phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành 4 chương,. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Từ xưa đến nay Hà Nội được mệnh danh là vùng “đất trăm nghề”, các sản phẩm thủ công qua bàn tay người thợ tài hoa đã làm nên một nét riêng biệt, độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đó mang lại sức hấp dẫn, cuốn hút cho các nhà nghiên cứu trong nước và d nước ngoài từ nhiều thế kỷ trước.
lịch sử, các công trình, sách, vở, bài viết của các tác giả về nghề, làng nghề rất phong phú, đa dạng. Riêng bài viết về văn hóa làng nghề và biến đổi văn hóa làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong thời gian từ khi đổi mới đến nay đã được các tác giả dành một vị trí nhất định để có những phân tích mang tính cụ thể hơn cùng với sự đổi thay và phát triển của xã hội. Công trình nghiên cứu về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề, biến đổi văn hóa làng nghề Hà Nội hơn 100 tài liệu, nhưng cũng đặt ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu những vấn đề trên, đặc biệt là trong điều kiện đổi mới hiện nay. Nghiên cứu về tài liệu, công trình khoa học trên, NCS kế thừa và tiếp thu những kiến thức quý giá mà các học giả đã dày công tìm hiểu.
Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu của các tác giả, những nội dung đã được trình bày, NCS chia làm 3 nhóm tài liệu có liên quan đến luận án: 1. Nghiên cứu về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề Hà Nội Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thời nhà Trần, vào năm 1230, kinh đô Thăng Long được mở rộng thêm, khu vực người dân ở được chia thành 61 phường. Một số làng ven đô đã hình thành các làng thủ công, trong đó có làng gốm Bát Tràng. Đến năm 1274, có khá nhiều thương nhân đến buôn bán và được nhà Trần cho mở chợ, lập phố buôn bán.
Chính sách trên của nhà Trần đã tạo cơ hội cho các nghề thủ công có điều kiện thuận lợi để trao đổi và mua bán hàng hóa [43]. 10 , cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết, dân cư ở 36 phường làm ăn, buôn bán nhộn nhịp, đặc biệt là những phường thủ công. Trong 36 phường đó, thợ thủ công và nhà buôn chia nhau ở các phường tùy theo tính chất nghề nghiệp cụ thể. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi viết về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, sản vật, nghề thủ công, trong đó có nghề dệt lụa ở Hà Đông, nghề dệt vải lụa phượng ở Thụy Chương, nghề làm giấy dó ở Yên Thái, nghề làm võng lọng, áo giáp, gấm triều ở phường Tàng Kiếm (Hàng Trống).
Tuyển tập tư liệu phương Tây là một cuốn sách được Nguyễn Thừa Hỷ tổng hợp. Mặc dù những tư liệu trong tuyển tập , nhưng đây là nguồn tư liệu có thể tham khảo cho nhiều nhà nghiên cứu sau này [35]. Với NCS, khi nghiên cứu về làng nghề thủ công truyền thống cũng đã kế thừa và tham khảo được một số bài viết trong cuốn sách, đó là: Paul Bourde - phóng viên tờ “Le tempt” viết về chợ phố Hà Nội năm 1884 trong chương XII với tựa đề Les industries indig e (Các ngành kỹ nghệ bản xứ) trong cuốn sách De Paris au Tonkin (Từ Paris đến Bắc Kỳ). Với cái nhìn khá toàn diện, Paul Bourde viết khá kỹ về các chợ phiên tại Hà Nội, về những người thợ thủ công ở các vùng lân cận mang các sản phẩm mỹ nghệ thủ công vào các phố chuyên bán từng mặt hàng, như phố Hàng Đồng chuyên bán cuốc xẻng, đồ đồng; phố Hàng Tơ (Hàng Đào) chuyên bán đồ tơ lụa.
