Tổng quan luận án

Công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội như một tất yếu khách quan. Biến đổi văn hóa tại các làng nghề không chỉ tác động đến cơ cấu tổ chức, diện mạo cảnh quan, quy trình sản xuất, mẫu mã, hình thức và chất lượng sản phẩm, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến phong tục tập quán và sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô trong tiến trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH).

Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định rõ yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng sự phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh đó, các làng nghề truyền thống giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, gia tăng thu nhập, giải quyết việc làm, giảm áp lực di dân tự do và chuẩn bị lực lượng lao động thích ứng với sản xuất công nghiệp, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: trong tổng số hơn 750 tài liệu nghiên cứu về Hà Nội, có hơn 100 công trình đề cập đến nghề, làng nghề và phố nghề từ trước năm 1986 đến nay. Tuy nhiên, phần lớn các công trình chỉ khảo sát biến đổi văn hóa làng nghề vùng châu thổ sông Hồng một cách khái quát, hoặc nghiên cứu riêng lẻ tại Hà Tây (cũ), Thái Bình mà chưa có công trình chuyên sâu, toàn diện về sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay, đặc biệt là vai trò chủ thể của cư dân làng nghề trong tiến trình biến đổi đó.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở hệ thống hóa các khái niệm cơ bản, tác giả phân tích và đánh giá thực trạng biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống tại Hà Nội thông qua hai trường hợp điển hình: làng dệt Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì) và làng gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh).

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu về văn hóa và biến đổi văn hóa làng nghề;
  2. Khảo sát thực trạng biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Triều Khúc, Thiết Úng và so sánh với một số làng nghề khác trên địa bàn Hà Nội;
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội.

Các câu hỏi nghiên cứu được luận án giải quyết:

  1. Văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay như thế nào?
  2. Vai trò của chủ thể văn hóa trong sự biến đổi đó ra sao?
  3. Vấn đề gì đặt ra đối với làng nghề truyền thống trước sự biến đổi hôm nay?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống thành phố Hà Nội qua khảo sát trường hợp làng Triều Khúc và làng Thiết Úng.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại hai địa bàn có tính chất không gian và lịch sử khác biệt. Làng Triều Khúc xưa sản xuất các sản phẩm phục vụ triều đình phong kiến, nay sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, nằm sát kinh thành Thăng Long xưa và hiện là làng ven đô. Làng Thiết Úng xưa sản xuất đồ dùng sinh hoạt và cung cấp thợ cho triều đình xây dựng lăng tẩm, đền đài, nay sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ và đồ thờ tự tâm linh, nằm ở vùng ngoại thành.
  • Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu từ năm 2000 đến thời điểm hoàn thành công trình, thời kỳ Việt Nam có mức tăng trưởng kinh tế cao và Hà Nội tiến hành mở rộng địa giới hành chính.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trước đây thành ba nhóm tài liệu chính:

Nhóm 1: Nghiên cứu về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề Hà Nội

  • Các nguồn thư tịch và địa chí cổ: Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép sự kiện năm 1230 nhà Trần mở rộng Thăng Long thành 61 phường và sự ra đời của làng gốm Bát Tràng, năm 1274 cho lập chợ phố buôn bán; Dư địa chí của Nguyễn Trãi miêu tả cảnh buôn bán tại 36 phường và các nghề thủ công như dệt lụa Hà Đông, dệt lụa phượng Thụy Chương, làm giấy dó Yên Thái, may võng lọng Hàng Trống.
  • Các công trình phương Tây thời kỳ thuộc địa (tổng hợp trong tuyển tập của Nguyễn Thừa Hỷ, 2010): Paul Bourde với bài viết Les industries indigènes trong tác phẩm De Paris au Tonkin (1884) ghi chép về chợ phiên Hà Nội và các phố Hàng Đồng, Hàng Tơ; Paul Bonnetain trong Au Tonkin mô tả kỹ thuật chế tác của thợ thủ công; Paul Doumer trong L’Indochine Française - souvenirs (1905) so sánh tay nghề thợ đúc đồng, kim hoàn, thêu ren Bắc Kỳ với thợ Nhật Bản, Trung Quốc; Henri Oger với công trình Introduction générale à l’étude de la technologie du peuple Annamite (1909); Paulin Vial trong Nos premières années au Tonkin ghi chép giai đoạn 1886 - 1887; Pierre Gourou với Le paysan du delta Tonkinois (1936) phân loại làng nghề và tính chất của thợ thủ công; B. Crapez trong Pour la compréhension de l’Indochine et de l’Occident.
  • Các nghiên cứu nhân học quốc tế: Scott C. James (1976) với The Moral Economy of the Peasant và Samuel L. Popkin (1979) với The Rational Peasant phân tích tính duy lý, duy tình và tính thụ động của người nông dân, thợ thủ công Bắc Bộ.
  • Các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam: Hoàng Trọng Phu với Những nghề thủ công truyền thống gia đình ở tỉnh Hà Đông (ghi nhận 15 nghề của làng Triều Khúc); Phan Gia Bền với Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam; Phan Đại Doãn trong Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - xã hội; Vũ Huy Phúc với Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945; Lưu Thị Tuyết Vân với Tiểu thủ công nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng (1954 - 1994); GS. Trần Quốc Vượng và PGS. Đỗ Thị Hảo với Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề, Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội; Dương Bá Phượng (2001) với Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Bùi Văn Vượng với Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam; các công trình của Lâm Bá Nam; GS. Trần Quốc Vượng với Hà Nội như tôi hiểu (2005); các công trình thuộc Chương trình KX.09 do Nguyễn Chí Bền, Võ Quang Trọng, Vũ Quốc Tuấn chủ biên; bộ Tổng tập Nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam do PGS.TS Trương Minh Hằng chủ biên (gồm 6 tập, tập 3 về nghề mộc và tập 5 về nghề dệt).

