Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Văn hóa làng nghề Làng lụa Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội" do sinh viên Nguyễn Hồng Ngọc (Mã sinh viên: 2005VTTA032, Lớp Văn hóa truyền thông 20A, Khóa 2020 – 2024) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Thu Phượng tại Khoa Quản lý xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia (bảo vệ tháng 04 năm 2024).
Đề tài được xây dựng trên bối cảnh Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh chủ trương bảo tồn, phát triển nghề và làng nghề truyền thống nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới. Làng lụa Vạn Phúc (phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội) là làng nghề dệt lụa tơ tằm cổ truyền có lịch sử hình thành hơn 1.200 năm, từng nổi tiếng với các sản phẩm cung tiến triều đình và vươn tầm thế giới qua các hội chợ quốc tế đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, trước áp lực của quá trình đô thị hóa mạnh mẽ tại quận Hà Đông, sự biến đổi thị hiếu tiêu dùng và làn sóng công nghệ mới, làng nghề lụa Vạn Phúc đang đứng trước nhiều thách thức về duy trì quy trình sản xuất thủ công, nguồn nguyên liệu tự nhiên và công tác truyền thông quảng bá di sản.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là nghiên cứu sâu về văn hóa làng nghề nhằm bảo tồn, giữ gìn, tái hiện và phát huy bản sắc các giá trị văn hóa truyền thống của Làng lụa Vạn Phúc, gắn kết việc bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch địa phương và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa làng nghề, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề.
- Phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa làng nghề và công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tại Làng lụa Vạn Phúc giai đoạn 2018 – đầu năm 2024.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm bảo tồn và phát huy bền vững giá trị văn hóa làng nghề Làng lụa Vạn Phúc trong bối cảnh hiện đại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa làng nghề Làng lụa Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Địa bàn làng nghề lụa Vạn Phúc, phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng văn hóa và hoạt động sản xuất, bảo tồn của làng nghề từ năm 2018 đến đầu năm 2024.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 3 nhóm vấn đề: lý luận về văn hóa làng nghề; thực trạng văn hóa và hoạt động bảo tồn - phát huy tại làng lụa Vạn Phúc; các giải pháp định hướng bảo tồn gắn với kinh tế, du lịch và truyền thông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm nền tảng từ nhiều nguồn nghiên cứu lý luận văn hóa và văn bản pháp quy hiện hành:
- Khái niệm văn hóa: Tác giả đối chiếu định nghĩa văn hóa theo tiếng Latinh (Cultura), định nghĩa trong Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1998), quan điểm của PGS.TSKH. Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo qua thực tiễn tương tác với môi trường), và định nghĩa của UNESCO (2002). Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa thao tác: Văn hóa là tổng hợp của các giá trị vật chất và tinh thần trong quá trình khai thác, tìm kiếm và phát triển lịch sử.
- Khái niệm làng nghề: Được xem xét dưới góc độ từ điển (Hoàng Phê, 2004), góc độ hành chính - văn hóa và quy định pháp lý tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/04/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.
- Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề: Phân tích mối quan hệ hữu cơ, hai chiều giữa "bảo tồn" (giữ gìn nguyên dạng các giá trị cốt lõi) và "phát huy" (khai thác, làm lan tỏa giá trị nhằm phục vụ đời sống đương đại và tạo nguồn lực tái bảo tồn) theo nghiên cứu của Lê Thị Thu Nga (2020), Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 07/07/2022 phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030, Thông tư số 05/2022/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và Luật Di sản văn hóa 2013 (Điều 11, Điều 12).
- Hệ thống yếu tố tác động: Khóa luận phân loại thành hai nhóm nhân tố: tác động bên ngoài (toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, truyền thông số, điều ước quốc tế) và tác động bên trong (sự chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp cổ truyền sang công nghiệp hóa - đô thị hóa, nhận thức và tay nghề của nghệ nhân, sự biến đổi cấu trúc lao động làng nghề).