Tác giả đánh giá nghệ thuật chạm khắc của người dân Bắc Kỳ vào loại tài nghệ độc đáo qua các tác phẩm chạm khắc ở chùa Khổ Hình (Hà Nội) [35]. Là bạn của Paul Bourde, Paul Bonnetain - với tư cách là phóng viên báo “Le Figaro” có thời gian ở Hà Nội lâu hơn Paul Bourde, khi về Pháp, Paul Bonnetain ập hợp các bài ông đã viết về Hà Nội, về Bắc Kỳ và tổng hợp lại trong cuốn Au Tonkin (Ở Bắc Kỳ). Trong chương XI, XII của tập 2, Paul Bonnetain có viết về khu phố buôn bán, nghệ thuật của người An Nam ở Hà Nội. Tác giả mô tả sự kiên nhẫn, tỷ mỷ của những người thợ thủ công với sự kiên trì, miệt mài và khéo léo để làm ra nhiều sản phẩm đẹp đẽ mà không cần đo 11 vẽ.
Nhưng ông cũng cho rằng, các sản phẩm thủ công được lưu truyền từ đời cha đến đời con này phải có sự thay đổi, không nên cứ dập khuôn mãi theo mẫu mã đã có sẵn từ trước được. Theo ông, có như vậy mới khuyến khích được tính sáng tạo của người thợ [35]. Paul Doumer - toàn quyền Đông Dương (1897 - 1902) trong nhiệm kỳ làm việc của mình, đã huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư, kiện toàn cơ sở hạ tầng kỹ thuật để xây dựng Hà Nội thành một thành phố Âu hóa, đáng kể là mạng lưới xe lửa và cây cầu Doumer (cầu Long Biên). Sau khi hết nhiệm kỳ làm việc, Paul Doumer về Pháp, năm 1905 ông viết và được Nhà xuất bản Vuibert & Nony ấn hành ở Paris cuốn L’Indochine Francaise - souvenirs (Xứ đông Pháp - Những kỷ niệm).
Trong cuốn sách có nhiều trích đoạn Paul Doumer viết về các phố nghề Hà Nội, về mỹ nghệ thủ công. Nhiều đoạn viết trong cuốn sách được ông miêu tả khá kỹ về những người thợ đúc đồng, thợ kim hoàn, thợ thêu, thợ chạm khắc… Bắc Kỳ khéo léo, cần cù, chăm chỉ, có nghệ thuật thẩm mỹ cao. Paul Doumer cho rằng những sản phẩm thêu của người thợ Bắc Kỳ tốt và cẩn thận hơn những sản phẩm thêu của người Nhật Bản và Trung Quốc. Đặc biệt, Paul Doumer còn có sự so sánh về những sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của người An Nam, trong đó ông nhận định rằng những người thợ khảm xà cừ An Nam, nhiều người thợ giỏi hầu hết ở Hà Nội và Nam Định [35].
ách Introduction générale à l’étude de la technologie du peuple Annamite. Essai sur la vie matériele, les arts et les industries du peupele Annamite (Nhập môn nghiên cứu kỹ thuật của người An Nam. Tiểu luận về đời sống vật chất, mỹ nghệ kỹ nghệ của dân tộc An Nam) (1909) của Henri Oger. Mặc dù được điều từ Pháp sang Việt Nam để làm việc cho chính quyền Pháp, nhưng Henri Oger đã say mê và có những nghiên cứu khá sâu về nền văn hóa truyền thống của người Việt Nam, về nghề thủ công truyền thống của nhân dân Hà Nội.