Nhóm 2: Nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề thời kỳ đổi mới

  • GS. Trần Quốc Vượng với Tổng quan về các làng nghề Hà Nội (công trình nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề sớm nhất sau năm 1986); Trương Duy Bích (2005) với bài viết trên Tạp chí Văn hóa dân gian về sự chậm biến đổi kỹ thuật và các hệ lụy ô nhiễm môi trường; Nguyễn Thị Phương Châm (2009) với công trình Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (khảo sát Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng); Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận về tạo việc làm qua làng nghề; đề tài cấp bộ do Lê Hồng Lý chủ biên; Nguyễn Đình Phan về phát triển môi trường kinh doanh làng nghề; Ngô Văn Giá (2007) về biến đổi giá trị văn hóa ven đô; Nguyễn Thanh Hương (2000) về làng nghề Sơn Đồng; Bùi Xuân Đính (2009) về làng nghề huyện Thanh Oai; Phùng Hữu Phú (chủ biên) về phát huy tiềm lực Hà Nội đến năm 2020; Nguyễn Thừa Hỷ (2010) về kinh tế - xã hội Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XIX; Nguyễn Lang về thủ công nghiệp và công nghiệp; luận án tiến sĩ của Vũ Diệu Trung (2013) về biến đổi văn hóa làng nghề châu thổ sông Hồng (Sơn Đồng, Bát Tràng, Đồng Xâm); nghiên cứu của học giả nước ngoài như luận án của Iwai Misaki (Đại học Hitotsubashi) về làng Trang Liệt, Papin Philippe và Olivier Tessier về làng xã châu thổ sông Hồng; các đề án bảo tồn làng nghề của UBND thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020 (Quyết định số 52/2010/QĐ-UBND và Quyết định số 7430/QĐ-UBND).

