơ, tính bản ác”. Những hành vi lệch lạc của con người phát xuất từ bản tính xấu nơi con người, khi sinh ra con người đã mang bản tính “ác” hay “lệch lạc”.
Bản tính lệch lạc nơi trẻ em hướng tới sự thiện khi các em biết sống nổ lực thay đổi, được giáo dục trong một xã hội kỷ cương, nề nếp và đạo đức. Vào thời Trung cổ thuật ngữ “người tâm thần” xuất hiện, để gọi những người có HVLC. Những người có dấu hiệu lệch chuẩn hành vi đều có “linh hồn bất ổn”, do linh hồn bị ma quỷ ám và giải pháp rải nước phép trừ tà [9].2 Lịch sử nghiên cứu hành vi lệch chuẩn Lý thuyết phân tâm học của Freud xem HVLC chỉ khác về số lượng so với hành vi bình thường, chứ không hẳn là một loại hành vi khác. Ông cho rằng, hầu hết các triệu chứng đều có tính chất thích nghi làm nền tảng vì chúng dùng để giảm bớt sự căng thẳng và xung đột trong tiềm thức cá nhân [9].
Thuyết nhân văn xem các HVLC hình thành do việc không thỏa mãn các nhu cầu căn bản hay bị ép buộc sống theo kỳ vọng của những người xung quanh. Khi điều đó xảy ra, con người sẽ không thấy được mục tiêu của mình và phát triển nhận thức méo mó về chính bản thân [13]. Thuyết học tập xã hội Bandura nghiên cứu HVLC hiếu chiến của trẻ thông qua bắt chước các hình mẫu trên TV, trẻ em nhận thấy các ngôi sao điện ảnh có được danh tiếng thông qua việc sử dụng sức mạnh và hành vi hiếu chiến. Gần đây, Leonard Eron (1987) đã báo cáo kết quả của một nghiên cứu kéo dài trong 22 năm làm sáng tỏ một số vấn đề nguyên nhân tính hiếu chiến của trẻ em từ độ tuổi 7 – 9.
Họ xác định rằng: Các đối tượng được xác định hiếu chiến là lúc trẻ em, khi trở thành thiếu niên và người lớn cũng thể hiện nhiều hành vi hiếu chiến nhất [13, 393]. Golubeva (1974) nghiên cứu HVLC ở trẻ em là con một trong gia đình. Ông đã kết luận rằng: Những đứa trẻ là con một thường có những rối loạn quá trình thích nghi và có những HVLC khi đến trường.D Karvaxarki, nghiên cứu các mối quan hệ xã hội trong gia đình với việc hình thành HVLC ở trẻ em. Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 80% chấn thương tâm lý dẫn đến HVLC ở trẻ em là những quan hệ mâu thuẫn không thể giải quyết được và kéo dài giữa các thành viên trong gia đình.
Lebeder đưa ra 4 yếu tố gây ra những HVLC ở trẻ em gồm: Yếu tố thứ nhất là hoàn cảnh gia đình gây chấn thương tâm lý kéo dài; yếu tố thứ hai là thiếu sót trong giáo dục; yếu tố thứ ba là xung đột trường học chấn thương tâm lý cao; yếu tố thứ tư là bố mẹ nghiện rượu nặng [23, 12]. Rosenhan và Seligman (1984) nghiên cứu HVLC đã đưa ra 7 thuộc tính để giúp quyết định hành vi có tính lệch chuẩn hay không. Thứ nhất là đau khổ; thứ hai là tính thích nghi kém, thứ ba là tính phi lí; thứ tư là tính không thể dự đoán; thứ năm là tính sống động và tính không theo quy ước; thứ sáu là sự khó chịu quan sát và thứ bảy là vi phạm tiêu chuẩn đạo đức và lý tưởng [9]. Các nhà tâm thần học Mỹ, 1994 đưa ra bảng phân loại bệnh học DSM – IV, có 15 tiêu chuẩn chuẩn đoán và được chia làm 4 nhóm: Nhóm thứ nhất: Hung hãn với người và xúc vật (bắt nạt; đe dọa hay uy hiếp người khác; gây sự đánh nhau; dung vũ khí có thể gây hại nghiêm trọng thân thể người khác; hành vi độc ác về thân thể với người khác; hành vi độc ác về thân thể với gia xúc; ăn cắp đối mặt với nạn nhân; cưỡng dâm).
