Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" được thực hiện bởi sinh viên Đào Minh Phương (Mã số sinh viên: 451838), dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Bế Hoài Anh tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023). Công trình thuộc chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình, tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong các quan hệ hôn nhân tan vỡ.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả đặt ra xuất phát từ sự biến chuyển kinh tế - xã hội, kéo theo sự gia tăng số lượng các vụ việc ly hôn. Khi hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là lối thoát pháp lý cho vợ chồng nhưng lại trực tiếp tác động tiêu cực đến tâm lý, sức khỏe và sự phát triển của con chưa thành niên. Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 cùng các văn bản tiền nhiệm đã xác định nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc phát sinh từ sự thiếu đồng bộ của các quy định pháp luật cũng như hành vi xử sự của các đương sự.

Mục đích nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, thực trạng pháp lý và thực tiễn bảo vệ quyền, lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, qua đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận liên quan: khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
  2. Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
  3. Phân tích thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn cụ thể như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật trong các vụ việc ly hôn thuần túy trong nước, không bao gồm các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; đồng thời không đi sâu vào các chế tài hình sự/hành chính xử lý hành vi vi phạm.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các quy định và thực tiễn áp dụng trong giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành đến thời điểm nghiên cứu (2014 – 2023).

Về tình hình nghiên cứu liên quan, khóa luận đã tổng thuật các công trình tiêu biểu của các tác giả đi trước tại Trường Đại học Luật Hà Nội và trên các tạp chí chuyên ngành:

  • Luận văn thạc sĩ của Ngô Thùy Châm (2021) về bảo vệ con chưa thành niên theo Luật HN&GĐ 2014 và thực tiễn thực hiện.
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ninh Chi (2018) về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi ly hôn.
  • Luận văn thạc sĩ của Bùi Minh Giang (2013) về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ sau khi ly hôn theo Luật HN&GĐ 2000.
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Nguyệt (2020) về phân chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
  • Bài viết của Dương Tấn Thanh (2019) trên Tạp chí Kiểm sát về việc lấy ý kiến con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên.
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Tùng (2018) về áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung.
  • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do TS. Phan Thị Luyện chủ nhiệm (2018) về nguyên nhân và tác động của ly hôn đến con tại quận Thanh Xuân và quận Đống Đa, Hà Nội.
  • Kỷ yếu hội thảo khoa học (2020) so sánh chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống luận điểm dựa trên nền tảng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về xây dựng gia đình và bảo vệ trẻ em.

Hệ thống khái niệm và khung pháp lý nền tảng bao gồm:

  • Khái niệm "con chưa thành niên": Đối chiếu khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, tương thích với quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em (UNCRC 1989) và Luật Trẻ em năm 2016.
  • Khái niệm "bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn": Được tác giả định nghĩa là tổng thể các biện pháp, cơ chế, cách thức theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên trên thực tế, hạn chế và bảo đảm cho các quyền lợi đó không bị xâm phạm hoặc chịu tác động xấu từ việc ly hôn của cha mẹ.
  • Cơ sở hiến định: Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định về trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích chi tiết từng điều luật, chế định pháp lý và tổng hợp các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 với các văn bản lập pháp trước đây (Sắc lệnh năm 1950, Luật 1959, Luật 1986, Luật 2000) và đối chiếu với pháp luật dân sự, tố tụng dân sự.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát, đối chiếu thực tiễn: Khảo sát các số liệu giải quyết án, đánh giá các bản án và hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao (như Giải đáp số 01/GD-TANDTC).

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật thực định (Hiến pháp 2013, Luật HN&GĐ 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị định 126/2014/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP), các giải đáp nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao, cùng các tài liệu học thuật từ sách chuyên khảo, luận văn thạc sĩ và tạp chí pháp lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn

Chương 1 làm sáng tỏ bản chất pháp lý và nền tảng lý luận của đề tài qua 3 nội dung chính:

  • Đặc điểm bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên:
    1. Cơ sở phát sinh: Dựa trên quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con, phát sinh khi quan hệ hôn nhân giữa cha mẹ chấm dứt trên thực tế hoặc pháp lý.
    2. Mối quan hệ gắn kết: Gắn bó chặt chẽ với hệ thống các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ (quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện theo pháp luật và quản lý tài sản).
    3. Tính ưu việt của công cụ pháp lý: Mặc dù có nhiều biện pháp xã hội khác nhau, bảo vệ bằng pháp luật là biện pháp hữu hiệu nhất nhằm định hình khuôn khổ pháp lý ràng buộc trách nhiệm của các bên.
  • Sự cần thiết quy định bằng pháp luật: Nâng cao ý thức trách nhiệm của cha mẹ; thể hiện tính nhân đạo, công bằng và tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em trong hoàn cảnh gia đình tan vỡ.
  • Lược sử lập pháp Việt Nam: Tác giả phân tích tiến trình lập pháp qua từng thời kỳ lịch sử để làm rõ sự hoàn thiện dần của chế định này:
Giai đoạn lịch sử / Văn bản Nội dung bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn Đánh giá, hạn chế
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945 Các bộ Dân luật thời Pháp thuộc có quy định sơ lược về cấp dưỡng nuôi con; thời phong kiến hầu như bỏ ngỏ. Quy định tản mạn, bất bình đẳng, chưa thành chế định độc lập.
Sắc lệnh số 97-SL (22/5/1950) và Sắc lệnh số 159-SL (17/11/1950) Điều 6 Sắc lệnh 159-SL quy định Tòa án căn cứ quyền lợi con vị thành niên định đoạt việc nuôi nấng, hai bên cùng chịu phí tổn. Bước tiến bộ lớn đầu tiên; hạn chế là chưa bảo vệ người con đã thành niên mất năng lực hành vi.
Luật HN&GĐ năm 1959 Dành riêng Điều 31, 32 quy định vợ chồng ly hôn vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ với con; nguyên tắc con còn bú do mẹ phụ trách. Xác lập căn cứ vì lợi ích mọi mặt của con; hạn chế là quy định "con còn bú" mang tính định tính, khó áp dụng.
Pháp luật miền Nam (1959 - 1972) Luật Gia đình 1959 (thời Ngô Đình Diệm) cấm ly hôn (Điều 55); Sắc luật 15/64 và Dân luật 1972 quy định giao con dựa trên yếu tố "lỗi" làm tan vỡ gia đình. Giao quyền nuôi con dựa trên sai lầm của cha mẹ thay vì xuất phát từ lợi ích tốt nhất của đứa trẻ.
Luật HN&GĐ năm 1986 Lần đầu ghi nhận nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em là nguyên tắc cơ bản (Điều 3). Tạo bước ngoặt phát triển đồng bộ pháp luật hôn nhân gia đình sau thống nhất đất nước.
Luật HN&GĐ năm 2000 Quy định chi tiết đối tượng con được bảo vệ, nghĩa vụ cấp dưỡng, thăm nom, thay đổi người nuôi con, lấy ý kiến con từ đủ 9 tuổi. Quy định khá đầy đủ, có văn bản hướng dẫn chi tiết nhưng dần bộc lộ bất cập trước sự phát triển xã hội.
Luật HN&GĐ năm 2014 Hoàn thiện toàn diện các quy định về độ tuổi lấy ý kiến con (từ đủ 7 tuổi), con dưới 36 tháng giao mẹ nuôi, chế độ tài sản thỏa thuận. Đạo luật tiến bộ và hoàn thiện nhất hiện nay, tương thích sâu rộng với pháp luật quốc tế.

Chương 2: Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn

Chương 2 phân tích chi tiết các quy định thực định của Luật HN&GĐ năm 2014:

  • Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng (khoản 3 Điều 51):
    • Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
    • Tác giả phân tích cấu trúc ngữ pháp và khẳng định cụm từ "dưới 12 tháng tuổi" bổ nghĩa cho cả "sinh con" và "nuôi con", nhằm bảo vệ sức khỏe người phụ nữ và sự sống của trẻ.
    • Phân tích mở rộng trong kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 94 - 100): Luật quy định con sinh ra là con chung của bên nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm sinh ra. Tác giả chỉ ra khoảng trống pháp lý khi bên nhờ mang thai hộ ly hôn trong lúc người mang thai hộ đang mang thai, hoặc trường hợp chồng của người mang thai hộ yêu cầu ly hôn.
  • Giải quyết vấn đề con chung khi ly hôn (Điều 81):
    • Ưu tiên thỏa thuận của vợ chồng; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án phán quyết dựa trên quyền lợi mọi mặt của con.
    • Con dưới 36 tháng tuổi được mặc định giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (trừ khi mẹ không đủ điều kiện hoặc có thỏa thuận khác).
    • Quy định bắt buộc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Tác giả đối chiếu Giải đáp số 01/GD-TANDTC (05/01/2018) và Điều 214, 217 BLTTDS năm 2015 để khẳng định: ý kiến của con chỉ mang tính tham khảo định hướng, việc không lấy được lời khai không phải căn cứ tạm đình chỉ/đình chỉ vụ án.
  • Quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con (Điều 82, 87, 110):
    • Quyền thăm nom con không ai được cản trở (khoản 3 Điều 82). Dẫn chứng thực tế vụ án hình sự Đoàn Minh Hải sát hại gia đình vợ cũ do bị ngăn cản thăm nom con.
    • Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đến khi thành niên (dưới 18 tuổi theo khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015) hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình.
  • Thay đổi người trực tiếp nuôi con và giám hộ (Điều 84 Luật HN&GĐ và Điều 52, 54 BLDS năm 2015):
    • Phân tích 02 căn cứ thay đổi người nuôi con tại khoản 2 Điều 84.
    • Trường hợp cả cha và mẹ không đủ điều kiện: Tòa án chỉ định người giám hộ theo thứ tự giám hộ đương nhiên tại Điều 52 BLDS 2015 (Anh/chị ruột -> Ông/bà nội/ngoại -> Bác, chú, cậu, cô, dì ruột) hoặc UBND cấp xã cử/Tòa án chỉ định theo Điều 54 BLDS 2015.
  • Bảo vệ quyền lợi của con thông qua chế định tài sản khi ly hôn:
    • Chế độ tài sản theo thỏa thuận (Điều 47 Luật HN&GĐ 2014, Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP): Xác lập trước kết hôn bằng văn bản công chứng. Tác giả chỉ ra vướng mắc khi vợ chồng thỏa thuận "không có tài sản chung" hoặc "không có tài sản riêng" đối với việc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con và bảo đảm quyền lợi người thứ ba.
    • Chế độ tài sản theo luật định (Điều 59 Luật HN&GĐ 2014): Khoản 5 Điều 59 quy định nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên; khoản 6 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định ưu tiên nhận hiện vật là nhà ở duy nhất. Tác giả chỉ rõ luật chưa quy định phân chia tỷ lệ tài sản vượt trội cho người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn và một số kiến nghị, giải pháp