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa trong xây dựng xã hội, cùng hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa làng nghề.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thu thập, kiểm tra, chuẩn hóa và xử lý các nguồn dữ liệu thứ cấp từ tài liệu lịch sử, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ (của Nguyễn Thị Minh Châu, Trần Văn Tuấn, Nguyễn Thị Hà...) và văn bản quản lý nhà nước để đánh giá tổng quan bối cảnh nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu phỏng vấn, khảo sát ý kiến cộng đồng dân cư, thợ dệt, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh và các chuyên gia văn hóa tại địa bàn phường Vạn Phúc; kết hợp phương pháp quan sát trực tiếp quy trình sản xuất và sinh hoạt lễ hội.
- Phương pháp chuyên gia: Tổng hợp, phân tích ý kiến định hướng từ các nghệ nhân cao niên, nhà nghiên cứu văn hóa và cán bộ quản lý văn hóa địa phương qua các cuộc trao đổi chuyên sâu và hội thảo khoa học.
- Phương pháp thống kê: Thu thập và tổng hợp các số liệu kinh tế - xã hội, quy mô khung dệt, số hộ sản xuất, mật độ dân cư và số liệu môi trường để mô tả bức tranh thực trạng và rút ra các nhận định khoa học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về văn hoá làng nghề
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về văn hóa làng nghề, làm rõ vị trí của làng nghề trong cấu trúc văn hóa nông nghiệp cổ truyền Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh làng nghề vừa phản ánh tính tự cung tự cấp của làng quê truyền thống, vừa biểu hiện tính năng động, sáng tạo và mở cửa kinh tế của người nông dân khi thích ứng với điều kiện tự nhiên, xã hội.
Bên cạnh việc hệ thống hóa khái niệm và các yếu tố tác động, chương này dành dung lượng quan trọng phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ hai mô hình làng nghề tiêu biểu tại miền Bắc:
- Làng nghề bánh đa Kế (thành phố Bắc Giang): Kinh nghiệm thành công trong việc công khai trao truyền bí quyết làm nghề, thành lập hợp tác xã, mở lớp dạy nghề cho thế hệ trẻ và người dân các tỉnh lân cận (Hải Dương, Bắc Ninh); kết hợp mô hình du lịch trải nghiệm tại hộ gia đình; đẩy mạnh tuyên truyền qua Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Bắc Giang, các kênh truyền hình quốc gia (VTV3, VTC, VTV4) và nền tảng YouTube; tổ chức hội thi thợ giỏi (năm 2013 tôn vinh cụ Nguyễn Thị Bìa 90 tuổi và thợ giỏi Nguyễn Văn Thi).
- Làng nghề nón Chuông (xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội): Kinh nghiệm bảo tồn tri thức dân gian trong việc tạo hình nón thủ công từ lá dừa, lá ngô; đồng thời chỉ ra các hạn chế thực tế như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thu nhập thấp khiến lao động bỏ nghề, thiếu nhà truyền thống lưu giữ tư liệu và chưa phát huy được tiềm năng du lịch.
Từ hai trường hợp trên, tác giả đúc kết các bài học tham chiếu cho làng lụa Vạn Phúc: mở lớp truyền nghề dệt cho trẻ em trong làng, tổ chức các tour du lịch trải nghiệm chuyên nghiệp, đẩy mạnh tiếp thị số trên mạng xã hội, phối hợp với Sở Công Thương tổ chức hội thi tay nghề thợ giỏi và duy trì quy trình kỹ thuật dệt thủ công độc bản.
Chương 2: Thực trạng văn hóa làng nghề Làng lụa Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Chương 2 cung cấp bức tranh chi tiết về lịch sử, địa lý, xã hội và thực trạng văn hóa sản xuất của Làng lụa Vạn Phúc:
- Lịch sử và danh tiếng: Khởi nguồn từ thế kỷ VIII (thời Đinh – Tiền Lê), gắn liền với truyền thuyết bà tổ nghề A Lã Thị Nương (Lã Thị Nga) – người được tôn làm Thành hoàng làng sau khi mất năm 896. Làng có tên gốc là Vạn Bảo, đổi thành Vạn Phúc dưới triều Nguyễn. Lụa Vạn Phúc từng được chọn may quốc phục triều đình, tham gia đấu xảo quốc tế tại Marseille (1931), Paris (1932), xuất khẩu sang Đông Âu giai đoạn 1958 – 1988 và hiện diện tại hơn 30 quốc gia từ năm 1990. Năm 2010, nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh đã sáng tạo mẫu lụa Long Vân với đồ án lưỡng long chầu Khuê Văn Các cách điệu trong đóa sen.