Henri Oger đã cùng một số thợ chạm khắc gỗ Việt Nam đi khắp 36 phố phường Hà Nội, ra cả vùng ngoại thành để phác họa hình ảnh đời sống của người dân Hà thành. Trong , Henri Oger đã 12 phản ánh rõ nét và sinh động mọi mặt của đời sống văn hóa người dân Hà Nội hơn 100 năm trước [35]. Bài Hà Nội những năm 1886 - 1887 Paulin Vial được in trong cuốn hồi ký Nos premières annés au Tonkin (Những năm đầu tiên của chúng tôi ở Bắc Kỳ) khá sâu sắc khi ông nghĩ đến một kế hoạch: Sửa sang lại đường phố Hà Nội cho thẳng hàng, trong sạch, thoáng khí và sáng sủa mà không phá hủy đi những di tích thú vị nhất của quá khứ, không dồn ra xa đám dân chúng làm nghề thủ công và buôn bán, đã làm nên sự giàu có của thành phố [35, tr. Paulin Vial có những tìm hiểu khá kỹ các ngành nghề, phố nghề Hà Nội, ông viết trong hồi ký của mình về sự khéo léo, kiên trì và một nghệ thuật không thể bắt chước được của những người thợ thủ công ở các làng nghề khảm, thêu, đúc đồng, mộc, rèn như sau: Thật không thể tưởng tượng được rằng người ta lại có thể làm được nhiều đồ vật xinh đẹp đến như thế mà lại bằng những phương tiện hết sức thô sơ [35, tr.
Nghiên c Le paysan du delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ) của Piere Gourou (1936), ngoài việc phân loại các làng ở châu thổ các ngành nghề truyền thống của người dân châu thổ Bắc Kỳ, tính thụ động của họ và một số nghề mới được du nhập từ phương Tây sang. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã sử dụng cuốn sách của Piere Gourou làm nguồn tài liệu tham khảo không thể thiếu cho nhiều bài viết, công trình khoa học [78]. Bài thuyết trình Hà Nội thời người Bồ Đào Nha và Hà Lan - Section des Amis du Vieux Ha Noi), sau đó được chỉnh lý và in trong chương XII cuốn sách Pour le comprehension de l’Indochine et de l’Occident (Để tìm hiểu Đông Dương và phương Tây) đã dẫn lại nhận xét của Paul Bourde về khu phố buôn bán ở Hà Nội vào những ngày chợ phiên vô cùng náo nhiệt: 13 Những thương nhân và thợ thủ công đủ mọi loại đến từ các [35, tr. Nghiên cứu về người nông dân Bắc Bộ nói riêng (trong đó có thợ thủ công) và Đông Nam Á nói chung còn có hai nhà nhân học là Scotte C.
Jame và Samuel L. Popkin đã dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu về tính duy lý hay duy tình của người nông dân Việt Nam. Jame xuất bản cuốn The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia (Kinh tế đạo lý của nông dân: nổi dậy và sinh tồn ở Đông Nam Á) [140]. Sau đó 3 năm, vào năm 1979 Samuel L.
Popkin giới thiệu đến bạn đọc cuốn: The Rational Peasant: The Political Economy of Rural Society in Vietnam (Người nông dân hợp lý - Kinh tế học chính trị về xã hội nông thôn Việt Nam) [139]. Đây là hai nhà nhân học đầu tiên khởi xướng nghiên cứu về tính duy lý hay duy tình của người nông dân Việt Nam. Trong công trình của mình, hai ông nói về tính thụ động của người nông dân Bắc Bộ còn chậm chạp trước những đổi thay của xã hội, trong đó có nói đến tính trì trệ thụ động của người thợ thủ công ). Sách Những nghề thủ công truyền thống gia đình ở tỉnh Hà Đông của Hoàng Trọng Phu không đi sâu vào từng nghề, mỗi nghề chỉ giới thiệu rất khái quát, ngắn gọn, nhưng đã hệ thống được các nghề thủ công tỉnh Hà Đông.
Đặc biệt, riêng về nghề thủ công ở làng Triều Khúc, Hoàng Trọng Phu giới thiệu 15 nghề chính của làng, trong đó có nói đến nghề dệt thao đã được dân làng không ngừng giữ gìn, sáng tạo và trao truyền cho các thế hệ con cháu.