Nhóm thứ hai: Phá hoại tài sản (hành vi xâm hại gây tổn thất tài sản; cố ý gây cháy với ý định gây hại nghiệm trọng; cố ý phá hoại tài sản người khác). Nhóm thứ ba: Lừa đảo hoặc trộm cướp (đập phá xông vào nhà hay ô tô của ai đó; thường xuyên nói dối để nhận ân huệ hay tránh các nghĩa vụ, ăn cắp các vật có giá trị lớn không đối mặt với nạn nhân). Nhóm thứ tư: Vi phạm nặng nề các luật lệ (trốn nhà qua đêm, thường ở qua đêm ngoài gia đình mặc dù cha mẹ cấm đoán, trốn học) [12].Boretti Goulifier và A Thisiet nghiên cứu HVLC ở trẻ em tiểu học. Họ đã đưa ra 13 kiểu HVLC ở trẻ em ở lứa tuổi này: hiếu động, bất ổn định, hung hãn, ức 7 Luan van chế, nói dối, trộm cắp, bỏ nhà, trốn đi, nghiện ngập, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn phát âm, rối loạn lời nói, rối loạn ngôn ngữ viết.
Nghiên cứu của Amber Carlson về hành vi cha mẹ có ảnh hưởng đến hành vi của con cái. Cha me hình mẫu hành vi và thực hiện thông qua phong cách nuôi dạy con cái, cấu trúc của gia đình và môi trường dân cư mà họ sinh sống [26]. Nghiên cứu Adrian D.Pearson về những học sinh trung học có hành vi lệch chuẩn ở trường học nguyên nhân là do sự thiếu sự hỗ trợ giáo dục từ phía gia đình, có tự trọng cá nhân ở mức thấp và thiếu sự kiểm soát. Các hành vi bạo lực, không tôn trọng phụ nữ, hút thuốc, sử dụng cần sa…được thể hiện qua các kênh truyền thông như phim ảnh, video ca nhạc, internet, trò chơi điện tử đã làm tăng một cách đáng kể các hành vi này ở trẻ trong độ tuổi đến trường.
Và việc tiếp xúc một cách thường xuyên với các hình ảnh bạo lực và chống đối xã hội trên truyền thông là một yếu tố quan trọng làm tăng các hành vi chống đối xã hội và gây rối ở học sinh trung học [25]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, trước năm 1975, vấn đề HVLC là đề tài còn khá mới mẻ và chưa được đào sâu, chỉ được thực sự nghiên cứu vào sau những năm 1975. Với sự thành lập Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em năm 1989, vấn đề HVLC mới thật sự quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn. Nghiên cứu Phạm Minh Hạc và các cộng tác viên (1980) tìm hiểu nghiên nhân trẻ em phạm pháp và nhân cách nơi học sinh trường phổ thông – nông nghiệp Thủy Nguyên Hải Phòng cho thấy việc giao tiếp với nhóm bạn bè xấu có thể là một trong những nguyên nhân cơ bản và trực tiếp đưa tới hành vi phạm pháp, dễ bị sa vào con đường phạm pháp [24, 12].
Đặng Phương Kiệt trong hội thảo Việt Pháp ở Hà Nội (4/2000) với chủ đề Trẻ em- Văn Hóa – Giáo Dục, nghiên cứu về HVLC thanh thiếu niên học sinh học phổ thông ở bốn trường PTTH Hà Nội bao gồm 1266 học sinh nam và nữ, độ tuổi từ 15-18, cho thấy rằng: HVLC chiếm tỷ lệ cao là nói dối nhiều lần 28.41%, trốn tiết 21,22%, gây gổ 7,19%, phá hoại tài sản người khác 4,31%, hút thuốc lá 3,95%. 8 Luan van Ông cho rằng: Nguyên nhân dẫn đến HVLC là stress gia đình, những căng thẳng trong gia đình [27]. Phạm Văn Đoàn (1989) nghiên cứu tại trường phổ thông Công nông nghiệp II thuộc Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em. Ông đã nghiên cứu trên 83 học sinh có tần suất rối loạn hành vi trung bình trước khi bị bắt là 15 lần.
Mỗi em phân loại rối loạn tâm lý của trẻ em, mức độ phạm pháp là 83/83. Tuổi phạm pháp lần đầu tiên là 9-17. Trẻ em thành thị có rối loạn hành vi với tỷ lệ gấp 10 lần so với trẻ em nông thôn. Rối loạn chính là ăn cắp (59%).