- Điều kiện tự nhiên, xã hội: Làng nằm ven dòng sông Nhuệ, trên trục giao thông huyết mạch Tố Hữu, kết nối với Quốc lộ 6, đường Vành đai 3 và cao tốc Hà Nội – Hòa Lạc; nằm trong cụm du lịch làng nghề truyền thống cùng mây tre đan Phú Vinh, dệt the La Khê và di tích chùa Trầm, chùa Trăm Gian. Tính đến tháng 04/2019, dân số phường Vạn Phúc đạt 18.610 người (mật độ 12.834 người/km²).
| Tiêu chí |
Đặc điểm thực tế tại Làng lụa Vạn Phúc |
| Quy mô sản xuất |
Khoảng 400 hộ gia đình dệt lụa, 12 nghệ nhân; từng có khoảng 1.000 khung dệt (năm 2009). |
| Quy trình sản xuất chính |
4 bước: (1) Trồng dâu nuôi tằm; (2) Kéo kén lấy tơ; (3) Mắc cửi, chuẩn bị dệt; (4) Nấu tẩy, nhuộm vải và phơi sấy. |
| Các nghề phụ trợ |
Dệt gấm (gấm ngũ sắc, gấm thất thể), nhuộm màu thảo mộc tự nhiên (gỗ vang, củ nâu, lá bạch đàn), thêu đính kết, may đo gia công hoàn thiện. |
| Giá trị văn hóa - tín ngưỡng |
Thờ Thành hoàng làng, lễ hội cúng tổ nghề ngày 10/3 âm lịch; hoa văn biểu tượng dân tộc (rồng, phượng, hoa sen, sóng nước). |
Khóa luận phân tích thực trạng công tác bảo tồn thông qua các chủ trương quy hoạch của thành phố Hà Nội (Đề án tổng thể phát triển làng nghề 2024–2030, tầm nhìn 2050; Quyết định 1042/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 về quản lý môi trường làng nghề). Tuy nhiên, tác giả chỉ ra các hạn chế lớn:
- Thiếu kinh phí bảo tồn di sản và hỗ trợ không gian trưng bày truyền thống.
- Thị hiếu du khách thay đổi, sự cạnh tranh gay gắt từ các loại vải dệt công nghiệp giá rẻ.
- Hoạt động quảng bá ra thị trường quốc tế còn rời rạc; phương thức tiếp thị chủ yếu vẫn dựa vào truyền miệng và bán hàng trực tiếp.
- Kênh truyền thông số và mạng xã hội chưa được đầu tư bài bản.
- Sự suy giảm nghiêm trọng của diện tích trồng dâu nuôi tằm tự nhiên ven sông Nhuệ do áp lực đô thị hóa (các bãi dâu cũ dần bị chuyển đổi thành khu đô thị dọc đường Tố Hữu), khiến làng nghề phụ thuộc nguồn nguyên liệu tơ từ nơi khác.
Chương 3: Những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề Làng lụa Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, Chương 3 đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Xây dựng cơ chế, chính sách bảo tồn: Hoàn thiện quy hoạch bảo tồn không gian làng nghề, vận dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ vốn, thuế và mặt bằng theo Nghị định 52/2018/NĐ-CP và Đề án phát triển làng nghề của UBND TP. Hà Nội.
- Giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống: Khôi phục và bảo tồn các công đoạn dệt gấm thủ công, lưu giữ các hoa văn cổ; duy trì đều đặn các nghi lễ tín ngưỡng thờ tổ nghề và lễ hội truyền thống; tôn vinh, đãi ngộ nghệ nhân cao niên để truyền dạy bí quyết cho thế hệ kế cận.
- Phát triển văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội: Chuyển đổi mô hình sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang liên kết chuỗi giá trị; kết hợp hài hòa giữa cơ giới hóa các khâu nặng nhọc và giữ nguyên tính thủ công tinh xảo ở khâu dệt hoa văn, hoàn thiện sản phẩm.
- Phát triển du lịch cộng đồng, du lịch xanh: Xây dựng tour du lịch trải nghiệm dệt lụa, không gian trưng bày quy trình ươm tơ dệt vải; chỉnh trang cảnh quan cổng làng, hồ nước, giữ gìn vệ sinh môi trường lưu vực sông Nhuệ theo Quyết định 1042/QĐ-UBND nhằm tạo không gian sinh thái thu hút khách du lịch.