Nhóm 3: Các tài liệu khảo sát trực tiếp tại Triều Khúc và Thiết Úng

  • Làng Triều Khúc: Bài viết của Trần Quỳnh (1976) trên Báo Tiểu thủ công nghiệp về nghề dệt quai thao; Ngô Đức Thịnh trong Tình hình hiện nay của vùng Đông Nam Á; Lâm Bá Nam về nghề dệt cổ truyền; luận văn thạc sĩ của Phạm Hùng Thoan về các vũ điệu hội làng Triều Khúc; các bài viết của Anh Thư, Nhật Linh (2012), Phạm Nga (2012) về môi trường, Nghĩa Lê (2012) về Hợp tác xã dệt công nghiệp Triều Khúc.
  • Làng Thiết Úng: Công trình của Chu Quang Trứ và Đỗ Thiên Du về chạm gỗ Thiết Úng; các bài viết trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2006); sách của Sở Công Thương Hà Nội; bài viết của Hồng Quý (2009), Việt Nga (2011); cuốn Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Vân Hà (1930 - 2010) (2012).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án không dừng lại ở góc độ khảo tả kỹ thuật hay thuần túy kinh tế học, mà tập trung phân tích văn hóa làng nghề dưới góc nhìn văn hóa học, làm rõ sự biến đổi đồng bộ trên cả ba phương diện: văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức cộng đồng và văn hóa tinh thần, đồng thời khẳng định vai trò chủ động, sáng tạo của người thợ thủ công nhằm phản biện lại nhận định về tính thụ động, trì trệ của thợ thủ công nông thôn trong một số nghiên cứu trước đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết Triết học Mác - Lênin: Luận án vận dụng nguyên lý chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Khi phương thức sản xuất và lực lượng sản xuất biến đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi của nhận thức, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức và văn hóa. Người thợ thủ công được xác định vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là bộ phận cơ bản của lực lượng sản xuất, vừa là sản phẩm của văn hóa làng nghề.
  • Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa: Xác định văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người về công cụ sinh hoạt (ăn, mặc, ở) và phương thức sử dụng nhằm thích ứng với nhu cầu sinh tồn.
  • Lý thuyết văn hóa học của A.A. Radughin: Tiếp cận văn hóa sản xuất vật chất từ góc độ hoàn thiện nhân văn, nhân đạo, thẩm mỹ và sinh thái, bao gồm văn hóa công nghệ sản xuất, văn hóa quản lý, tổ chức, điều kiện lao động và văn hóa phân phối, trao đổi sản phẩm.
  • Các lý thuyết về biến đổi văn hóa: Hệ thống hóa quan điểm của thuyết tiến hóa luận (E.B. Tylor, L.H. Morgan), thuyết truyền bá luận (F. Ratzel), thuyết chức năng (Radcliffe-Brown, Malinowski), thuyết sinh thái văn hóa (Julian Steward), cùng các định nghĩa biến đổi văn hóa của Robert H. Winthrop và Nguyễn Thị Phương Châm.
  • Khung khái niệm và cấu trúc do tác giả xác lập:
    • Làng nghề: Là làng làm một hoặc một số nghề thủ công như một sinh kế hay một phần sinh kế.
    • Văn hóa làng nghề: Dạng đặc thù của văn hóa làng nói chung với việc sản xuất, sinh sống bằng một hay một số nghề thủ công nghiệp.
    • Văn hóa làng nghề truyền thống: Kiểu văn hóa làng nghề được quy định bởi việc sản xuất, buôn bán và sinh sống bằng nghề thủ công truyền thống của làng được lưu truyền qua lịch sử.
    • Cấu trúc 3 thành tố: Văn hóa vật chất, Văn hóa tổ chức cộng đồng và Văn hóa tinh thần.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp liên ngành và đa ngành: Kết hợp tri thức của văn hóa học, nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học và sử học.
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Khai thác văn bản lịch sử, hương ước, địa chí và các báo cáo thống kê chuyên ngành.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát định lượng và định tính thông qua bảng hỏi anket và phỏng vấn sâu.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý các chỉ số thực địa và so sánh đối chiếu giữa hai địa bàn khảo sát.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, chuyên gia làng nghề và nghệ nhân cao tuổi.
  • Thao tác thực địa: Điền dã dân tộc học, quan sát tham dự vào đời sống sinh hoạt, sản xuất, lễ hội; kết hợp ghi âm, chụp ảnh, ghi hình các khâu kỹ thuật, không gian xưởng thợ và di tích lịch sử.

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát

  • Dữ liệu định lượng: 145 bảng hỏi anket tại làng Triều Khúc và 182 bảng hỏi anket tại làng Thiết Úng (tổng cộng 327 bảng hỏi).
  • Dữ liệu định tính: 20 cuộc phỏng vấn sâu đối với thợ thủ công, nghệ nhân và cán bộ, nhân viên Ủy ban nhân dân xã Tân Triều và xã Vân Hà theo 5 nội dung biến đổi văn hóa.
  • Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật, đề án phát triển làng nghề của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, tài liệu lưu trữ của chính quyền địa phương hai xã.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến làng nghề Hà Nội, biến đổi văn hóa làng nghề trong thời kỳ đổi mới và các tài liệu chuyên biệt về Triều Khúc, Thiết Úng. Tác giả phân tích các hệ thống lý thuyết nền tảng (triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý thuyết văn hóa học của Radughin, các trường phái nhân học về biến đổi văn hóa), làm rõ khái niệm làng nghề, văn hóa làng nghề truyền thống và xác lập cấu trúc phân tích gồm ba thành tố: văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức cộng đồng và văn hóa tinh thần.