Chương 3 tập trung đánh giá thực trạng xét xử của Tòa án và những bất cập nảy sinh:

  • Về giải quyết con chung và cấp dưỡng:
    • Tòa án các địa phương áp dụng không thống nhất mốc thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (có nơi tính từ khi bản án có hiệu lực, có nơi tính từ thời điểm hai bên thực tế không còn sống chung).
    • Trẻ từ đủ 07 tuổi thường mang tâm lý e sợ, rụt rè, bị tác động hoặc định hướng bởi người lớn, dẫn đến việc thể hiện ý chí mang tính cảm tính.
    • Xuất hiện tình trạng người trực tiếp nuôi con ngăn cấm quyền thăm nom, dẫn đến việc người không trực tiếp nuôi con bức xúc thực hiện hành vi "bắt cóc" con mang đi giấu.
  • Về chia tài sản chung: Chưa có án lệ và vụ việc giải quyết tranh chấp thực tế đối với các cặp vợ chồng có văn bản thỏa thuận chế độ tài sản theo Luật HN&GĐ năm 2014, gây lúng túng trong định hướng xử lý.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định các bất cập trong văn bản pháp luật thực định:
    • Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 chưa bao quát tình huống mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (chưa hạn chế quyền ly hôn của vợ chồng bên nhờ mang thai hộ khi người mang thai hộ đang mang thai).
    • Khoản 2 Điều 81 dùng cụm từ "Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi" dễ gây hiểu nhầm trong trường hợp vợ chồng có từ 02 con chung trở lên.
    • Chưa có định nghĩa định lượng rõ ràng về điều kiện "nuôi dưỡng" tại Điều 110 và chưa có cơ chế cụ thể để bảo đảm mức cấp dưỡng tối thiểu phù hợp với biến động kinh tế.
    • Khoản 2 Điều 84 chưa quy định hành vi "cản trở quyền thăm nom con" là một căn cứ độc lập để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
    • Khoản 5 Điều 59 mang tính nhân văn nhưng thiếu quy định phân chia tỷ lệ tài sản cao hơn cho bên trực tiếp nhận nghĩa vụ nuôi con.
  2. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Bổ sung quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của cả hai bên vợ chồng nhờ mang thai hộ trong thời gian người được nhờ mang thai hộ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
    • Sửa đổi khoản 2 Điều 81 theo hướng cho phép Tòa án giao các con cho mỗi bên trực tiếp nuôi dưỡng nếu các bên đều đủ điều kiện và có nguyện vọng.
    • Bổ sung quy định cụ thể về việc phân chia tài sản chung trích một phần tỷ lệ thỏa đáng dành cho việc bảo đảm điều kiện sinh hoạt, học tập của con chưa thành niên giao cho người trực tiếp nuôi con quản lý.
    • Quy định chế tài nghiêm khắc và xác định hành vi cố tình cản trở thăm nom con là căn cứ trực tiếp để Tòa án xem xét chuyển quyền nuôi con cho bên kia.
  3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
    • Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thống nhất thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng và tiêu chuẩn xác định mức cấp dưỡng.
    • Xây dựng quy trình nghiệp vụ lấy ý kiến trẻ em thân thiện, có sự tham gia của chuyên gia tâm lý và cán bộ bảo vệ trẻ em tại Tòa gia đình và người chưa thành niên.
    • Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự và UBND cấp xã trong việc cưỡng chế thi hành án giao con và nghĩa vụ cấp dưỡng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình:
    • Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các quan hệ hôn nhân nội địa, chưa mở rộng phân tích các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài (tranh chấp quyền nuôi con xuyên quốc gia, thẩm quyền tư pháp quốc tế).
    • Chưa đi sâu nghiên cứu chế tài xử lý vi phạm hành chính và hình sự đối với các hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc bạo hành con sau ly hôn.
    • Khảo sát thực tiễn về chế độ tài sản theo thỏa thuận còn mang tính lý thuyết do loại hình thỏa thuận này tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu chưa phát sinh nhiều tranh chấp tại Tòa án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu cơ chế bảo vệ trẻ em trong các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
    • Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự đối với các phán quyết nhân thân (giao người chưa thành niên cho người được quyền nuôi dưỡng).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Nắm vững cấu trúc lý luận, phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và kỹ năng liên hệ thực tiễn trong chế định Hôn nhân và gia đình.
  • Cán bộ tư pháp, Luật sư, Thẩm phán: Tham khảo các lập luận pháp lý chuyên sâu về giải quyết tranh chấp quyền nuôi con, cơ chế hỏi ý kiến trẻ từ đủ 07 tuổi theo quy chuẩn tố tụng dân sự và định hướng phân chia tài sản chung bảo vệ quyền lợi người yếu thế.
  • Nhà nghiên cứu xây dựng chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn để rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong những trường hợp nào và tác giả chỉ ra bất cập gì về vấn đề này trong kỹ thuật mang thai hộ? Theo khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tác giả chỉ ra bất cập: trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đứa trẻ chỉ được xem là con chung của vợ chồng bên nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm sinh ra (Điều 94). Do đó, luật hiện hành chưa có điều khoản hạn chế quyền ly hôn của bên nhờ mang thai hộ khi người mang thai hộ đang mang thai, điều này đe dọa trực tiếp đến quyền lợi của thai nhi và người mang thai hộ.