- Xây dựng kênh truyền thông và mạng xã hội: Ứng dụng công nghệ số để xây dựng website, fanpage, video quảng bá lịch sử, quy trình sản xuất và câu chuyện văn hóa của lụa Vạn Phúc đến khách hàng trong nước và du khách quốc tế; thay thế dần thói quen tiếp thị truyền thống "mạnh ai nấy làm".
- Tăng cường sự hỗ trợ từ cơ quan quản lý và cộng đồng: Phát huy vai trò định hướng của UBND quận Hà Đông, Sở Công Thương, Hiệp hội làng nghề dệt lụa Vạn Phúc; đẩy mạnh kiểm tra, kiểm soát chất lượng lụa trên thị trường để bảo vệ thương hiệu tập thể Vạn Phúc.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đạt được những kết quả cụ thể:
- Về mặt số liệu và tư liệu thực tiễn: Khóa luận ghi nhận bức tranh thực tế về làng lụa Vạn Phúc giai đoạn 2018 – 2024 với khoảng 400 hộ duy trì nghề dệt, 12 nghệ nhân nắm giữ kỹ thuật đỉnh cao, phục vụ cộng đồng dân cư 18.610 người. Tài liệu làm rõ sự chuyển đổi công nghệ dệt từ 1.000 khung dệt thủ công (năm 2009) sang máy dệt hỗ trợ đồ họa mẫu tự động, đồng thời chỉ ra nguy cơ mai một của nghề nhuộm thảo mộc tự nhiên và diện tích vùng dâu tằm truyền thống ven sông Nhuệ.
- Hệ thống hóa bài học kinh nghiệm: So sánh đối chiếu có hệ thống giữa mô hình bảo tồn của Làng bánh đa Kế (Bắc Giang) và Làng nón Chuông (Thanh Oai) để chắt lọc 4 bài học có khả năng ứng dụng trực tiếp tại Vạn Phúc.
- Đề xuất giải pháp mang tính ứng dụng: Xác lập 6 nhóm giải pháp liên hoàn, gắn kết chặt chẽ giữa chính sách nhà nước, công nghệ sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái sông Nhuệ, phát triển du lịch cộng đồng và chiến lược truyền thông đa phương tiện.
- Đóng góp học thuật: Đề tài góp phần bổ sung nguồn tư liệu thực địa cập nhật về văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội, cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên, giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa và Văn hóa truyền thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát trên địa bàn làng lụa Vạn Phúc (phường Vạn Phúc, quận Hà Đông) trong khung thời gian 2018 – đầu năm 2024; các số liệu khảo sát về hành vi tiêu dùng và chuỗi cung ứng nguyên liệu tơ tằm ngoại tỉnh chưa được đào sâu dưới góc độ kinh tế lượng hoặc phân tích chuỗi giá trị toàn cầu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động của thương mại điện tử xuyên biên giới đối với xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề; nghiên cứu giải pháp kỹ thuật sinh thái trong việc xử lý nước thải dệt nhuộm nhằm bảo vệ bền vững môi trường lưu vực sông Nhuệ; xây dựng chiến lược truyền thông tích hợp (IMC) số hóa di sản văn hóa làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên và giảng viên: Sinh viên các ngành Văn hóa truyền thông, Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Xã hội học và Du lịch có thể sử dụng khóa luận như tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận văn hóa làng nghề, cấu trúc một báo cáo khảo sát thực địa và cách vận dụng lý luận vào thực tiễn địa phương.
- Nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý: Cán bộ phụ trách văn hóa - thông tin, du lịch thuộc UBND quận Hà Đông, Sở Công Thương TP. Hà Nội, ban quản lý di tích và Hiệp hội làng nghề dệt lụa Vạn Phúc có thể tham khảo các đề xuất về cơ chế chính sách, giải pháp phát triển du lịch xanh và mô hình truyền thông số để xây dựng kế hoạch hành động cụ thể.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Quy trình 4 bước sản xuất lụa; phân tích chi tiết về các nghề phụ (dệt gấm, nhuộm thảo mộc); bài học tham chiếu từ Làng bánh đa Kế và Nón Chuông; hệ thống 6 nhóm giải pháp phát triển văn hóa gắn với kinh tế du lịch.
