MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên có nhiệm vụ hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Điều 22, Luật Giáo dục đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một” (Luật giáo dục sửa đổi, 2009). Muốn đạt được mục tiêu trên, điều cần thiết là phải chăm lo phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên mầm non nói riêng.
Giáo viên chính là nhân tố quyết định trực tiếp đến quá trình phát triển nhân cách trẻ. Để có được năng lực sư phạm người giáo viên mầm non phải có những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Hơn nữa sự thành thạo về kỹ năng sư nghề nghiệp còn giúp giáo viên mầm non nhanh chóng đạt được những mục tiêu giáo dục mà bản thân, nhà trường và ngành đã đề ra. Theo quy định tại Điều 7, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo, một trong số các yêu cầu về kỹ năng sư phạm đối với giáo viên mầm non là kỹ năng giao tiếp, ứng xử.
Giáo viên mầm non phải giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, chân tình, cởi mở, tôn trọng… (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008). Muốn làm được điều này một trong những đòi hỏi là giáo viên mầm non phải có khả năng giải quyết linh hoạt khéo léo và kịp thời các tình huống diễn ra hoạt động sư phạm, đưa các hoạt động và quan hệ có chứa đựng những vấn đề bức xúc, căng thẳng trở lại ổn định và tiếp tục phát triển. Khi giải quyết các tình huống sư phạm, giáo viên mầm non cần phải phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, phán đoán, suy luận, tìm ra nguyên nhân và đưa ra cách giải quyết hợp lý nhất. 2 Trẻ mẫu giáo, một lứa tuổi đặc biệt có tâm lý luôn mang tính duy kỷ.
Trong các hoạt động ở trường mầm non trẻ được tham gia vào các mối quan hệ qua lại giữa trẻ với nhau, trẻ sẽ gặp phải những ý muốn, ý thích rất đa dạng của các bạn trong cùng một nhóm, hay một lớp. Ý thích, ý muốn của bạn có thể đối lập với những ý muốn, ý thích của chính trẻ. Do thế, ở trẻ rất dễ nảy sinh những cuộc tranh chấp, tranh cãi, hoặc ẩu đả. Cho dù xung đột mang tính tích cực hay tiêu cực thì chúng đều ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là ảnh hưởng đến nhận thức nói chung và nhận thức xã hội nói riêng của trẻ.
Và trên thực tế các tình huống xung đột trong hoạt động của trẻ mẫu giáo xảy ra hết sức đa dạng, muôn màu, muôn vẻ đòi hỏi giáo viên phải có tri thức lí luận và thực tiễn về các lĩnh vực giáo dục nhất định, phải am hiểu sâu sắc về đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non. Đây thực sự không phải là một vấn đề đơn giản. Chính vì vậy nghiên cứu việc giải quyết xung đột cho trẻ mẫu giáo là rất cần thiết và có ý nghĩa lí luận đối với công tác giáo dục trẻ mầm non và điều này còn ít được nghiên cứu trong tâm lí mầm non. Với lí do như vậy nên tôi đã chọn đề tài “Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên tại các trường ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
Mục đích của đề tài Tìm hiểu thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên tại các trường ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao kỹ năng giải quyết xung đột cho trẻ mẫu giáo của giáo viên mầm non. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu - 120 giáo viên trực tiếp giảng dạy trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh là khách thể chính của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu - Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên mầm non. Giả thiết nghiên cứu - Mức độ kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên tại các trường ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh trong thực tế chỉ đạt ở mức trung bình. - Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên có thâm niên càng lâu năm thì đạt mức độ càng cao so với giáo viên có thâm niên ít năm. - Các yếu tố khách quan (điều kiện để GVMN tham gia tập huấn, học tập nâng cao KNGQXĐTL cho trẻ, sỉ số học trò đông, trang thiết bị, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ nhu cầu, áp lực công việc nhiều, đặc điểm tâm lý trẻ đa dạng,…) và yếu tố chủ quan (GVMN chưa hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, kiến thức, kinh nghiệm của GVMN về KNGQXĐTL cho trẻ mẫu giáo chưa nhiều, khả năng tự bồi dưỡng, nâng cao KNGQXĐTL cho trẻ của GVMN chưa cao,…) có ảnh hưởng đến KNGQXĐTL cho trẻ tại các trường ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ của giáo viên mầm non: Kỹ năng, xung đột tâm lý, kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý, kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo. - Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên tại các trường ở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. - Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên mầm non. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6.