Chương 2: Khái lược về làng nghề Hà Nội, làng nghề Triều Khúc, Thiết Úng và các nhân tố tác động đến sự biến đổi văn hoá làng nghề

Chương này khái quát điều kiện tự nhiên, địa lý (tọa độ 105°87' Đ, 21°5' B; nhiệt độ trung bình 23 - 24°C; khí hậu nhiệt đới gió mùa), lịch sử và kinh tế của Hà Nội. Tác giả chỉ ra lịch sử hình thành các phường nghề từ thời Lý, Trần (61 phường) đến thời Lê (36 phường) và xác lập 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa làng nghề Hà Nội: (1) Tính phong phú và đa dạng; (2) Tính tinh hoa, tinh xảo; (3) Tính tích hợp, giao thoa và tỏa sáng; (4) Tính gắn kết đô thị, thị trường; (5) Tính tiếp biến văn hóa linh hoạt.

Về hai trường hợp nghiên cứu:

  • Làng Triều Khúc (Thanh Trì): Nghề dệt phát triển từ thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII được cụ Vũ Úy đi sứ tiếp thu nghề dệt thao về truyền dạy cho dân làng; sản phẩm mở rộng từ quai thao sang dệt the, dệt phù hiệu, quân hàm, dây mũ kêpi phục vụ lực lượng vũ trang và xã hội; bên cạnh đó là nghề thu gom phế liệu, tái chế lông gà lông vịt, nhựa với sự hình thành Cụm công nghiệp Tân Triều.
  • Làng Thiết Úng (Đông Anh): Nghề chạm khắc gỗ cổ truyền có tay nghề cao, cung cấp thợ xây dựng kinh thành; thợ Đào Đình Cẩn mang nghề vào Lái Thiêu (Bình Dương) và được tôn làm tổ nghề mộc tại đây; các họ tộc lớn như họ Đỗ, họ Đồng duy trì bí quyết chạm khắc tượng, đồ thờ; doanh thu từ đồ gỗ năm 2008 chiếm 70% tổng doanh thu toàn xã Vân Hà.

Các nhân tố tác động đến sự biến đổi bao gồm: chuyển đổi sang kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa, CNH, HĐH nông thôn, hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách quản lý nhà nước về phát triển tiểu thủ công nghiệp.

Chương 3: Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Triều Khúc và Thiết Úng

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực địa thông qua hệ thống bảng biểu số liệu, phản ánh sự biến đổi trên ba lĩnh vực văn hóa:

  1. Biến đổi văn hóa vật chất và cảnh quan môi trường: Quy trình công nghệ chuyển đổi mạnh từ công cụ thủ công sang máy móc cơ khí, máy dệt tự động, máy đục CNC. Không gian làng nghề chuyển đổi từ xưởng sản xuất gia đình sang cơ sở tập trung, tuy nhiên tình trạng sản xuất xen cài khu dân cư vẫn phổ biến. Môi trường tại Triều Khúc ô nhiễm nghiêm trọng về tiếng ồn dệt vải và nước thải rửa lông gia cầm; tại Thiết Úng ô nhiễm bụi gỗ, mùi sơn hóa học dẫn đến tỷ lệ trẻ dưới 4 tuổi mắc bệnh đường hô hấp từ 90% đến 95%.
  2. Biến đổi văn hóa tổ chức cộng đồng: Chuyển biến từ phường hội truyền thống mang tính huyết thống khép kín sang các mô hình Hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và các hội nghề nghiệp mở rộng; quan hệ bạn hàng chuyển từ phương thức nợ gối đầu, thỏa thuận miệng sang hợp đồng kinh tế và thanh toán trực tiếp; phương thức truyền nghề phá vỡ tính cục bộ gia tộc, mở rộng đào tạo cho người ngoài dòng họ và lao động ngoại tỉnh.
  3. Biến đổi văn hóa tinh thần: Lễ hội làng và tục thờ thành hoàng làng, tổ nghề (Phùng Hưng và Vũ Úy tại Triều Khúc) tiếp tục được duy trì, các điệu múa cờ, múa bồng được bảo lưu; chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chịu tác động của cơ chế thị trường, xuất hiện hiện tượng cạnh tranh gay gắt, làm hàng kém chất lượng nhưng nhìn chung ý thức giữ gìn uy tín thương hiệu vẫn được cộng đồng đề cao.
Ký hiệu bảng trong luận án Tên bảng biểu khảo sát Trang trong luận án Nội dung số liệu phản ánh
Bảng 3.1 Địa điểm sản xuất của thợ thủ công Tr. 86 Phân bố không gian sản xuất (tại nhà, xưởng riêng, cụm công nghiệp)
Bảng 3.2 Đánh giá về cảnh quan làng nghề Tr. 90 Nhận thức của người dân về diện mạo, mức độ ô nhiễm môi trường
Bảng 3.3 Đánh giá các mối quan hệ gia đình, dòng họ Tr. 95 Mức độ gắn kết gia tộc và vai trò hỗ trợ vốn, kỹ thuật
Bảng 3.4 Hình thức giao dịch trong quan hệ bán hàng Tr. 95 Tỷ lệ phương thức mua bán truyền thống và hiện đại
Bảng 3.5 Đối tượng truyền nghề Tr. 105 Phạm vi truyền nghề theo dòng họ hoặc người ngoài
Bảng 3.6 Nhóm đối tượng được gia đình truyền nghề Tr. 105 Cơ cấu truyền dạy cho con trai, con dâu, con gái, con rể
Bảng 3.7 Đánh giá việc duy trì tín ngưỡng lễ hội Tr. 110 Tần suất và mức độ tham gia tế lễ, hội làng, cúng tổ nghề
Bảng 3.8 Đánh giá vấn đề đạo đức trong quan hệ bạn hàng Tr. 119 Nhận định về chữ tín, hiện tượng tranh mua tranh bán, làm ẩu