Câu hỏi thường gặp
1. Ai là vị tổ nghề dệt lụa được suy tôn làm Thành hoàng làng Vạn Phúc?
Theo truyền thuyết lịch sử ghi lại trong khóa luận, bà A Lã Thị Nương (còn gọi là Lã Thị Nga), phu nhân của thái thú Cao Biền thời kỳ thế kỷ IX, đã đến sinh sống tại trang Vạn Bảo, dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Khi bà mất vào năm 896, dân làng đã tôn bà làm Thành hoàng làng và lập đền thờ quanh năm hương khói.
2. Quy trình sản xuất lụa truyền thống tại Vạn Phúc gồm những công đoạn nào?
Quy trình sản xuất gồm 4 công đoạn chính:
- Bước 1: Trồng dâu nuôi tằm để lấy kén.
- Bước 2: Kéo kén lấy sợi tơ (trước đây làm thủ công, nay đã cơ giới hóa).
- Bước 3: Chuẩn bị dệt (mắc cửi, nối cửi, đưa tơ vào khung dệt tạo hoa văn; dệt 2-3 ngày được một ống lụa dài khoảng 45-50m).
- Bước 4: Nấu tẩy tạp chất, nhuộm màu tự nhiên hoặc phẩm nhuộm, giặt và phơi sấy hoàn thiện.
3. Sản phẩm lụa Vạn Phúc từng tham gia những sự kiện quốc tế tiêu biểu nào trong lịch sử?
Lụa Vạn Phúc lần đầu tiên được giới thiệu ra thế giới tại các hội chợ đấu xảo quốc tế ở Marseille (Pháp, năm 1931) và Paris (Pháp, năm 1932), được người Pháp đánh giá là sản phẩm tinh xảo bậc nhất xứ Đông Dương. Từ năm 1958 đến 1988, sản phẩm được xuất khẩu chủ yếu sang các nước Đông Âu, Liên Xô cũ; và từ năm 1990 đến nay đã xuất khẩu sang nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Thụy Điển.
4. Khóa luận rút ra bài học kinh nghiệm gì từ làng nghề bánh đa Kế và nón Chuông?
Khóa luận đúc kết bài học từ Bánh đa Kế về việc cởi mở mở lớp truyền nghề cho người trẻ, tổ chức du lịch trải nghiệm, truyền thông mạnh mẽ trên truyền hình/YouTube và tham gia hội thi thợ giỏi của Sở Công Thương. Từ Nón Chuông, tác giả rút ra bài học về tầm quan trọng của việc bảo tồn tri thức bản địa, kỹ thuật thủ công tỉ mỉ và yêu cầu cấp thiết phải có không gian nhà truyền thống lưu giữ tư liệu làng nghề.
5. Những khó khăn, hạn chế lớn nhất của làng lụa Vạn Phúc được tác giả chỉ ra là gì?
Khóa luận chỉ ra 5 hạn chế chính: thiếu kinh phí bảo tồn và duy trì di sản; thị hiếu tiêu dùng thay đổi; khó khăn trong việc tiếp cận và quảng bá với du khách quốc tế; hoạt động truyền thông và xây dựng kênh quảng bá trên mạng xã hội còn yếu; và sự suy giảm nguồn nguyên liệu dâu tằm tự nhiên ven sông Nhuệ do tác động của quá trình đô thị hóa.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hồng Ngọc đã hoàn thành tốt mục tiêu nghiên cứu khi hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa làng nghề và phản ánh chân thực bức tranh thực trạng tại Làng lụa Vạn Phúc trong giai đoạn 2018 – 2024. Công trình làm nổi bật các giá trị lịch sử, nghệ thuật dệt lụa và sự cố kết cộng đồng của một làng nghề nghìn năm tuổi, đồng thời chỉ rõ những nút thắt về nguyên liệu, thị trường và truyền thông dưới tác động của đô thị hóa. Hệ thống 6 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ và thực tế, cung cấp nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho công tác quản lý văn hóa, phát triển du lịch di sản và nghiên cứu làng nghề truyền thống tại Việt Nam.