2. Việc lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên khi giải quyết tranh chấp quyền nuôi con có phải là điều kiện bắt buộc Tòa án phải làm theo nguyện vọng của trẻ không? Không. Theo phân tích của tác giả dựa trên khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014, Giải đáp số 01/GD-TANDTC ngày 05/01/2018 và Điều 214, 217 BLTTDS năm 2015, việc lấy ý kiến chỉ mang tính chất tham khảo. Tòa án căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để phán quyết; trường hợp không lấy được ý kiến của trẻ thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử và giao con cho bên có điều kiện chăm sóc tốt hơn chứ không tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết vụ án.

3. Khóa luận chỉ ra bất cập gì trong nguyên tắc chia tài sản chung nhằm bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên? Mặc dù khoản 5 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên, nhưng luật thực định chỉ quy định tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân chia cho vợ và chồng chứ không chia cho con. Do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về tỷ lệ tài sản trích lại để nuôi con, trên thực tế Tòa án vẫn thường chia đôi (50/50) khối tài sản chung dù một bên gánh vác toàn bộ việc trực tiếp nuôi dưỡng các con.

4. Thứ tự chỉ định người giám hộ đương nhiên cho con chưa thành niên khi cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng được quy định như thế nào? Căn cứ khoản 4 Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014 và Điều 52 BLDS năm 2015, người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được xác định theo thứ tự ưu tiên: (1) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả (nếu không đủ điều kiện thì anh/chị tiếp theo); (2) Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; (3) Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột.

5. Vụ án hình sự nào được tác giả trích dẫn để chứng minh cho hệ quả tiêu cực của việc cản trở quyền thăm nom con sau ly hôn? Tác giả dẫn chứng vụ án hình sự Đoàn Minh Hải sát hại cả gia đình vợ cũ do bị ngăn cản, cấm đoán quyền thăm nom con sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật. Đây là minh chứng thực tiễn sâu sắc về sự thiếu hụt các chế tài bảo đảm thực thi quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng theo khoản 3 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đào Minh Phương là công trình nghiên cứu toàn diện, phản ánh đúng thực trạng pháp lý và thực tiễn thi hành chế định bảo vệ quyền, lợi ích của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014. Bằng phương pháp tiếp cận khoa học kết hợp so sánh lập pháp và đối chiếu thực tiễn xét xử, tác giả đã chỉ rõ những "lỗ hổng" pháp lý trong việc phân chia tài sản, cấp dưỡng và quyền thăm nom con. Các giải pháp và kiến nghị sửa đổi luật được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực bảo vệ quyền trẻ em trong bối cảnh cải cách tư pháp tại Việt Nam.