Chương 4: Một số vấn đề cần bàn luận và các nhóm giải pháp bảo tồn, phát huy văn hóa làng nghề truyền thống

Chương 4 thảo luận các vấn đề mang tính quy luật và mâu thuẫn nảy sinh: mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế nhanh và ô nhiễm môi trường sinh thái; sự xung đột giữa bảo lưu bí quyết gia truyền và nhu cầu đào tạo mở rộng quy mô sản xuất; tác động của kinh tế thị trường đến các giá trị đạo đức truyền thống.

Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Nhóm giải pháp quy hoạch không gian và xử lý môi trường: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm vào các cụm công nghiệp làng nghề tập trung (như Cụm công nghiệp Tân Triều, Vân Hà), tách biệt khu sản xuất khỏi khu dân cư, đầu tư hệ thống xử lý nước thải, bụi và tiếng ồn.
  2. Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách và tài chính: Hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề.
  3. Nhóm giải pháp bảo tồn tri thức và tôn vinh nghệ nhân: Xây dựng chính sách đãi ngộ, trợ cấp hàng tháng cho nghệ nhân cao tuổi để ghi nhận cống hiến và khuyến khích truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ.
  4. Nhóm giải pháp phát triển du lịch làng nghề: Kết hợp bảo tồn di tích kiến trúc, lễ hội dân gian với việc hình thành các tour du lịch trải nghiệm quy trình sản xuất thủ công, nâng cao thu nhập cho cư dân.
  5. Nhóm giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng: Tuyên truyền giáo dục đạo đức kinh doanh, giữ gìn chữ tín, bài trừ tệ nạn tranh mua tranh bán, nâng cao trách nhiệm xã hội của thợ thủ công đối với việc bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về văn hóa làng nghề truyền thống trong bối cảnh CNH, HĐH và đô thị hóa tại một đô thị đặc thù như Thủ đô Hà Nội.
  • Phân tích và khẳng định vai trò chủ thể của người thợ thủ công: họ không thụ động trước những biến đổi xã hội mà chủ động tiếp thu khoa học kỹ thuật, chuyển đổi công nghệ, đổi mới mẫu mã để thích ứng với cơ chế thị trường.
  • Cung cấp khung phân tích 3 thành tố (văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa tinh thần) làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành văn hóa học, nhân học và xã hội học.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phản ánh trung thực thực trạng biến đổi văn hóa tại hai làng nghề tiêu biểu của Hà Nội, cung cấp dữ liệu thực nghiệm về không gian sản xuất, cảnh quan môi trường, quan hệ dòng họ, phương thức truyền nghề và sinh hoạt lễ hội.
  • Cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền các cấp của thành phố Hà Nội trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế làng nghề gắn liền với bảo tồn di sản văn hóa.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ quy hoạch cụm công nghiệp, chính sách đãi ngộ nghệ nhân, bảo vệ môi trường đến phát triển du lịch làng nghề có tính khả thi trong thực tiễn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, phạm vi khảo sát thực địa của luận án chỉ tập trung vào 2 làng nghề đại diện là Triều Khúc (nghề dệt/phế liệu ven đô) và Thiết Úng (nghề chạm khắc gỗ ngoại thành), chưa thể bao quát hết toàn bộ 1.350 làng có nghề trên địa bàn toàn thành phố Hà Nội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát định lượng sang các loại hình làng nghề thủ công khác (gốm sứ, mây tre đan, khảm trai, đúc đồng, kim hoàn); nghiên cứu sâu hơn về tác động của thương mại điện tử, kinh tế số và chuỗi cung ứng toàn cầu đối với sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trong giai đoạn mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu trong các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học văn hóa, Xã hội học nông thôn, Lịch sử văn hóa Việt Nam và Kinh tế phát triển. Phần đáng tham khảo nhất là phương pháp tiếp cận liên ngành và hệ thống khái niệm, tiêu chí phân tích cấu trúc văn hóa làng nghề.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp luận cứ thực tiễn cho Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân các quận, huyện trong công tác quy hoạch làng nghề, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và giải quyết xung đột môi trường sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu văn hóa làng nghề truyền thống theo luận án gồm những thành tố nào?