Về nội dung Đề tài chỉ nghiên cứu kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên tại các trường mầm non. Về địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của giáo viên ở 4 trường ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh: Trường mầm non Hoa Hồng, trường mầm non 20/10, trường mầm non Hoa Thiên Tuế, trường mầm non Hoa Phượng Vĩ. Vì 4 trường trên là mẫu đại diện cho mỗi khu vực trải đều ở quận Bình Tân và có trường là trường đã thành lập từ rất nhiều năm trước (mầm non Hoa Hồng), có trường thì đã thành lập được gần 10 năm (mầm non Hoa Phượng Vĩ), 2 trường còn lại thì vừa mới thành lập được 1-3 năm gần đây (mầm non 20/10, mầm non Hoa Thiên Tuế) 7. Phương pháp nghiên cứu 7.
Phương pháp nghiên cứu lý luận Thu thập các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống các tài liệu nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận của đề tài, kết hợp với lý luận riêng để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để tìm hiểu ý kiến của GVMN và cán bộ quản lý các trường mầm non về: - Mức độ KNGGQXĐTL cho trẻ mẫu giáo của GVMN.
- Những khó khăn trong quá trình KNGQXĐTL cho trẻ mẫu giáo của GVMN. - Yếu tố ảnh hưởng đến KNGQXĐTL cho trẻ mẫu giáo của GVMN. 5 - Những đề xuất của GVMN để nâng cao KNGQXĐTL cho trẻ mẫu giáo. Phương pháp giải quyết tình huống Đây là phương pháp đặt ra một số tình huống xung đột của trẻ mẫu giáo để giáo viên giải quyết vấn đề nhằm làm rõ hơn thực trạng KNGQXĐTL của giáo viên mầm non.
Phương pháp phỏng vấn Phỏng vấn làm rõ thêm các vấn đề như nhận thức về kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo, những khó khăn, những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của GVMN cũng như các biện pháp cần thiết để thúc đẩy kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý cho trẻ mẫu giáo của GVMN. Phương pháp quan sát Tham gia dự giờ một số hoạt động của giáo viên ở 4 trường mầm non theo mục đích và có ghi chép các biểu hiện về kỹ năng giải quyết xung đột cho trẻ mẫu giáo trong điều kiện trên lớp hằng ngày để tìm hiểu thêm thông tin để bổ sung và làm rõ kết quả nghiên cứu từ các phương pháp khác. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phần mềm máy tính SPSS for windows 16.0 để xử lý các số liệu thu thập được qua khảo sát. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TÂM LÝ CHO TRẺ MẪU GIÁO CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Kỹ năng, kỹ năng nghề nghiệp là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất lâu. Từ thời Hy Lạp cổ đại đến nay đã rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều sách vở nói về vấn đề này. Đó là những công trình của Arixtot (384 – 322 TCN); G.Skiner…Các nhà Tâm lý học và Giáo dục học như: N.Levitov đã nghiên cứu bản chất, khái niệm kỹ năng, các giai đoạn, các quy luật và các điều kiện hình thành kỹ năng, mối quan hệ giữa kỹ năng, kỹ xảo, năng lực.
Một số tác giả còn nghiên cứu kỹ năng trong mối quan hệ với các phương tiện lao động như: K.Tsebuseva…Nghiên cứu về kỹ năng sư phạm, các tác giả G.Gutsen, Ivavov, Socolov,…đều thống nhất đánh giá vai trò của kỹ năng trong hoạt động sư phạm của giáo viên và vai trò của việc tự rèn luyện kỹ năng trong hình thành kỹ năng sư phạm. Trong các công trình nghiên cứu về kỹ năng hoạt động sư phạm, K.Kixegof đã phân tích khá sâu về kỹ năng. Khi tiến hành thực nghiệm hình thành kỹ năng ở sinh viên sư phạm ông đã đưa ra ý kiến “Kỹ năng hoạt động sư phạm có đối tượng là con người. Hoạt động sư phạm rất phức tạp đòi hỏi sự sáng tạo, không thể hoạt động theo khuôn mẫu cứng nhắc.
Kỹ năng hoạt động sư phạm, một mặt đòi hỏi tính nghiêm túc, mặt khác đòi hỏi tính mềm dẻo cao” (Hoàng Thị Oanh, 2001).