Cơ cấu văn hóa làng nghề truyền thống gồm 3 thành tố:

  1. Văn hóa vật chất: Không gian làng nghề, công cụ, nguyên liệu, quy trình kỹ thuật chế tác, nhà xưởng, di tích thờ tổ nghề và sản phẩm thủ công.
  2. Văn hóa tổ chức cộng đồng: Thiết chế quản lý làng xã, quan hệ phường thợ, quan hệ gia đình - dòng họ, quan hệ bạn hàng và phương thức truyền nghề.
  3. Văn hóa tinh thần: Tri thức dân gian, phong tục tập quán, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, thờ Tổ nghề, lễ hội truyền thống và đạo đức nghề nghiệp.

2. Quy mô mẫu khảo sát thực địa của luận án được thực hiện như thế nào?

Quy mô khảo sát thực địa của luận án gồm:

  • Khảo sát bằng bảng hỏi anket: 145 phiếu tại làng Triều Khúc (xã Tân Triều, Thanh Trì) và 182 phiếu tại làng Thiết Úng (xã Vân Hà, Đông Anh), tổng số 327 phiếu.
  • Phỏng vấn sâu: 20 phiếu phỏng vấn đối với thợ thủ công, nghệ nhân và cán bộ, nhân viên Ủy ban nhân dân xã Tân Triều và xã Vân Hà xoay quanh 5 nội dung biến đổi văn hóa.

3. Nhân vật lịch sử nào được ghi nhận có công truyền nghề dệt thao cho làng Triều Khúc?

Theo tài liệu lịch sử và truyền thuyết dân gian được luận án dẫn dụng, cụ Vũ Úy (sống vào thời vua Lê Hiển Tông, 1740 - 1786) trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc đã học được nghề dệt thao, sau đó trở về truyền dạy lại cho nhân dân làng Triều Khúc và các vùng lân cận.

4. Thực trạng ô nhiễm môi trường tại làng Triều Khúc và Thiết Úng được ghi nhận ra sao?

Tại làng Triều Khúc, ô nhiễm phát sinh từ tiếng ồn của khung cửi cơ khí và ô nhiễm nguồn nước do hoạt động giặt tẩy, rửa lông gà, lông vịt và tái chế nhựa. Tại làng Thiết Úng, hoạt động cưa đục, phun sơn hóa học trong khu dân cư gây ô nhiễm bụi gỗ và mùi hóa chất, khiến tỷ lệ trẻ sơ sinh đến 4 tuổi mắc bệnh về đường hô hấp chiếm từ 90% đến 95% dân số trong xã.

5. Luận án phản bác quan điểm nào của một số học giả nước ngoài về thợ thủ công Việt Nam?

Luận án phản bác quan điểm của một số học giả như Pierre Gourou, Scott C. James và Samuel L. Popkin khi cho rằng người nông dân và thợ thủ công Bắc Bộ có tính thụ động, trì trệ, chậm đổi mới. Dữ liệu thực tế cho thấy thợ thủ công Triều Khúc và Thiết Úng rất linh hoạt, năng động trong việc cải tiến công cụ sản xuất, ứng dụng công nghệ mới và đa dạng hóa sản phẩm theo tín hiệu thị trường.

Kết luận

Luận án "Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Hà Nội hiện nay (Qua trường hợp làng Triều Khúc và Thiết Úng)" là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Văn hóa học. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật lịch sử với các phương pháp điều tra liên ngành, công trình đã làm rõ diện mạo biến đổi của văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức cộng đồng và văn hóa tinh thần tại hai làng nghề tiêu biểu của Thủ đô. Các phân tích thực chứng và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang lại giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa làng nghề trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.